TIÊU DAO BẢO CỰ

 

PHẦN II

 

NHỮNG HOÀI NIỆM VÀ NIỀM HỨNG KHỞI MỚI CỦA TỰ DO

 

Chương 26 đến 31

                  

 

 

 

 

26*   Trăng  Đầu Núi

Trăng Đầu Núi.  Đó là tên mới tôi đặt cho Sao Trên Rừng Nguyễn Đức Sơn. Anh là một nhân vật kỳ lạ nhất mà tôi đă từng gặp. Anh luôn là đề tài nói chuyện của bạn bè và những người quen biết khi họ có dịp nhắc đến anh. Tôi quen  biết anh đă hơn hai mươi năm qua khi anh và tôi cùng ở chung một thị trấn nhỏ. Thời đó tôi đă viết một truyện ngắn về anh mà bản thảo tôi vẫn c̣n cất giữ. Tôi viết trên cơ sở hiểu biết về anh và những ǵ do anh kể. Dĩ nhiên tôi viết về anh theo cách nh́n nhận của tôi.

***

"Thời học trung học, anh ở một thành phố biển. Anh nổi tiếng xuất sắc toàn trường về quốc văn và triết học. Những bài luận quốc văn của anh luôn được điểm  mười tám trên hai mươi. Ông thầy quốc văn của anh, một nhà văn lăo thành,  hết sức tán thưởng và khuyến khích anh nên theo đuổi nghiệp văn. Ông tiên đoán anh sẽ thành công rực rỡ trên lănh vực này. Thái độ của ông thầy làm anh phấn  khởi rất nhiều nhưng cũng đă tạo cho anh một thói xấu: Tính kiêu ngạo. Anh đọc rất nhiều và cố hết sức chống đối, phá đổ những ǵ anh đă đọc được, đặc biệt ư kiến của các nhà giáo về những tác gỉa có trong chương tŕnh quốc văn trung học. Buổi chiều anh thường đi miên man trên băi cát, xuyên qua những hàng dương vắng vẻ, cố gắng moi óc t́m kiếm những luận cứ mới mẻ, những ư nghĩ độc đáo mà anh cho không ai có thể nghĩ ra được. Anh lẩm nhẩm một ḿnh và nhiều khi nhảy cuồng lên la hét như một thằng điên lúc khám phá ra một chân lư hay giải quyết được nghi vấn đă không ngớt ám ảnh anh từ nhiều ngày tháng trước.

Năm cuối ở trung học, bắt đầu tiếp xúc với một số tác gỉa triết lư, anh đam mê ngay lối suy tưởng triệt để của các tác gỉa này. Anh đọc tất cả các sách dịch về triết lư có thể có được và miệt mài học sinh ngữ để có thể đọc  trực tiếp các nguyên tác. Anh vẫn cố gắng giữ nguyên tắc chống đối lại những ǵ ḿnh thu nhận được. Anh phản kháng một cách mănh liệt và nhiều khi đến độ mù quáng hay tuyệt vọng. Bởi kiến thức lúc đó anh chưa bao nhiêu và óc lập luận chưa được vững chắc.

Do đó, anh dần dần trở nên một kẻ lập dị cô độc. Anh không muốn ḿnh giống ai cả. Bố anh, thầy anh, bạn anh, các tác gỉa lớn. Anh t́m cách đạp đổ hết. Anh muốn tự ḿnh vươn lên như một đại thụ, một ngọn thái sơn ngất trời. Anh chỉ là anh thôi và muốn bay lên chín tầng mây cao để nh́n xuống nhân gian thấp hèn phía dưới. Mọi người chung quanh lần lượt lánh xa anh v́ không chịu nổi sự khinh bạc và những phê phán độc địa đầy móng vuốt anh bổ lên đầu họ. Anh càng cô độc càng  trở nên kiêu ngạo. Sự thực anh chẳng cần quái ǵ ai cả. Anh độc hành trên con đường sạn đạo mù khơi chênh vênh của ḿnh bằng những bước chân ngất ngưởng tự hào.

Đậu tú tài xong, anh quyết định hoàn toàn tự do theo đuổi điều ḿnh lựa chọn. Anh sẽ đem chính đời sống  ḿnh ra thể nghiệm những ǵ anh suy tưởng và khám phá. Anh vào Sài g̣n với hai bàn tay trắng, ghi danh ở Đại học Văn khoa và bắt đầu làm thơ gởi đăng báo. Anh vật lộn với sinh kế và miệt mài sáng tác với một niềm kiêu hănh vô biên. Một tạp chí văn nghệ nổi tiếng nhận ra tài năng của anh. Họ đăng ngay những bài thơ anh gởi và hẹn anh đến ṭa soạn  nói chuyện. Anh hiên ngang bước vào lănh vực văn nghệ. Những bài thơ đầu tiên của anh là ngôn từ  trầm thống của  một kẻ cô độc, kiêu bạc và tràn đầy phẫn nộ. Anh bứt tung mọi quy luật  thi ca, phóng bút  như những đường gươm rồ dại. Đó là điều làm anh trở nên  độc đáo và được coi như một trong những kẻ tiên phong khai phá một đường hướng thi ca mới. Anh nhất định viết không giống ai. Những bài thơ của anh ngày càng tục tằn, giận dữ và ngạo mạn.

Trong lănh vực  học vấn, ḷng kiêu ngạo cũng làm anh chán ngán giảng đường. Thành thực mà nói, có nhiều ông giáo sư đại học không thể nào ngửi được. Ngồi nghe các ông lảm nhảm những điều nhạt thếch bằng một giọng ấp úng vô duyên, anh ngứa ngáy cả  người và chỉ muốn ném chiếc ghế vào mặt những ông thầy đó. Anh tởm luôn cả bọn sinh viên ngồi chung quanh. Giảng như vậy mà chúng cũng ngồi chăm chú ghi ghi, chép chép một cách say mê ngưỡng mộ. Th́ ra mảnh bằng đă làm chúng trở nên nô lệ hèn nhát tất cả.

Có lần khi một cơn điên nổi lên, anh đă làm cho một giáo sư và bọn sinh viên xám mặt. Hôm đó anh đi dọc theo hành lang nh́n vào các pḥng học. Khi đi qua pḥng của lớp dự bị, anh thấy một giáo sư đang cười duyên với sinh viên. Đó là một ông thường mặc đồ lớn màu loè loẹt, đầu chải láng và xức dầu thơm. Anh ghét cay ghét đắng ông này. Anh tḥ đầu vào cửa hét lớn " Bú l." Anh thấy ông giật nẩy lên như bị điện giật, mặt tái ngắt như gà bị cắt tiết. Bọn sinh viên rú lên. Anh bỏ chạy. Bọn sinh viên túa ra vây lại. Lần đó anh suưt bị đánh và bị lôi thôi mất cả tháng với Hội đồng khoa. Họ không đuổi anh nhưng anh cũng không muốn học nữa. Anh đă quá chán những kiến thức khô cằn ṃn sáo trong giảng đường. Anh muốn tự do tung trời sáng tạo.

Anh dấn thân hẳn vào nghề văn. Anh làm thơ, viết truyện ngắn cho nhiều tạp chí văn nghệ. Và nhà văn Annam quả thật khổ như chó. Anh bị điêu đứng v́ nhiều chuyện hèn hạ bỉ ổi. Những đàn anh ngày trước mến tài đưa anh lên, thấy anh lên quá, bắt đầu ghen tị và t́m cách d́m anh xuống. Bài anh gởi đến nhiều khi cả  mấy tháng  không được đăng. Lúc đăng, họ tự ư kiểm duyệt, bỏ bớt hay sửa chữa làm tác phẩm không ra đầu ra đuôi ǵ cả. Một vài tạp chí bắt đầu viết bài công kích anh, công kích những điều mà trước đây chính họ hết sức thán phục và tán thưởng. Trong những buổi họp anh em văn nghệ, họ hùa nhau đả kích, bêu riếu anh, gán cho anh đủ mọi tính xấu. Nhiều lần anh suưt đánh lộn với một vài người v́ giọng lưỡi đê tiện của họ.

Họ làm khó dễ anh cả về phương diện tiền bạc. Những ông chủ bút, chủ nhiệm, quản lư làm lơ hay hẹn rày hẹn mai mỗi khi anh hỏi tiền nhuận bút. Họ biết anh rất đói rách và muốn anh phải gập ḿnh quỳ gối năn nỉ. Anh vẫn sống được v́ từ trước anh vẫn theo phương pháp ăn gạo lứt muối mè của Ohsawa và tự nấu nướng lấy trên một gác nhỏ tồi tàn ở một xóm lao động. Nơi đây lúc nào cũng sặc sụa mùi hôi hám của một con kênh nước đen bẩn thỉu. Dù sao anh vẫn tiếp tục sáng tác. Đó là lẽ sống và niềm kiêu hănh của anh. Tuy nhiên c̣n ǵ buồn khổ bằng một nhà văn đam mê sáng tạo mà không được ra mắt độc gỉa. Anh t́m đủ mọi cách để xuất bản tập thơ đầu tay, dưới h́nh thức ronéo. Nhưng v́ phải nhờ vả cai thầu văn nghệ và anh làm cho y giận, dù thơ đă in xong đem bày bán, y đă thu lại và xé đốt hết cho hả tức.

Tác phẩm của anh, cuộc đời của anh ngày càng trở nên khốn đốn. Anh bị bủa vây bởi trăm  điều nghiệt ngă. Anh cô đơn không cùng và tư tưởng đi dần xuống hố tuyệt vọng. Cái chết ám ảnh anh hằng đêm. Anh nằm co quắp trong bóng tối, hơi nóng mùa hè và mùi śnh thối của con kinh nước đen để chiêm nghiệm về lẽ hư vô. Trần gian đă quá chật, quá thấp hèn, đê tiện đối với anh. Anh muốn vươn lên cao, bay đến cơi vô cùng của tịch diệt vĩnh cửu. Anh muốn trông thấy núi cao và vực thẳm. Anh bỏ Sài g̣n, đi xe đ̣ không vé lên một thành phố cao nguyên. Anh nhịn đói mấy ngày và t́m đến một ngọn thác. Anh nằm phục trên phiến đá ở đỉnh núi cúi đầu nh́n xuống thác nước cuồng nộ, lắng nghe tiếng gọi của vực  thẳm. Anh tưởng tượng đến h́nh ảnh anh lao xuống hố sâu đầy đá nhọn kia cùng với những bọt nước trắng xóa. Tất cả sẽ mờ phai, tan đi và bay lên  vùng mộng ảo chập chờn. Người anh run lên. Anh sung sướng và đau xót khôn cùng. Lẽ tử sinh thật tuyệt vời khổ lụy. Bao  lần anh đă chuồi ḿnh nằm vắt vẻo nửa người, dốc đầu xuống vực thẳm. Anh chỉ cần buông mấy ngón tay bám víu nhỏ nhoi vào bờ đá nhám. Anh sẽ thỏa nguyện. Nhưng anh lại trồi lên. Một niềm hối tiếc âm ỉ nào đó đă  giữ anh lại với trần gian. Hai ngày sau, anh thất thểu trở về, ḷng nguội lạnh như tro tàn, thân thể chỉ c̣n da bọc xương với đôi mắt sâu và râu ria lởm chởm.

 

***

 

Một ngôi chùa đă cho anh tá túc qua ngày. Từ đó định mệnh đă dẫn dắt anh qua nhiều ngôi chùa trên đất nước.

Cửa chùa lúc nào cũng rộng mở nhưng ḷng  sư nhiều kẻ khá hẹp ḥi. Anh cám ơn vô vàn cửa Phật nhưng nhiều lúc không tiếc lời nguyền rủa. Mấy tháng sau anh được giới thiệu về dạy học tại một trường Bồ Đề ở một thành phố miền Trung. Nơi đây anh bắt đầu một cuộc đời mới với những khốn cùng mới.

Anh yêu một cô bé học tṛ có đôi mắt lai. T́nh yêu đến với anh dễ dàng, bất ngờ và cuồng nhiệt. Anh viết những bài thơ và những lá thư tỏ t́nh. Anh năn nỉ, rên rỉ, hăm dọa, cuồng điên trong cuộc t́nh này. Không ǵ ngăn cản được anh, kẻ đă đứng dạng chân giữa hai bờ sinh tử. Anh sống như một ngọn lửa, khi bùng lên sẽ thiêu đốt tất cả. Nàng đă trốn chạy t́nh yêu thô bạo, lối tỏ t́nh rừng rú của anh.  Tuy nhiên anh là con nhện độc đă bủa lưới trùng vây. Nàng chỉ là con mồi nhỏ bé với đôi cánh yếu ớt. Anh đă cưới được nàng. Sự thực, hoàn cảnh đă giúp anh dễ dàng đạt đến mục đích. Nàng mồ côi cả cha lẫn mẹ, hiện đang sống với một người bà con. Cha nàng là một người lính viễn chinh mắt xanh nào đó đă về xứ. Mẹ nàng đă mất trong chiến tranh. Kể ra như vậy anh cũng xứng đôi với nàng. Đứa con hoang của văn nghệ và đứa con hoang của chiến tranh chung sức xây tương lai dưới một mái nhà.

Nhưng họ chưa thấy được tương lai. Lấy vợ được ba tháng, anh phải đương đầu với một vấn đề mới. Giấy hoăn dịch v́ lư do học vấn  của anh đă hết hạn. Và anh không chấp nhận chiến tranh. Anh ghê tởm đời sống quân ngũ. Anh chỉ cần tự do, t́nh yêu và sáng tạo. Anh không muốn ghép ḿnh vào khuôn khổ kỷ luật. Anh không muốn cầm súng bắn ai cả. Giết người là một hành động phi nhân và thô bỉ, dù với bất cứ lư do ǵ. Anh bắt đầu trốn cảnh sát và quân cảnh. Những  người từ trước anh không bao giờ để ư đến bây giờ lại trở nên hết sức  quan trọng. Họ ám ảnh anh cả trong những giấc mơ. Anh bắt đầu một cuộc sống  bất an. Anh phải luôn nghe ngóng, quan sát mắt trước mắt sau và lủi như chuột mỗi khi di chuyển.

Thế nhưng anh vẫn bị bắt. Và  anh đă trốn thoát được. Tất cả ba lần. Một lần nhờ nhan sắc của vợ anh đă làm cho gă lính gác  mềm ḷng. Hai lần khác do anh mạo hiểm vượt hàng rào kẽm gai bỏ chạy. Trong ba lần bị bắt này, anh đă nếm mùi quân trường và nhà giam. Một địa ngục mầu ô liu và một địa ngục mầu xám. Thà chết c̣n hơn. Anh tin rằng khi chết, linh hồn sẽ lang thang phiêu bạt giữa trời và đất. Đó mới là chốn đích thật cho những con người như anh.

Sau lần trốn thoát thứ ba, anh ṃ lên được một thị trấn miền  núi. Anh lại xin tá túc ở chùa. Cửa Phật quả là nơi dung thân sau cùng cho những kẻ trốn chạy như anh. Một thời gian sau, anh viết thư nhắn vợ lên. Hai người thuê một căn nhà nhỏ và hành nghề nấu cơm tháng cho học tṛ và anh em lao động. Anh lo chẻ củi, gánh nước và nấu ăn. Vợ anh phụ trách dọn cơm, tiếp khách. Thị trấn nhỏ bé gía lạnh và đầy sương mù này có vẻ b́nh yên và ít ai chú ư đến ai. Cảnh sát và quân cảnh h́nh như cũng hiếm và ít hoạt động. Thật là một khung cảnh thích hợp cho anh. Dù vậy, anh vẫn  luôn đề pḥng. Anh chỉ đi những ngơ tắt hay băng từ vườn này sang vườn khác. Anh vẫn lủi như chuột khi thoáng thấy chiếc mũ quân cảnh từ xa hay nghe tiếng tu huưt của cảnh sát. Mắt anh đă thành thói quen láo liên quay đảo mỗi lúc ra đường. Anh hạn chế tối đa sự giao tiếp và di chuyển. Ban ngày anh làm việc ở nhà, ban đêm vào chùa viết lách và ngủ lại. Thầy trụ tŕ khi biết anh là một nhà văn đă có ư tốt dành cho anh một pḥng nhỏ yên tĩnh phía sau dăy pḥng của các chú tiểu.

Đời sống bên ngoài của anh đă tạm yên nhưng đời sống nội tâm lại bắt đầu lên cơn sốt khủng hoảng. Anh, một kẻ cùng trời phóng đăng, bây giờ phải khép ḿnh làm một gă đầu bếp dơ dáy. Anh, một nhà văn tiền phong của thế hệ mới, đành chôn vùi tài năng sáng tạo ở xó xỉnh rừng núi này. Mỗi lần đọc những bài phê b́nh văn nghệ có nhắc đến anh, anh lại  thấy nhói  cả tim gan. Một cơn đau ngầm nổi lên suốt dọc cả hồn xác hành hạ anh không nguôi. Anh muốn thấy tên tuổi ḿnh chói ngời trên các tạp chí văn nghệ, nhưng anh biết một số cai thầu văn nghệ ở Sài g̣n không dung anh nữa. Anh khó ḷng xuất hiện trên báo của họ. Anh muốn tự ḿnh xuất bản một tờ báo. Trong hoàn cảnh này, điều đó thật là một ước muốn tuyệt vọng. Dù vậy, anh vẫn tiếp tục nuôi dưỡng ư định và miệt mài sáng tác. Những sáng tác mới này phản ánh sự cùng quẫn cay đắng, đang trùng trùng vây phủ như sương mù khí đá của thị trấn heo hút này.

Nghề nấu cơm tháng của vợ chồng anh ngày càng xuống dốc. Dù đă hạ gía xuống mức rẻ mạt, khách ăn vẫn thưa thớt một cách thê thảm. Đă vậy họ không bao giờ đóng tiền đúng kỳ hạn. Đó là điều nguy nhất v́ vợ chồng anh không có một chút vốn liếng nào. Anh đă  viết bao nhiêu bố cáo dán lên tường, bằng đủ mọi lối hành văn, sử dụng những h́nh ảnh cụ thể nhất, mà vẫn không sao có hiệu quả. Thí dụ câu sau đây: "Chủ quán nghèo rớt  một lúc  hai ba hột mồng tơi nên xin miễn bán chịu và xin quư khách hoan hỉ đóng tiền đúng kỳ hạn". Thực ra những người khách của anh cũng không hơn ǵ anh. Họ là những học sinh trung  cấp đi học xa nhà ngoi ngóp đợi tiền nhà từng ngày. Họ là những phu khuân vác không kiếm được việc làm thường xuyên. Họ là những công chức tập sự đi làm đă ba bốn tháng chưa có lương... Với gía tiền rẻ mạt và muốn phổ biến phương pháp Tân dưỡng sinh Ohsawa, anh nấu cho họ ăn theo nguyên lư âm dương của phương pháp này. Anh chọn những loại rau, quả, củ có đặc tính cực dương, nấu theo cách thức đă được nghiên cứu cẩn thận. Thế nhưng h́nh như món ăn khôn hợp khẩu vị của họ, những  kẻ đă quen với các món ăn thịt cá đầy dầu mỡ, tiêu ớt trần tục. Họ từ giă ngay quán của vợ chồng anh khi có số tiền kha khá trong túi.

 

Sự khủng hoảng tinh thần, sự thiếu thốn vật chất. Tâm trạng bất an của một kẻ sống ngoài ṿng pháp luật, tất cả đă làm cho anh biến hẳn tính nết. Anh trở nên cộc cằn, thô lỗ và phê phán người khác một cách tàn độc.

Dĩ nhiên anh chỉ có thể cộc cằn, thô lỗ với vợ anh thôi. Anh đối xử với nàng một cách tàn nhẫn và chửi rủa bằng những lời tục tĩu thậm tệ nhất. Ngày trước  nàng xinh đẹp óng ả biết bao nhiêu mà giờ đây tàn tạ xấu xí một cách thảm  hại. Nhiều lúc anh ngạc nhiên khi nhớ ra rằng nàng mới có  mười tám tuổi. Điều đó  lại càng làm cho anh bất măn hơn. Anh bất công với nàng trong đủ mọi chuyện nhưng anh không hề phản tỉnh. Anh chỉ nghĩ đến nỗi đau của riêng ḿnh.

Ngày vợ anh sinh đứa con đầu ḷng, nàng phải tự lo liệu lấy hết. Khi chuyển bụng, nàng run rẩy ôm chiếc mền rách đi bộ một ḿnh đến nhà thương. Nàng sinh con so nên rất khó khăn và đau đớn. Các cô y tá không giúp đỡ ǵ cho nàng nhiều. Nàng phải tự lo cho ḿnh và lo cho con như một con vật cái. Anh không thể đi săn sóc nàng v́ trong người không có một thứ giấy tờ nào. Một ngày sau, nàng ẵm con ra về. Mặt tái xanh v́ mất máu và thiếu ăn, chân đi không vững, nàng lảo đảo lê từng bước và ngă quỵ ở cổng nhà thương. Một người tài xế chạy ngang đă thương t́nh dừng lại chở nàng về.

Về được ba ngày, nàng gượng dậy lo cho con v́ anh vụng về và không biết ǵ về việc săn sóc mẹ con mới sinh. Thấy nàng làm việc được, anh bắt nàng phải phụ lo cơm nước cho khách luôn v́ anh không dám ra ngoài nhiều. Nàng tuân phục lệnh anh và khóc đến khản cả tiếng, không c̣n một giọt nước mắt. Anh không hiểu sao lúc  đó anh có thể phi nhân tàn ác đến như  thế. Anh như một con thú dữ bị thương đă đến bước đường cùng.

Sau khi vợ anh sinh được năm tháng , vợ chồng anh phải đóng cửa tiệm cơm tháng v́ quá ế ẩm. Hai người đang bối rối lo lắng v́ chưa biết làm ǵ để kiếm ăn và trả tiền nhà th́ may có người quen đề nghị giúp đỡ. Ông ta có một ḷ bánh ḿ cũ không sử dụng và một mảnh vườn không ai trông coi nên muốn  để hai người đến ở và nhân tiện coi giúp vườn. Hai người mừng rỡ nhận lời ngay. Chỗ ở mới rất thuận lợi cho anh v́ biệt lập, kín đáo và có đất trồng trọt. Anh chuyển nghề nấu cơm tháng sang nghề làm vườn. Anh quyết đem sức người  biến sỏi đá thành thực phẩm. Anh tận dụng từng tấc đất để trồng trọt. Anh trồng đủ mọi thứ rau trái thực dụng để có thể khỏi cần đi chợ: khoai lang, môn, các thứ đậu, su, chuối, tần ô, bồ ngót, sà lách, mướp, bí, bắp, hành, tỏi, rau răm, rau thơm, ớt, đu đủ, hà thủ ô... Anh xin hay ăn cắp giống ở những vườn anh đi qua. Từng ngày  một mồ hôi anh nhỏ xuống trên mảnh đất khô cằn và cây lá mọc lên xanh tươi. Những lúc mệt nhọc, anh thường ngồi dưới một gốc chuối hay dưới một giàn đậu ngắm công tŕnh canh tác của ḿnh và thấy dấy lên một niềm kiêu hănh. Anh nuôi chính anh và vợ con  bằng những thứ anh trồng được. Quan niệm Tân dưỡng sinh của Ohsawa đă giúp ích rất nhiều cho một kẻ khốn khổ như anh trong việc mưu sinh. Đứa con trai  anh hơn một năm chưa hề ăn thịt cá và uống sữa rất ít mà vẫn khỏe mạnh, phát triển b́nh thường. Một dược sĩ đă trố mắt ngạc nhiên khi nghe anh nói như vậy và cho rằng không thể nào tin được.

Thời gian này anh vẫn tiếp tục sáng tác đều đặn. Sáng tác là sự sống thứ hai của anh. Anh không thể nào ngừng nghỉ v́ đối với anh, ngưng sáng tác là chấm dứt ư nghĩa đích thực của sự sống.  Tác phẩm của anh đă chất đầy cứng một va ly. Anh liên lạc với một nhà xuất bản quen cũ ở Sài g̣n. Ông giám đốc nhận lời xuất bản tác phẩm của anh và xúc tiến in tập truyện ngắn thứ nhất. Điều này làm anh vô cùng phấn khởi. Ít ra cũng  c̣n có người biết đến tài năng của anh và anh lại có cơ hội bày tỏ với độc gỉa, một nhu cầu quá khẩn thiết đối với  bất cứ một nhà văn nào, đặc biệt đối với một nhà văn khốn đốn như anh. Hơn nữa tiền bản quyền dù chẳng bao nhiêu nhưng cũng đủ giúp anh dự trữ gạo cho gia đ́nh trong mấy tháng.

Anh bắt đầu giao du với một vài bạn văn và giới trí thức ở đây. Không ngờ thị trấn nhỏ bé này lại là chốn dung thân của rất nhiều tay văn nghệ và trí thức cấp tiến. Họ là những nhà văn trẻ trong  quân đội, hoặc cùng hoàn cảnh như anh hay dạy ở các trường trung học. Sự tiếp xúc với những người này làm anh bớt cô độc. T́nh thân chớm lên với một vài người đă an ủi anh rất nhiều. Anh khát khao gặp họ để bày tỏ và nghe họ nói. Ḷng kiêu căng cố hữu của anh vẫn c̣n nhưng đă được mài bớt đi rất nhiều. Anh đă chịu bị phê phán và bớt cay độc đối với người khác. Sự tiếp xúc này c̣n có một khía cạnh nữa. Nó nung nấu ḷng khát khao tự do. Anh thèm được như họ. Anh muốn đi lại, ăn ngủ b́nh thường như bao  nhiêu người khác chứ không c̣n bị ám ảnh bởi sự truy nă đă làm anh luôn bất an khủng hoảng. Mỗi lần có người quen đi xa về, nhất là đi Sài g̣n, anh đều đến hỏi thăm họ từng chi tiết về chuyến đi. Anh hỏi về sinh hoạt văn nghệ, về từng hiệu sách, từng góc phố, từng quán café ở Sài G̣n. Anh muốn biết. Anh muốn thấy. Anh thèm khát vô cùng những chuyến đi xa.

Anh bắt đầu theo dơi t́nh h́nh qua đài phát thanh và báo chí. Dĩ nhiên nghe và đọc nhờ của chùa chứ anh không thể nào có phương tiện riêng. Tin tức về thương thuyết, hội đàm dồn dập làm anh xôn xao khắc khoải. Anh chỉ có thể thoát khỏi hoàn cảnh hiện tại nếu có ḥa b́nh, không c̣n cách nào khác. Ḥa b́nh đă trở thành sinh lộ độc nhất cho đời sống anh. Chỉ  có ḥa b́nh mới mở ra cho anh cánh cửa hướng về tương lai. Chỉ có ḥa b́nh mới cho anh cơ hội sống lại đời sống đích thực của con người. Chỉ có ḥa b́nh mới giúp anh phát huy  hết tiềm năng sáng tạo phong phú của ḿnh. Ḥa b́nh đă trở thành khát vọng thường trực, một ám ảnh không rời trong từng giờ từng khắc.  Mỗi lần có tin tức ǵ đáng lạc quan, ḷng anh vô cùng sôi nổi. Anh đi t́m ngay một người bạn để thảo luận. Anh cố t́m một tia sáng giữa bóng tối đang bủa vây đất nước. Anh hăm hở xây dựng một niềm tin dù nhỏ nhoi giữa cơn tuyệt vọng mỏi ṃn. Anh khắc khoải chờ đợi. Anh  bồng bềnh trôi nổi trên các biến cố.

Anh khám phá ra nhiều điều vô cùng  đau đớn. Từ trước anh  không bao giờ ngờ rằng sự thành công hay thất bại của một ứng cử viên tổng thống bên Mỹ có thể làm thay đổi sâu xa đời sống của riêng anh và phần nào đó cả dân tộc anh. Anh run sợ hay vui mừng khi biết một điều bất lợi hay tạo ưu thế cho một ứng cử viên đó. Anh theo dơi từng bước đi, từng câu  tuyên bố của các nhà thương thuyết tận bên Pháp. Anh mong chờ từng phút kết quả các cuộc mật đàm. Anh lo âu về diễn biến của các cuộc đụng độ ở miền núi rừng  giới tuyến hay vùng śnh lầy  Đồng Tháp. Tất cả đều có liên hệ đến anh. Tất cả đều gắn bó sâu xa với thân phận của một kẻ trốn tránh  vô danh nơi thị trấn miền cao bé nhỏ này.

Những khám phá này nhận ch́m anh vào một cơn khủng hoảng mới. Anh như một kẻ sa lầy, càng vùng vẫy càng lún sâu xuống. Anh thèm khát tự do và anh bất lực, không t́m ra lối thoát. Anh bị dằn vặt không nguôi. Anh thử trở về với những giấc mộng siêu thoát và hư vô. Anh bắt đầu đi lang thang trong rừng một cách liều lĩnh. Nhiều khi anh nhịn đói nằm dưới một tàng cây suốt ngày, đến tối mịt mới trở về. Anh muốn ngắm trời xanh, nghe chim hót, nhắm mắt ngả ḿnh trên một thảm cỏ mượt. Anh muốn đi ra khỏi xă hội loài người đốn mạt.  Anh  thích bầu bạn với đồi cao, rừng cây, suối hiền, gió thoảng. Anh dựng một túp lều bằng lá cây trong rừng để đến trầm tư mỗi ngày về lẽ hư vô. Thời kỳ này anh sáng tác được nhiều bài thơ kỳ dị. Những bài thơ kết tinh nỗi khủng hoảng và cô độc vô biên mà anh đă sống trong từng hơi thở :

Khi thấm mệt tôi đi luồn ra núi

Dưới chiều tà chỉ gặp cỏ hoang sơ

Bước lủi thủi tôi đi luồn vô núi

Nghe nắng tàn run rẩy bóng cây khô

Chân rục ră tôi đi luồn ra núi

Hồn rụng rời trước mặt băi hư vô.

               [ Một ḿnh đi luồn vô luồn ra trong núi  ]

 

Anh t́m vào bầu bạn với núi rừng nhưng rốt cuộc lại lạc loài giữa núi rừng. Anh lạc loài giữa trần gian. Anh lạ lẫm ngay với chính anh. Anh đă điên rồ trong cuộc t́m kiếm nghiệt ngă.

 Cả đêm ấy tôi nhảy hoài trong núi

Giữa trăng vàng mờ mịt bóng sinh linh

Trần gian vắng tôi đă về lủi thủi

Cỏ bên hồ thương cảm cũng rung rinh

Tôi nhảy măi dù trăng sao sắp tắt

Nhảy cà tưng rồi lại nhảy cà tang

Ngại khuya hàn sương giá xuống mang mang

Run lập cập là bắt đầu khổ nhất.

                   [ Một ḿnh đứng nhảy hoài trong núi chơi ]

 

Anh lại thấy ḿnh đang đứng chênh vênh trên bờ vực. Không phải bờ vực tử sinh nữa. Tử sinh đă trở nên chuyện quá tầm thường. Anh phải sống, cần sống và đang sống như một con diều giấy đứt giây lảo đảo nhưng không bao giờ được rơi xuống mặt đất bao dung yên nghỉ

 

***

Anh lại bị bắt. Thật là một cú đập bất ngờ choáng váng đến tê dại. Từ gần một năm nay anh tưởng ḿnh đă được tạm yên. Những người quen ở đây cho rằng chính quyền đă quá biết anh trốn tránh nhưng vẫn để yên v́ cho rằng anh vô hại và nhất là không muốn dồn anh vào bước đường cùng sợ anh sẽ có những phản ứng bất lợi cho chế độ. Dường như đây là một chính sách chung đối với nhiều người  có hoàn cảnh  tương tự chứ không riêng ǵ anh. Qua nhiều dữ kiện và suy luận, anh đă dần dần tạm tin như thế nên bớt đề pḥng. Đùng một cái, anh bị bắt.

H́nh như hai gă cảnh sát đă theo dơi anh từ mấy ngày nay và tiến đến thộp cổ khi anh đi qua quăng đường vắng. Sau này anh được biết anh bị bắt v́ một quyết định mới của chính quyền nhằm tảo thanh những phần tử bất hảo như đào binh, trốn quân dịch, du đăng...để ổn định xă hội trước khi bước vào một giai đoạn mới đấu tranh chính trị. Điều đau đớn nhất là anh bị bắt đúng lúc những tin tức về ḥa b́nh đang dồn dập. Các trận chiến quy mô khốc liệt đang đi vào giai đoạn kết thúc. Những cuộc mật đàm và thương thuyết công khai đă chuyển động mạnh tới hồi kết cuộc. Niềm hy vọng đang dậy lên trong anh như ngọn lửa bùng lên sau nhiều ngày tháng âm ỉ đă bị dội một gáo nước lạnh tắt ngúm. Anh rơi hẫng vào một hố sâu muôn trượng của kinh hoàng tuyệt vọng. Anh khó ḷng mô tả được xúc cảm của ḿnh trong lúc này. Anh như ngây như dại, như điên như rồ, như mê như lẫn sau một cú va đập ghê gớm làm  chấn động cả hồn lẫn xác.

Anh được đưa vào tạm giam ở Ty Cảnh sát trước khi chuyển giao cho Quân cảnh. Một ngày sau, vợ anh ḍ được tin xin đến thăm. Nh́n vợ con hốt hoảng khóc lóc, lần đầu tiên anh cảm thấy vô vàn thương xót. Đáng lư khi chọn lựa đời sống như anh đă sống, anh chỉ nên chịu đựng một ḿnh. Sự lựa chọn quá đắt gía cho anh đă đành nhưng c̣n vô cùng khốc liệt đối với những kẻ lệ thuộc vào anh. Anh đă hành hạ, làm khổ vợ con trong những ngày qua, anh sẽ c̣n làm điêu đứng họ hơn trong những ngày sắp tới. Vợ anh đă có hai con và đang mang  thai đứa thứ ba. Làm thế nào người đàn bà khốn khổ không có bà con thân thích đó có thể sống qua những ngày tháng tới để đợi anh về. Có lẽ địa ngục đă mở lối ra trước mặt người đàn bà và ba đứa con đă v́ anh mà hệ lụy.

Anh c̣n lo sợ về những bản thảo anh đă sáng tác suốt bốn năm lẩn lút cùng khốn nơi xứ đày đọa này. Ôi những tác phẩm vô cùng yêu dấu. Anh đă viết bằng máu, bằng hơi thở, bằng nỗi đau thương trùng trùng vây phủ. Những tác phẩm đó một ngày kia phải ra ánh sáng. Để phô bày sự thật ghê hồn về đời sống một nhà văn của một đất nước nhược tiểu dám sống bằng cách đánh cuộc cả đời ḿnh cho một chọn lựa dứt khoát. Một gă lính say nào đó sẽ xông vào nhà hăm hiếp vợ anh, đá tung bản thảo của anh ra đường. Một cơn hỏa hoạn bất ngờ sẽ thiêu tác phẩm của anh thành tro tàn. Nghĩ tới đó, anh nổi gai ốc khắp người, giá lạnh suốt xương da và ḷng đau hơn dao cắt. Ai sẽ lo ǵn giữ và t́m cách xuất bản những tác phẩm máu thịt-hơi thở khốn cùng đó nếu anh bị lưu đày hay chết đi. Anh lo nghĩ đến nỗi sau ba ngày những sợi tóc lơ thơ trên đầu anh đă rụng gần hết.

Dù sao anh có một niềm an ủi, đó là sự giúp đỡ của bạn bè. Trong cơn hoạn nạn anh mới thấy được tấm ḷng cao quư của họ. Thực ra anh cũng không thân thiết ǵ với họ lắm. Có người c̣n không chấp nhận lập trường văn nghệ của anh nữa. Họ đều nghèo, không thế lực, có thể bị liên lụy nếu dính vào vụ anh, nhưng họ đă gom góp tiền bạc mỗi người một ít đưa cho vợ anh, chạy đôn chạy đáo chỗ này chỗ kia nhờ can thiệp và can đảm đến thăm để  an ủi anh trong lúc bất hạnh. Anh không biết lấy ǵ để cám ơn họ. Vả lại lời nào cũng bằng thừa đối với những tấm ḷng đó. Anh chỉ biết ghi khắc vẻ đẹp tuyệt vời của t́nh người mà từ lâu anh đă hoài nghi chối bỏ. Anh sẽ nghiệm xét lại tư tưởng của ḿnh sau  kinh nghiệm sâu sắc này.

Ngày thứ tư sau khi bị bắt, anh được chuyển giao cho quân cảnh. Anh bị nhốt chung với mấy người thượng trong một hầm đá. Đêm đó trời mưa lớn. Nước vào tứ bề. Phía trên nhỏ giọt, hai bên rịn chảy, ở dưới ngập dần lên. Anh bị ướt như chuột lột và rét buốt tới xương tủy. Mùi hôi thối do phân và nước tiểu ḥa tan làm anh ngạt thở. Anh đứng co ro trên mấy chiếc lon sữa và run lập cập té xuống nước mấy lần. Mấy người thượng cũng loi nhoi lóp ngóp. Anh cảm nghiệm đến vô cùng nỗi cực nhục tàn tệ của kiếp người nô lệ. Trong một phút, anh muốn cắn lưỡi cho máu trào, hồn đứt, trả thân xác tồi tàn lại cho cát bụi. Một lần nữa, một cái ǵ đă giữ anh lại, như lần trước anh dốc đầu xuống vực sâu mấy năm trước. Rồi như một lằn chớp lóe sáng trong hầm sâu tù ngục, trong trí óc u mê ám chướng, trong một  sát  na anh giác ngộ được chân lư. Anh là kẻ thèm khát tự do, đam mê sáng tạo nhưng anh chưa hề  tranh đấu để đạt được ước vọng của ḿnh. Anh chỉ là kẻ đầu hàng, chạy trốn. Anh tự tử hay mơ hư không chỉ là những h́nh thức chấp nhận thua cuộc trong trận phấn đấu giữa đời. Anh để niềm tin lắt lay bám víu vào những biến chuyển thời sự bên  Mỹ bên Pháp là buông xuôi trong cuộc chiến đấu giữa ḷng đất nước. Anh đối xử tàn nhẫn với vợ con v́ anh bị tước đoạt tự do, nhân cách, sống bằng tính ác của con vật bị săn đuổi. Anh phải chiến đấu để được sống như một con người.

Người anh bừng bừng như lửa đốt. Anh không c̣n thấy lạnh nữa. Những ư tưởng hào hùng chạy trong đầu anh như những luồng điện xẹt. Anh tưởng ḿnh có thể đấm tan chiếc hầm đá kiên cố. Anh cúi xuống nâng một người thượng ǵa lên khi ông run rẩy gục xuống vũng nước cứt đái. Anh biết rơ ḿnh sẽ ra khỏi chốn lao tù bằng bất cứ gía nào.

Sau đó anh được đưa về nhà lao của quân  khu đợi ra ṭa quân sự lănh án. Với số tiền  của bạn bè giúp, anh đă t́m cách đút lót cho các gă lính  gác để trốn thoát nhưng không được. Đối với  chúng, tội của anh trong thời chiến quá nặng nề nên không có gă nào dám đồng lơa. Vả lại số tiền anh có cũng chẳng là bao. Tuy nhiên anh đă tâm niệm rằng anh sẽ  vượt thoát bằng bất cứ gía nào.

Khi được xe đưa qua ṭa án, anh đă bay ra khỏi xe như một con chim. Mấy phát súng nổ theo không làm anh hề hấn ǵ. Một sức mạnh bất chợt phi thường nào đó đă dồn xuống  đôi chân bung mạnh ra làm anh bắn người lên cao, bám vào cổng của một ngơ hẻm. Khi chiếc xe thắng gấp lại, tiếng tu huưt ré lên, tiếng người  hét lớn, tiếng chân rầm rập, anh đă mất hút vào trong con hẻm quanh co của một xóm lao động tồi tàn bẩn thỉu. Cám ơn vô vàn con ngơ đen, khung cửa hẹp của tự do tung trời."

 

***

Trên đây là phần chính của truyện ngắn tôi viết về anh hơn hai mươi năm trước. Tôi cũng không nhớ  rơ phần hư cấu chiếm bao nhiêu phần trăm, có lẽ rất ít. Chắc chắn là anh không hài ḷng và cho tôi viết không đúng về anh. Nhưng tôi đă nói rơ nhiều lần là tôi viết về anh theo nhận thức của tôi, không thể nào đúng như anh nghĩ hay người khác nghĩ về anh.

Ấy là tôi đă lược bỏ một số ư v́ khi đọc lại thấy quá  "kinh khủng". Không phải chỉ có tôi viết về anh mà c̣n nhiều người khác, thường là các bạn văn quen biết. Cuộc sống và con người của anh luôn là một đề tài hấp dẫn. Một số truyện ngắn, bài viết về anh đă được đăng báo, dù không ghi rơ tên, nhưng những người quen biết đọc nhận ra ngay. Thường phản ứng của anh khi đọc những bài đó là chửi thề và chửi tác gỉa một cách thậm tệ, tuy vẫn giấu  ngầm một niềm kiêu hănh.

Trong cuốn tiểu thuyết "Nửa đời nh́n lại", tôi có viết mấy chương về anh, với tên gọi Mây Đầu Non do tôi đặt. Một tờ báo ở Mỹ đăng mấy bài thơ của anh kèm theo một chương trích trong cuốn tiểu thuyết của tôi mà họ nhận ra nhân vật chính là anh. Một vài bài giới thiệu cuốn sách của tôi cũng có phần phân tích về nhân vật mà anh là nguyên mẫu. Anh nghe nói nên có dịp lên Đà Lạt anh đến thăm tôi và hỏi về việc này. Lúc đó tôi chưa có bản sách in nên đă lấy bản thảo đọc cho anh nghe mấy chương viết về anh. Anh lặng thinh nghe và tỏ vẻ suy nghĩ nhưng chưa có phản ứng ǵ. Anh yêu cầu tôi khi có sách hăy tặng anh một bản hay cho mượn đọc. Tôi hứa sẵn sàng.

Tôi đă hai lần viết về anh và tôi nghĩ chắc ḿnh sẽ c̣n viết nữa. Anh và tôi rất khác nhau nhưng h́nh như có một cái ǵ đó chung cùng. Có lẽ là sự cô đơn thẳm sâu khi đứng chênh vênh bên bờ vực hư vô mà anh và tôi đă từng trải nghiệm.

                  

 

 

 

 

27*  Dharma  Maha  Samelan

 

Trời mờ sáng không nh́n rơ mặt người. Tiếng sóng biển vỗ ngoài xa nghe mơ hồ chỉ làm bầu khí thêm huyền hoặc. Tiếng hát "Baba Nam Kevalam" của gần một trăm người cất lên ḥa trong tiếng đàn guitar nghe như tiếng gọi thần bí đến từ một thế giới khác. Tôi nhắm mắt lại, hai tay giơ lên trời, vừa hát vừa nhịp bước theo điệu múa kiirtan. Tôi không cảm thấy sự có mặt của những người chung quanh. Chỉ có tiếng hát vang lên bất tận, bay thấu trời cao, trong đó tôi nương theo âm điệu của bài hát chỉ có một câu với nhiều giai điệu khác nhau. Baba Nam Kevalam. Chỉ có tên của Ư Thức Vô Hạn hoặc mỗi vật là biểu hiện của Ư Thức Vũ Trụ. Tôi không c̣n cảm nhận về thân xác ḿnh, chỉ có ư thức hiện hữu. Và h́nh như ư thức cũng tan dần đi, bay theo  tiếng hát.

Chúng tôi nhảy múa và hát rất lâu. Điệu múa gần như một điệu slow với các đầu ngón chân chạm nhẹ trên mặt đất để kích thích hệ thần kinh. Hai tay đưa lên trời để thu hút năng lượng của vũ trụ. Đó là nghi thức kiirtan cổ truyền của Yoga để ngợi ca Đấng Tối Cao trước khi ngồi thiền tập thể. Kiirtan càng đông người càng tạo nên sức mạnh, một sức mạnh thần bí của tâm linh và vũ trụ hài ḥa, mang đến sự b́nh an và giải thoát cho con người. Trong buổi kiirtan này tôi thực sự cảm nhận được điều đó và sau đó khi ngồi thiền, tâm trí tôi thanh thản lạ thường và tôi có thể tập trung cao độ nhất so với bất cứ lần thiền nào khác trước đây dù chung quanh tôi có đến gần một trăm người. Quả thực là một kinh nghiệm lạ lùng.

Đây là lần đầu tiên tôi và Đan Tâm tham dự một Dharma Maha Samelan - Hội nghị lớn về tâm linh, cũng là Dharma Maha Samelan đầu tiên của tổ chức Yoga Ananda Marga được triệu tập ở Việt Nam. Một điều khá phi thường. Chỉ sau hai năm hoạt động, trong điều kiện  rất khó khăn, AM đă phát triển ở một số tỉnh, thành phố và tổ chức được Dharma Maha Samelan này, với gần 100 người tham dự đến từ các địa phương. Địa điểm tổ chức là một ngôi chùa vắng vẻ gần bờ biển, thời gian kéo dài ba ngày. Những người tham dự mang theo chăn màn, ngủ trên chiếu trong mấy pḥng trống ở hậu liêu và chia nhóm thay phiên nhau lo cơm nước. Cũng đơn giản v́ mọi người đều ăn chay, chủ yếu là rau cải và các loại trái cây.

Chương tŕnh chính là  kiirtan, thiền, nghe giảng và trao đổi về những đề tài tâm linh. Có một buổi  giới  thiệu đầy đủ về hệ thống tổ chức của AM. Đúng là một tổ chức quốc tế mang tính toàn cầu. AM chia thế giới ra chín khu vực, mỗi khu vực có nhiều nước. Mỗi khu vực và mỗi nước đều có các Dada Didi phụ trách. Trung ương của AM đặt tại Ấn Độ, có ba mươi tám bộ phận nghiên cứu chỉ đạo hoạt động trên nhiều lănh vực, chủ yếu là tâm linh và từ thiện, bao gồm cả văn hóa giáo dục và văn học nghệ thuật.

Đặc biệt Dharma  Maha Samelan  đầu tiên ở Việt Nam có phái đoàn trung ương của AM từ Ấn Độ sang tham dự, dẫn đầu là Dada PP, người kế nhiệm Baba, đứng đầu tổ chức này. Trong đoàn phần lớn là các Dada Didi người Ấn Độ. Có Dada to lớn, bụng bự, râu quai nón chổi xể trông như một vị thần trong các ngôi đền. Có Dada "nhí" mới  hơn hai mươi tuổi, lúc nào cũng vui nhộn và cười toe toét. Dada PP là một ông ǵa cao lớn, mắt sáng quắc, lông mày và cḥm râu bạc trắng dài, dáng tiên phong đạo cốt như những nhân vật trong các truyện cổ tích. Tất cả đều mặc lễ phục riêng của tổ chức màu da cam.

Chúng tôi lại được nghe những câu chuyện về P. R. Sarkar, người sáng lập ra AM. Sinh năm 1921 ở bang Bihar, Ấn Độ, ngay từ thời trẻ, ông đă luôn lôi cuốn người khác bởi t́nh yêu thương sâu xa đối với nhân loại và dẫn dắt họ vào con đường tự nhận thức. Chỉnh lư khoa học cổ xưa của Tantra Yoga phù hợp với nhu cầu của thời đại, ông đă phát triển một triết lư khoa học và tâm linh cùng với một hệ thống rèn luyện thực tiễn cho sự phát triển thể xác, tinh thần và tâm linh. Nh́n nhận ông như một vị thầy tâm linh, các môn đệ đă gọi ông là Shrii Shrii Anandamurti, nghĩa là "Người hấp dẫn người khác bằng sự hiện thân của chân phúc", hay đơn giản là "Baba" [người cha].

Những người đi theo lời giáo huấn của ông đă thấy cuộc đời họ thay đổi khi họ vượt qua sự yếu đuối, những khuynh hướng tiêu cực của tâm trí và kinh nghiệm được một sự yên b́nh sâu sắc đầy chân phúc. Từ tấm  gương của ông, họ đă đem toàn bộ năng lực của ḿnh để phục vụ xă hội và nâng đỡ người bị áp bức.

Năm 1955, trong khi sống cuộc sống gia đ́nh b́nh thường của một công chức ngành hỏa xa, P. R. Sarkar đă xây dựng tổ chức Ananda Marg [Con đường chân phúc] và bắt đầu huấn luyện các nam nữ tu sĩ có sứ mạng truyền bá những giáo huấn của ông về "tự nhận thức và phục vụ nhân loại" ở khắp Ấn Độ và sau đó là cả thế giới. Phản ánh sự rộng mở trong quan điểm có tính vũ trụ của ông, Ananda Marga trở thành một tổ chức đa diện với nhiều bộ phận khác nhau hướng tới việc nâng cao nhân loại qua giáo dục, cứu trợ, phúc lợi, nghệ thuật, sinh thái, phục hưng tinh thần, giải phóng phụ nữ và kinh tế có tính cách nhân bản.

Nhằm phục vụ lợi ích tập thể của toàn xă hội, ông đề xướng lư thuyết Prout [Progressive Utilization theory ], chủ trương sử dụng tối đa và phân phối hợp lư mọi nguồn tài nguyên và tiềm năng của thế giới - về vật chất, tinh thần và tâm linh - và sáng tạo ra một trật tự xă hội mới, có tính nhân bản mang lại ḥa hợp và công lư cho mọi người.

Chủ trương đạo đức không thỏa hiệp chống lại sự tham nhũng, bóc lột và đ̣i hỏi công bằng xă hội của ông đă động chạm đến những  kẻ nắm quyền lực ở địa phương, ông bị vu cáo và bị bắt năm 1971. Trong bảy năm bị giam cầm, ông đă thoát khỏi một vụ đầu độc của nhân viên nhà giam và đă nhịn ăn trong năm năm rưỡi để phản đối. Cuối cùng Ṭa án Tối cao đă phải hủy bản án sai lầm, ông được thả năm 1978 và từ đó tiếp tục lănh đạo Ananda Marga nhanh chóng phát triển ra khắp thế giới.

Hiện nay, được thiết lập trên 160 nước với hơn một triệu thành viên, Ananda Marga và Prout đă trở thành một sức mạnh có tính động lực cho sự thay đổi xă hội trên toàn thế giới.

Trong buổi Dharma  Maha Samelan, các Dada Ấn Độ nói cụ thể về năng lực phi thường của Baba mà họ đă từng chứng kiến. Baba biết tất cả mọi thứ ngôn ngữ trên thế giới, có thể nói chuyện trực tiếp với các Dada Didi đến từ bất cứ quốc gia nào. Không những chỉ ngôn ngữ mà Baba c̣n thông hiểu sâu sắc về mọi lănh vực, từ chính trị, kinh tế đến lịch sử, địa lư, đến âm nhạc, hội họa, văn học. Baba c̣n biết cả t́nh h́nh ở các hành tinh khác cũng như mọi vấn đề xảy ra ở bất cứ nơi đâu, kể cả những chuyện nhỏ nhặt như có Dada tập sự lén ăn trong pḥng tắm trong ngày nhịn ăn hoặc buổi sáng thiền xong không tập asanas mặc dù Baba không có mặt ở đó hoặc chữa bệnh cho những người ốm chỉ bằng một ngón tay.

Tôi không hiểu ḿnh có nên tin hay không tin những chuyện này, những chuyện gần như huyền thoại của các tôn giáo. Nhưng có điều tất cả Dada Didi thuộc nhiều quốc tịch tôi đă từng  gặp đều hết sức khâm phục và tin tưởng Baba, mặc dù trong lư thuyết của ḿnh Baba không coi trọng quyền năng và cấm các môn đệ không được thi thố quyền năng. Baba đă "bỏ xác" cách đây ba năm nhưng các môn đệ luôn coi như ông c̣n tại thế và sẵn sàng giúp đỡ, chỉ dạy bất cứ người nào nếu người đó thành tâm.

Đôi khi tôi thấy lư thuyết và các nghi thức của AM có cái ǵ phảng phất như tôn giáo mặc dù AM luôn khẳng định tổ chức này không phải là tôn giáo và cũng không chống các tôn giáo. Tuy nhiên tôi thích việc tập asanas, thiền định và nghi thức thiền tập thể với điệu múa kiirtan. Trong nghi thức này mỗi người đều chủ động tập trung tư tưởng, nâng cao tâm trí để ḥa nhập vào Ư thức Tối cao, hoàn toàn khác với các h́nh thức đọc kinh, cầu nguyện hay dự thánh lễ của các tôn giáo.

Có một cách kiirtan đặc biệt gọi là Akhanda kiirtan [kiirtan vô tận] thường được tổ chức trong những dịp lễ, trong đó mọi người đi ṿng tṛn và múa hát trong nhiều giờ, có khi mấy  ngày đêm liền. Người nào mỏi mệt tự động ngồi xuống nghỉ và thiền trong khi những người khác vẫn tiếp tục. Chúng tôi đă tổ chức kiirtan kiểu này mấy lần, kéo dài chỉ khoảng hai đến ba giờ và tôi cũng thấy hiệu quả đặc biệt trong việc nâng cao tâm trí. Các Dada Didi c̣n nói nếu kiirtan đông người và nhiều giờ sẽ thu hút được nhiều năng lượng của vũ trụ và tránh được các tai họa cho nơi tổ chức và cả vùng chung quanh. Trong ṿng tṛn người nếu để thức ăn hay nước uống th́ những thứ này hấp thụ nhiều năng lượng vũ trụ có thể dùng để chữa bệnh. Tuy nhiên những sự tin tưởng này không phải là mục đích chính của Yoga. Mục đích của Yoga là hiểu được cứu cánh của cuộc sống để ḥa nhập vào Thực thể Tối cao. Đó là sự trở về quê hương đích thực của mỗi người như Dada PP đă nhấn mạnh trong buổi nói chuyện sáng nay.

Buổi chiều ngày thứ hai của Dharma Maha Samelan, những người trong ban tổ chức sắp xếp cho Đan Tâm và tôi cùng với vài người ở các địa phương khác đi dạo với Dada PP. Đây là  một ưu ái dành cho một số người đặc biệt trong một h́nh thức sinh hoạt riêng của AM. Hồi c̣n tại thế, Baba thường làm việc này và những người đi dạo với Baba coi như nhận được đặc ân. Chúng tôi đi với Dada PP dọc theo bờ biển, thỉnh thoảng dừng lại hay ngồi quanh  một tảng đá để nói chuyện. Nhiều người hỏi về các vấn đề tâm linh và Dada PP trả lời họ một cách rơ ràng, súc tích.

Riêng tôi, tôi đặt vấn đề liệu AM có hoàn thành sứ mạng được không khi những thế lực xấu và ác c̣n rất mạnh và đầy dẫy trên thế gian này. Dada PP nh́n tôi chăm chú một lúc, nhíu đôi mày bạc rồi nh́n ra biển khơi. Lúc này biển đang nổi sóng lớn và những ngọn triều ào ạt đập vào bờ đá tung bọt đến tận chỗ chúng tôi đang ngồi. Dada PP nói đơn giản và như hỏi lại tôi: "Đừng lo chuyện đó. Có thế lực trần tục nào có thể mạnh hơn Đấng Tối cao không?". Đó cũng là niềm tin tôi đă từng thấy  ở các Dada khác. Tôi ngẫm nghĩ nếu Đấng Tối Cao chính là năng lực đă sáng tạo ra vũ trụ và đang điều hành mọi vận động của tất cả các hành tinh th́ quả đó là sức mạnh vô địch. Dù chấp nhận hay không sự hiện hữu của Thượng Đế th́ niềm tin mănh liệt vào sự chiến thắng của điều Thiện cũng làm người ta lạc quan vui sống và sống có ư nghĩa.

Kể ra trong cuộc sống vẫn có những điều phi thường. Ngay việc tổ chức Dharma Maha Samelan với gần 100 người trong đó có nhiều người nước ngoài ở một ngôi chùa ven biển trong hoàn cảnh hết sức khe khắt của Việt Nam hiện nay cũng là một sự lạ. Việc tụ tập đông người không kiểm soát được đối với nhà cầm quyền là một điều cấm kỵ dù AM là một tổ chức tâm linh, không hoạt động chính trị. AM đứng trên chính trị và đặc biệt  khinh bỉ những thứ chính trị bẩn thỉu chỉ mang lại những điều tồi tệ cho con người dù luôn rêu rao những điều cao đẹp. Baba đă từng phân loại có ba hạng người, hạng kém nhất ư nghĩ, lời nói và việc làm không bao giờ đi đôi với nhau và phần lớn các chính trị gia trên thế giới thuộc hạng người này.

Trong ba ngày DMS, ngoài các chương tŕnh chính thức, chúng tôi c̣n vui chơi, tắm biển, thi nhảy kaoshiki và Tandava trong một tinh thần ḥa hợp và thân ái giữa những người theo đuổi con đường tâm linh.

Điệu nhảy Tandava là một loại khiêu vũ tâm linh, đă có cách đây 7000 năm, do một yogi vĩ đại Ấn Độ là Shiva sáng tạo. Tandava là "bước căn bản", "bước đầu tiên" của tất cả các loại khiêu vũ phương Đông. Khiêu vũ được thực hiện bằng cách nhảy thật mạnh từ chân này sang chân kia, đầu gối của chân giơ lên ngang tầm một trong ba điểm lựa chọn là rốn, tim hoặc cổ. Tandava tượng trưng cho sự chiến đấu giữa các lực, sự sống và cái chết. Với ư nghĩa đó, các cánh tay dang ra cầm các biểu tượng truyền thống liên hệ đến mỗi bên: Trong tay mặt [tượng trưng cho sức sống của trí cẩn mật và nhạy  bén] cầm một con dao, thanh kiếm hoặc giáo chĩa ba. Trong tay trái [tượng trưng cho nỗi kinh sợ cái chết] là một con rắn, đầu lâu hay ngọn lửa. Tandava phát triển tâm trí của người chiến sĩ tâm linh chân chính, có quyết tâm cứng rắn chống lại và chiến thắng tất cả các h́nh thức sợ sệt, ngay cả với cái chết. Lối khiêu vũ mạnh mẽ này, thực hành cá nhân cũng như tập thể, chỉ dành riêng cho nam giới v́ nó có tác dụng kích thích nam tính, phát triển sinh lực và rèn luyện can đảm.

Kaoshiki theo gốc tiếng Phạn có nghĩa là "vỏ bên ngoài" hoặc " lớp bao của trí" do Baba sáng tạo, đặc biệt dành cho phụ nữ nhưng nam giới tập cũng tốt, có tác dụng không những phát triển thân thể mà c̣n ảnh hưởng đến các lớp vi tế của năo. Vũ điệu thực hiện bằng cách hai bàn tay chắp lại trên đầu, trong tư thế thẳng, thân được nghiêng ba lần qua phải rồi hai lần trở lại vị trí ban đầu  sau đó nghiêng sang trái, phía trước và sau. Phần dưới của thân giữ nhịp với các động tác tay bằng  cách bước về bên phải  và trái, chạm phần đầu  bàn chân trên mặt đất, bên sau gót chân kia. Phần cuối của vũ điệu được thực hiện bằng cách nện mạnh bước chân hai lần tại chỗ, đạp mạnh các gót chân lên đất.

Hai vũ điệu này ngoài tác dụng tâm linh c̣n giúp ngăn ngừa và chữa được nhiều chứng bệnh. Chúng tôi vẫn thường nhảy sau các buổi thiền và tập Asanas. Trong cuộc thi ở DMS này, có hai người trong nhóm Đà Lạt của chúng tôi đoạt giải thưởng.

Trong DMS, chúng tôi cũng hát rất nhiều bài đă tập từ trước hoặc mới được tập. Tất cả đều là sáng tác của Baba bằng tiếng Phạn hoặc tiếng Anh với những giai điệu rất truyền cảm và ư nghĩa sâu sắc. Baba quả là một người phi thường, trong tám năm cuối Baba đă sáng tác được năm ngàn không trăm mười tám bài hát. Tôi rất thích bài "The tiny green island" bằng tiếng Anh với ư nghĩa : "Tôi yêu ḥn đảo nhỏ xanh tươi này được trang trí và vuốt ve bởi biển cả. Có phải tôi chỉ là một h́nh bóng bé nhỏ tách biệt giữa mênh mông? Không, không, không. Tôi không cô đơn. Cái vĩ đại luôn ở cùng tôi". Đó là  tâm trạng b́nh an tuyệt vời của người luyện tập Yoga. Tiếng hát cất lên với giai điệu mượt mà làm chúng tôi thực sự cảm thấy thanh thản b́nh yên.

Ba ngày DMS mau chóng kết thúc. Đây là một kinh nghiệm và một môi trường hoàn toàn khác với hoàn cảnh hiện tại và bầu khí chúng tôi đang  sống hàng ngày. Ở đây chúng tôi gọi nhau với tên tâm linh bằng tiếng Phạn mà mỗi người được Dada Didi đặt cho sau khi học thiền. Những cái tên có ư  nghĩa tuyệt đẹp thể hiện khát vọng ước mơ vươn tới của người luyện tập yoga. Chúng tôi từ biệt nhau bằng cách chào Namaskar, hai tay chắp lại đưa lên ấn đường rồi hạ xuống tim với ư nghĩa "Tôi chào sự thần thánh trong bạn với tất cả sự nồng ấm của trí óc và con tim tôi".

Trước khi ra về, Dada A người Úc mà tôi mới gặp chép trong sổ tay tặng tôi bài thơ bằng tiếng Anh mà Dada mới làm : " Những giọt nước mắt mà tôi đă thấy, đă cảm nhận có ư nghĩa ǵ? Đó là những giọt nước mắt của yêu thương, vui sướng và chân phúc. Trong quá khứ đó đă là những giọt nước mắt của khổ đau và hối tiếc. Nhưng sự xung đột của quá khứ đă làm thay đổi những giọt nước mắt của khổ đau thành những giọt nước mắt của vui sướng.

Việt Nam, Việt Nam. Tiến lên về Chân phúc mới sau cùng".

Đó là sự chia sẻ và lời chúc của một Dada nước ngoài lần đầu tiên đến Việt Nam. Quả thực tôi cảm thấy gần gũi những người xa lạ này như những người anh em một cách hoàn toàn tự nhiên. Mặc cho mọi suy nghĩ và lo toan về những vấn đề thời sự, chính trị và thế sự, con đường tâm linh vẫn mở ra trong tâm hồn tôi. Trên con đường đó tôi đă gặp rất nhiều  người cùng hướng về một thế giới thật sự không biên cương và thanh b́nh.

                  

 

 

 

 

28*  Anh vẫn lọc cọc đi bộ khi người khác đă " lên Dream"

 

Lại thêm một người bạn nữa của tôi vào cuộc. Đó là Trần Minh Thảo. Anh vừa viết mấy bài liền nhân danh đảng viên để phê phán Đảng và nhà cầm quyền, cũng ghi rơ tên họ, địa chỉ dưới bài viết như chúng tôi vẫn thường làm. Nhóm bốn người của chúng tôi đă thành nhóm năm người. Một tỉnh nhỏ như nơi chúng tôi đang ở mà có đến năm người công khai phê phán Đảng quả là hơi nhiều. V́ thế chúng tôi nghe được nhà cầm quyền nhận định Đà Lạt là một "điểm nóng" sau Hà Nội và Sài g̣n. Điều này được công khai hóa trong một số báo cáo về t́nh h́nh tư tưởng và an ninh chính trị trật tự xă hội được phổ biến hàng tháng ở các địa phương. Chúng tôi biết thế nào cũng sẽ bị phản kích sau một thời gian khá lâu nhà cầm quyền lúng túng đến nỗi trong một hội nghị Tổng bí thư Đảng đă kêu lên về sự bất lực của bộ máy văn hóa tư tưởng và yêu cầu phải vươn lên đấu tranh với những luận điệu thù địch, diễn biến ḥa b́nh.

Trần Minh Thảo là bạn thân của tôi hồi c̣n sinh viên. Anh cũng là giáo sư trung học và cùng dạy với tôi một trường. Anh đến với cộng sản rất sớm, từ lúc học năm thứ hai đại học v́ gia đ́nh có "truyền thống cách mạng". Cha anh là cán bộ cộng sản tập kết ra Bắc hồi anh c̣n bé. Trong thời kỳ đấu tranh sôi động của sinh viên Huế, anh được móc nối đưa ra chiến khu học tập và kết nạp đoàn. Tuy thân nhau nhưng anh rất kín đáo, không hề cho tôi biết v́ anh hiểu lúc đó tôi không ưa cộng sản. Về quan điểm chính trị, anh và tôi gần nhau v́ cùng có tinh thần dân tộc và chống bất công áp bức. Chúng tôi cùng học văn và đều nuôi mộng văn chương. Về cá tính, anh và tôi khác nhau rất xa. Trong một trang nhật kư thời đó, tôi đă so sánh hai người. Anh "sâu im bền ngầm mănh liệt như biển", tôi " cuồng nộ hào hoa đa t́nh như gío".

Trái với tôi, bề ngoài anh có vẻ rất khô khan khắc khổ, tôi biết anh là người  có trái tim đa cảm. Chúng tôi đă sống gần nhau và cùng đi với nhau biết bao chặng đời cho măi đến tận hôm nay. Tuy nhiên chúng tôi giao du với nhau theo cách "đạm thủy" của người quân tử Trung hoa thời xưa, ít khi bộc lộ t́nh cảm mặc dù chia sẻ với nhau rất sâu sắc mọi vấn đề. Anh thuộc loại người biết nhiều. Chính anh đă chỉ bảo cho chúng tôi nhiều kinh nghiệm khi Đan Tâm sinh con đầu ḷng dù anh c̣n độc thân và anh đă chăm sóc con đầu của chúng tôi khi tôi phải lo cho Đan Tâm sinh đứa thứ hai. Anh biết đoán bệnh và cách chữa bệnh cho trẻ con bằng cả thuốc tây và thuốc nam nên chúng tôi gọi đùa anh là "ông lang vườn". Đan Tâm thường chê tôi là "đoảng" trong những chuyện này khi so sánh với anh v́ tôi hầu như chẳng biết ǵ cả. Có một thời gian chúng tôi ở chung nhà trọ, cùng ăn gạo lứt muối mè và "luyện" hàng pho sách tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung. Anh và tôi càng gắn bó hơn khi cùng sinh hoạt trong một tổ đảng của chi bộ bí mật, tổ chức chỉ đạo  giáo viên và  thanh niên học sinh trong thị xă tham gia đấu tranh cách mạng.

Sau ngày thống nhất Trần Minh Thảo được phân công làm công tác chính quyền, tôi làm đoàn thể ở địa phương. Anh là người có tŕnh độ  tổ chức, lănh đạo nhưng theo tôi nhận thấy anh ít được ḷng người, không phải chỉ đối với những người quen biết cũ mà cả đối với một số cán bộ, đảng viên trong thị xă. Có lẽ do anh quá nguyên tắc và cứng rắn. V́ thế nhiều người đâm ra oán trách anh.

Anh là kẻ không biết quỵ lụy ai nên chẳng bao lâu người ta đă cho anh ra ŕa. Bộ máy tổ chức này không chấp nhận những người tự do phóng túng như tôi và cũng không dung thứ những người giữ nguyên tắc và độc lập không chịu kết bè cánh như anh. Mới hơn bốn mươi tuổi anh đă phải về hưu non. Người ta đă đánh anh bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và thâm độc. Có lúc người ta tung tin vu cáo anh là CIA, là sĩ quan "ngụy" chui vào tổ chức. Có lúc anh được phân công chỉ đạo củng cố hợp tác xă nông nghiệp ở một xă Thiên Chúa giáo toàn ṭng, một việc bị người dân rất ghét, rồi sau đó lại sắp xếp anh ứng cử Hội đồng Nhân dân ở địa phương đó, thế là anh thất cử. Học tṛ cũ của anh có thể làm phó chủ tịch trong khi anh chỉ được bố trí làm ủy viên thư kư trong bộ máy chính quyền địa phương. Anh khó ḷng đương đầu nổi với tổ chức. Không phải anh chỉ bất măn về việc bố trí công tác bất hợp lư do bè phái mà anh c̣n nhận ra những sai lầm căn bản của toàn bộ đường lối chính sách. Lương tri của một người trí thức buộc anh phải lên tiếng.

Anh giành thời gian nghiên cứu lại chủ nghĩa Mác-Lênin và đứng trên quan điểm của một đảng viên cộng sản để phê phán. Có lần tôi gợi ư anh nên tuyên bố ra khỏi đảng nhưng anh không đồng ư. Tôi không rơ anh có c̣n tin ở chủ nghĩa Mác-Lênin không hay chỉ dùng Mác-Lênin như một chiêu bài để có thể công kích đảng cầm quyền một cách an toàn. Đây cũng là  cách một số người ở thời điểm này chọn làm v́ không muốn công khai đối đầu với chế độ.

Trần Minh Thảo trước đây là một cây bút lư luận của nhóm văn nghệ chúng tôi. Anh được coi là lư thuyết gia của nhóm. Văn anh viết hơi khô nhưng lập luận chặt chẽ, sắc bén. Mấy năm gần đây tôi và anh ở xa nhau, tuy cùng trong một tỉnh, thỉnh thoảng mới gặp. Khi nói chuyện hoặc qua thư từ, tôi thấy anh và tôi có quan điểm nh́n nhận khác nhau về nhiều vấn đề. Chúng tôi tôn trọng lẫn nhau v́ ở tuổi này và qua trải nghiệm bản thân, khó ai thuyết phục được ai.

Bài "Đọc thơ Đông Tŕnh, suy nghĩ về văn nghệ, chính trị và sám hối" tôi gởi cho anh, anh có viết thư góp ư cho tôi. Anh cho rằng tôi cứ phân tích t́nh cảm, tư tưởng suy nghĩ chủ quan của ḿnh là đủ, không nên nói "chúng tôi" v́ không kéo người khác vào cuộc để cho người khác suy nghĩ như ḿnh mới là dân chủ. Anh nhấn mạnh khi chọn lựa có tính cách chính trị th́ cũng chẳng có ǵ sai để phải chối bỏ nó. Đó là chọn lựa của giai đoạn ấy. Giai đoạn ấy qua đi mà vẫn cố giữ là sai, chối từ toàn bộ giai đoạn ấy cũng sai nốt. V́ vậy chẳng có ǵ phải hối tiếc về các sáng tác thời ấy  cũng như cứ nhắc lại như một thành tích cũng là bậy nốt. Anh khuyên tôi cẩn thận khi viết về người khác, phải hết sức tránh quy kết nếu không phải chính người đó viết ra. Anh cho rằng qua bài viết của tôi anh cứ thấy thấp thoáng bóng dáng của sự thanh minh, kêu gọi ḷng trắc ẩn của ai đó và điều ấy thật không nên.

Những điều anh nêu hoàn toàn trái ngược với những điều tôi nghĩ. Tôi chẳng nói thay cho ai nhưng tôi có quyền suy nghĩ về người khác. Tôi không phủ nhận quá khứ nhưng tôi có quyền nh́n nhận lại quá khứ. Tôi không cần thanh minh và kêu gọi ḷng trắc ẩn của ai nhưng tôi cần phản tỉnh và sám hối, trước hết cho chính ḿnh, như một cách sống trung thực. Dù sao suy nghĩ thế nào là quyền của anh. Đó là tự do tư tưởng. Dĩ nhiên nếu cần tranh luận, tôi nghĩ anh và tôi đều rất sẵn sàng.

Đă khá lâu tôi không thấy anh viết lách ǵ nên tôi rất mừng khi thấy mấy bài mới của anh xuất hiện. Quả thực khi c̣n đang công tác, cũng như tôi, anh không thể nào viết nổi nhưng thời gian đó cũng đă  giúp anh nh́n nhận được nhiều vấn đề. Thời gian mới về hưu non, anh cũng làm đủ chuyện như nuôi gà, nuôi thỏ, trồng hoa. Trí thức về vườn và bị cô lập chỉ có thể làm được những chuyện đó thôi. Nhưng điều đáng mừng là tư tưởng tự do của chúng tôi lại có dịp phát triển mạnh mẽ v́ không chịu bất cứ sự ràng buộc nào.

Chỉ có điều đáng buồn cho Trần Minh Thảo là anh không có xe để đi lại. Từ trước anh có xe honda nhưng sau ngày thống nhất, thấy dân ai cũng khổ, anh bán xe đi bộ để dễ ḥa đồng. Sau này có người bà con đi nước ngoài muốn tặng anh chiếc xe anh cũng không nhận. Bây giờ hầu hết cán bộ đảng viên đều đă "lên Cub, lên Dream" th́ anh vẫn lọc cọc đi bộ. Hóa ra những ai sống quá lư tưởng là những người dại, như nhiều người đă nhận xét. Nhưng có lẽ "dại" là một thái độ sống tích cực khi người ta có lư do để lựa chọn.

                  

 

 

 

 

29*  Hoài niệm về những phút bay bổng của tâm hồn

                     

                       Bày  tỏ

  

Ngôi  sao  nhỏ  như  một lời  thánh thiện

   Xóa  tan  đi  những  ước mộng điên rồ

   Ta siết nhẹ  giữa  ṿng tay ảo ảnh

   Thấy  một ḿnh  chới với  giữa hư vô

 

               Em thanh sạch  như  một  trời nắng gió

                Ta  mây buồn  rợp  bóng  xuống trần gian

                Suốt  một kiếp  ta  không  lời  cầu nguyện

                Dù tai ương dội xuống đến hoang tàn

 

                              Em  vời xa  như  một  vùng  cố  quận

                              Ta  lâng lâng  kẻ phiêu  lăng  quay  về

                               Ta  chỉ  đứng  bên này  bờ  hiu  quạnh

                                Phố  nhỏ  âm  thầm  chối  bỏ  bước si mê

 

                                                    Ta  trải  hồn ra  tận  cùng  hố  thẳm

                                                     Em  nhẹ  nhàng bước tránh  vực trào  sôi

                                                     Kẻ  cuồng si  đă mất  lời  điên dại

                                                     C̣n trong ta một nỗi  nhớ  bồi hồi 

                  

 

 

 

30* "Bạn không bao giờ cô đơn. Lực  hướng dẫn các v́  sao  cũng sẽ  hướng  dẫn  bạn."

 

Tết  năm  nay  tôi và  cả gia đ́nh  về thăm  mẹ  tôi đang ở một tỉnh miền Trung. Đă lâu lắm chúng tôi mới sắp xếp được một chuyến đi cả nhà như vậy. Tôi dặn hai con mua vé xe lửa trước và gần đến ngày, Đan Tâm và tôi từ Đà Lạt về Sài g̣n rồi cùng hai con đi luôn. Thời gian gần đây xe lửa đă được cải tiến và Tết khách đi nhiều nên phải đăng kư  mua vé  trước cả tháng.

So với hồi mới thống nhất th́ quả thực ngành đường sắt đă có bước cải tiến rơ rệt. Hồi đó chúng tôi có đi ra Trung một chuyến và bây giờ nhớ lại vẫn c̣n lạnh gáy. Chúng tôi phải nằm ngồi vạ vật ở ga gần suốt đêm để chờ tàu v́ không ai biết giờ nào tàu sẽ đến. Lên tàu, chúng tôi không sao t́m được một chỗ trên ghế để ngồi v́ tất cả đă bị chiếm hết và không ai chịu nhường ai. Tàu chạy chậm, mất cả hai ngày một đêm và chúng tôi phải nằm ngồi bừa lên hành lư đồ đạc của hành khách chất đống trên sàn. Đă thế nào có được yên, ban ngày cũng như suốt đêm, luôn có người đi lại, phần lớn là bọn buôn lậu, họ dẫm bừa lên chúng tôi. Suưt nữa tôi đă đánh lộn v́ không sao chịu được dù tôi biết bọn  buôn lậu này sẵn sàng dùng dao búa. Thật là một chuyến đi địa ngục.

Bây giờ chúng tôi đă có ghế ngồi đàng hoàng, trước ghế c̣n có bàn, mua phiếu ăn được mang thức ăn đến tận nơi. Ngồi mỏi chúng tôi có thể đi dạo một ṿng qua các toa khác cho dăn chân. Dĩ nhiên so với tiện nghi trong tàu ở các nước văn minh c̣n thua xa nhưng dù sao cũng không đến nỗi nào. Xe lửa tuy chạy chậm song cũng thoải mái hơn xe đ̣ phải ngồi bó gối chật chội. Tuy nhiên có một việc làm tôi mất cảm t́nh với ngành đường sắt và với nơi tôi vừa xuống tàu. Nguyên trên tàu có mấy bà hành khách không mua được vé nhưng cứ lên, nhân viên trên tàu nhận tiền và giải quyết cho họ đi với điều kiện họ phải ngồi trên sàn. Họ chấp nhận v́ gần Tết ai cũng cần đi, không thể chờ được. Tôi thấy một bà ǵa và một chị mang bầu có vẻ rất mệt mỏi v́ ngồi dưới sàn không có chỗ tựa. Họ từ Sài G̣n đi đến một tỉnh tiếp theo tỉnh tôi sắp xuống. Chúng tôi cũng chịu tốn tiền mua vé đến tỉnh tiếp theo v́ khi các con tôi mua vé, vé đến tỉnh chúng tôi muốn đi đă hết. Khi sắp xuống ga, Đan Tâm và tôi cho họ hai vé của ḿnh để họ có thể ngồi ghế không bị đuổi, v́ khoảng đường vẫn c̣n khá xa. Lúc ra ga để về nhà, các nhân viên kiểm soát đóng cửa bắt xuất tŕnh vé và nhất định không cho chúng tôi ra v́ cho rằng chúng tôi có thể đă đi lậu vé. Cuộc căi cọ kéo dài cả tiếng đồng hồ với sự tham dự của nhiều nhân viên ga khác và người nhà của tôi đi đón. Tôi nói chúng tôi không thể đi lậu vé v́ vào ga ở Sài G̣n phải xuất tŕnh vé, trên xe cũng có người kiểm soát vé  và trên vé không ghi việc phải giữ vé để xuất tŕnh khi ra ga. Các  nhân viên nhà ga nhất định không chịu, họ đ̣i chúng tôi phải mua lại hai vé từ Sài G̣n ra. Mệt mỏi và chán ngán, tôi chỉ muốn mua lại vé theo yêu cầu của họ để về quách cho xong nhưng số tiền không phải nhỏ. Cuối cùng một nhân viên có trách nhiệm giải quyết cho chúng tôi mua vé từ ga gần nhất, chỉ tốn thêm một ít tiền.

Người nhà của tôi đều trách sao chúng tôi lại cho vé làm ǵ để phải chịu phiền phức rắc rối. Trong một lúc tôi khó thể nào giải thích về ḷng trắc ẩn và cay đắng thấy rằng có lẽ ở thời đại này người ta không c̣n ḷng trắc ẩn nữa. Mọi người cứ sống cho ḿnh và lạnh lùng nh́n người khác muốn sống sao th́ sống. Đan Tâm và tôi thuộc một thế hệ đă lạc hậu với thời đại rồi. Dù sao tôi cũng mừng v́ thấy Đan Tâm hoàn toàn chia sẻ với tôi trong chuyện này. Chúng tôi không hề hối tiếc việc cho vé dù nó đă gây cho chúng tôi biết bao phiền toái bực bội và cả tốn tiền.

Mẹ tôi đă ǵa yếu lắm. Mẹ chỉ c̣n có thể ra vào quét nhà và ngồi trước cửa nh́n người qua lại. Tuy nhiên mẹ rất vui v́ ít khi cả nhà đoàn tụ đông đủ. Anh và em gái tôi đang ở đây với mẹ, chỉ c̣n một em trai tôi ở Sài G̣n là không về được. Mẹ ít nói nhưng tôi thấy mắt mẹ ánh lên niềm vui khi chúng tôi tụ họp ăn uống tṛ chuyện. Khi mẹ nói, mẹ chỉ nhắc toàn chuyện xưa v́ hiện tại mẹ không có ǵ để nói cả.

Mấy ngày Tết ở đây mưa liên miên nên chúng tôi chỉ ra phố vài lần. Phố cũng chẳng có ǵ vui ngoài một nơi tổ chức hội chợ mà chúng tôi không muốn vào v́ biết chỉ có những tṛ chơi mang tính cờ bạc nhảm nhí. Thành phố này tôi đă sống gần mười năm thời nhỏ và coi như quê hương thứ hai của ḿnh. Càng về sau dân cư càng đông đúc, phố xá nhà cửa mọc san sát làm nhiều nơi tôi không nhận ra.

Có một khoảng đường trước trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh được mở rộng thành đại lộ với hàng đèn cao áp sáng choang về đêm. Dân địa phương có vẻ tự hào về đại lộ này, dù nó chỉ có một khúc thôi. Một  ngôi nhà thờ ngay trong phố đang xây dở từ trước ngày thống nhất vẫn c̣n bị để hoang phế. Một trụ sở Ủy Ban Nhân Dân phường nhỏ xíu, xập xệ và bẩn thỉu trong khi bên cạnh là một khách sạn tư nhân sang trọng cao mấy tầng với mọi thứ đều rực rỡ bóng loáng. Nhà bưu điện được xây cất lại lớn hơn, bên trong toàn kính, có cả cây cảnh, với nhiều dịch vụ thông tin hiện đại, nhân viên lịch sự, nói được ngoại ngữ. Đó là những nét gây ấn tượng mạnh nơi tôi khi trở về thành phố này.

Những ngày Tết ở đây ngoài việc gia đ́nh đoàn tụ và thăm mẹ, chúng tôi không được vui v́ bệnh của Đan Tâm. Em đă bị căn bệnh phụ nữ quái ác này từ lâu, ban đầu được xác định là bướu ở cổ tử cung. Hơn năm năm trước bác sĩ đă cắt cho em một lần nhưng sau đó những triệu chứng lại tái phát. Từ gần một năm nay em lại bị ra huyết thường xuyên nên người lúc nào cũng xanh xao gầy g̣ và luôn mệt mỏi. Em cũng đă đi khám bệnh ở Sài G̣n và thường xuyên phải uống và chích thuốc để cầm máu. Mấy ngày này bỗng dưng em bị ra huyết rất nhiều gần như bị băng. Tết mà tôi đi mua băng vệ sinh liên tục v́ em cần rất nhiều. Chúng tôi cố đợi qua mấy ngày Tết  để đưa em vào Sài G̣n chữa trị v́ em gái tôi nói bệnh viện ở đây không chữa nổi bệnh này, vào chỉ thêm phiền phức rồi lại phải chuyển viện vào Sài G̣n. Trong khi chờ đợi, hằng ngày chúng tôi phải nhờ một bác sĩ quen chích thuốc cầm máu. Đan Tâm gần như lả đi nên tôi rất lo ngại.

Từ đây đi Sài G̣n không có đường bay, mua vé xe lửa không được, chúng tôi đành đi xe đ̣ ngay chuyến đầu tiên sau Tết. May mà lúc này Đan Tâm đă hơi bớt ra huyết. Sau chuyến đi gần như dài vô tận, vào Sài G̣n tôi lập tức đưa Đan Tâm đến bệnh viện phụ sản nổi tiếng nhất ở đây, nơi chuyên lo cho sản phụ và chữa những bệnh tương tự của phụ nữ. Bác sĩ chẩn đoán ban đầu xác định là u xơ tử cung, có dấu hiệu tiền ung thư và quyết định sẽ giải phẫu cắt bỏ toàn bộ tử cung.

Mới nghe đến "ung thư" dù chỉ là "tiền ung thư", Đan Tâm  đă hoảng hốt xanh mặt v́ biết bao nhiêu người, trong đó có một số người quen của chúng tôi đă chết v́ căn bệnh quái ác này sau khi phát hiện, không sớm th́ muộn. Đan Tâm phải nằm mấy ngày để làm các thủ tục xét nghiệm và đợi phân lịch trước khi  giải phẫu. V́ bệnh nhân quá đông, số giường bệnh viện hạn chế nên hai người phải nằm một giường, quay đầu về hai phía khác nhau. Chúng tôi cũng bớt lo đôi chút khi vào đây mới thấy cũng có nhiều người mắc bệnh này và người ta nói có nhiều trường hợp được chữa khỏi. Bệnh nhân đến hầu như khắp các tỉnh phía Nam. Từ bé gái  mười ba tuổi đến thiếu nữ chưa chồng hay phụ nữ đă có chồng con, cho đến các bà cụ hơn bảy mươi tuổi, ai cũng có thể mắc bệnh này. Thật là kỳ lạ. Có người bướu ở tử cung lớn như một quả bóng, bụng căng ra cứ tưởng là có thai. Nói chuyện với nhau người ta bảo rán tu để kiếp sau đừng đầu thai làm đàn bà, đàn bà quá khổ. Đúng là vào đây không ai c̣n muốn nói đến chuyện tranh giành danh lợi ǵ nữa mà chỉ nói đến chuyện tu nhân tích đức và cầu khẩn cho qua nạn kiếp.

Mấy ngày đợi giải phẫu, ban ngày tôi quanh quẩn bên giường Đan Tâm hoặc ngoài hành lang, ban đêm về nhà chú em ngủ v́ không có chỗ để ở lại. Các con của chúng tôi hàng ngày cũng vào thăm mẹ. Tôi đă chứng kiến và nghe không biết bao nhiêu cảnh đời chỉ ở trong một pḥng và hành lang của bệnh viện này. Có bệnh nhân được mẹ, em hay chồng đi nuôi nhưng có người v́ bệnh chồng bỏ, không con, nằm thiêm thiếp một ḿnh không ai ngó ngàng. Có người được cả gia đ́nh vào thăm, ăn uống chuyện tṛ ́ xèo bên giường bệnh. Có người lặng lẽ nhai cơm trong cà mèn của bệnh viện, nước mắt lă chă. Tôi làm quen với một số người nhà của bệnh nhân vào thăm nuôi, phần lớn ở các tỉnh nam bộ. Họ kể cho tôi nghe chuyện làm ăn vất vả của ḿnh và tôi thấy những vấn đề chính trị thời  sự tôi quan tâm đối với họ h́nh như thật vô nghĩa.

Thời gian này bệnh viện có một bước cải tiến gọi là hoạt động dịch vụ, ngoài những hoạt động chính thức quy định từ trước. Bệnh nhân có thể làm các thủ tục xét nghiệm ngoài giờ hành chính, chọn bác sĩ để đỡ đẻ hay giải phẫu, chọn pḥng nằm điều trị có tiện nghi theo ư muốn với điều kiện trả tiền cao hơn. Tất cả được gọi là "dịch vụ". Điều này làm thể hiện rơ sự chênh lệch khác biệt giữa người giàu và người nghèo nhưng cũng có nhiều thuận lợi. Khi có tiền, mà thường lúc có người đau ốm nhất là bệnh nặng, gia đ́nh ít ai ngại tốn kém. Nếu tốn tiền mà được chữa trị, chăm sóc chu đáo, không cần phải lo lót, xin xỏ đủ cửa, đủ người như trước đây th́ cũng đáng. Tôi hỏi thăm và không ngần ngại chọn bác sĩ nổi tiếng nhất ở đây để giải phẫu cho Đan Tâm, c̣n pḥng nằm phải đợi sau khi mổ xong mới được quyền đăng kư, lúc mới vào đành  phải nằm ở pḥng đợi chật chội do bệnh viện bố trí.

Sau mấy ngày chờ đợi lo âu, cuối cùng cũng đến ngày giải phẫu. Tôi và hai con đều có mặt bên cạnh và hết  sức trấn an Đan Tâm. Trước khi được đưa đi, Đan Tâm c̣n dặn tôi nhớ ǵn giữ sức khỏe để c̣n viết nhiều tác phẩm mới  và dặn các con tôi đủ thứ. Tuy các bác sĩ đă giải thích việc giải phẫu này ở đây rất b́nh thường, không có ǵ nguy hiểm, tôi và các con đă hết sức an ủi nhưng trong ḷng Đan Tâm vẫn rất lo lắng và cứ bị ám ảnh bởi việc giải phẫu xong có thể không bao giờ tỉnh lại. Thật tội nghiệp cho Đan Tâm. Tôi khuyên Đan Tâm hăy đọc câu Mantra của bài thiền thứ hai để được thanh thản.

Đan Tâm được đưa vào pḥng mổ lúc chập tối, sau khi mổ mất hơn một giờ rưỡi đă hôn mê suốt bảy giờ liền. Đêm đó, tôi và hai con đợi ngoài hành lang của pḥng mổ. Hai con tôi mệt mỏi dựa tường ngủ vật vờ. Tôi quyết định ngồi thiền suốt đêm và cầu nguyện cho Đan Tâm. Tôi thương Đan Tâm quá. Em suốt đời vất vả và sầu khổ, không có mấy ngày vui và thảnh thơi. Em đă hi sinh cho chồng con nhiều quá mà cha con chúng tôi chưa làm được ǵ nhiều cho em. Nếu em có mệnh hệ nào th́ cuộc sống quá bất công hay nghiệp quả của em quá nặng. Dù cái chết có giải thoát th́ tôi cũng khó đành ḷng. Chưa bao giờ tôi suy nghĩ nhiều về Đan Tâm như đêm thao thức trắng đó ở hành lang của bệnh viện.

Sáng sớm, chúng tôi đă đến chầu chực ở cửa pḥng mổ. Khi cửa mở và Đan Tâm được đưa ra trên chiếc giường có bánh xe đẩy, chúng tôi chạy ùa đến. Đan Tâm mở mắt nh́n chúng tôi mấp máy môi và h́nh như chưa tỉnh hẳn. Tôi hỏi cô y tá sơ qua về t́nh trạng của Đan Tâm và tạm yên ḷng. Coi như cơn nguy hiểm đă qua và bây giờ  chỉ c̣n đợi hồi phục. Đan Tâm được đưa vào pḥng hồi sức. Tôi chỉ vào được mấy phút rồi bị đuổi ra cho y tá làm thuốc. Mấy giờ sau tôi mới lại được vào. Đan Tâm đă tỉnh hẳn, nh́n tôi cố gượng mỉm cười. Tôi nói đùa: "Thế là xong. Không chết đâu mà lo. Anh đă biết trước mà." Đan Tâm không nói chuyện  được v́ vết mổ quá gây đau đớn. Em rên rỉ không chịu nổi và yêu cầu y tá chích thuốc giảm đau.

Ngày hôm sau Đan Tâm được chuyển qua pḥng điều trị. Tôi đăng kư pḥng cỡ loại trung b́nh, có hai giường, ở chung với một người bệnh khác và có toa lét riêng trong pḥng khá sạch sẽ. Không cần ǵ ở pḥng riêng có máy lạnh, tivi v́ vừa quá đắt vừa không cần thiết, lại buồn. Ở đây có người đồng bệnh tṛ chuyện, khách vào thăm viếng đông, Đan Tâm sẽ cảm thấy đỡ cô độc dù tôi lúc nào cũng ở bên cạnh. Ban đêm tôi chỉ cần một chiếc ghế xếp là có thể ngủ lại được.

Mấy ngày đầu Đan Tâm rất ái ngại khi tôi phải giúp em tiểu tiện bằng cách mở đầu chiếc ống nhỏ cắm vào bàng quan. Kể ra có phụ nữ giúp nhau làm việc này tốt hơn nhưng có sao. Đan Tâm đă làm cho tôi biết bao điều và trong mọi lúc khó khăn chỉ có chúng tôi ở bên nhau thôi. Sau vài ngày em đă có thể tự lo được và sức khỏe khá dần lên, ăn uống được chút ít.

Những ngày kế tiếp, bạn bè của chúng tôi và nhóm Yoga ở Sài G̣n đến thăm và giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Chúng tôi thật sự cảm động khi có hôm thấy hai Dada vào thăm. Dada Y người Ấn Độ đi trước xách một giỏ trái cây, Dada R người Phi Luật Tân ôm một chiếc mền theo sau. Didi S người Đài Loan đi cùng với một nhóm Yogi Sài G̣n đến thăm nhiều lần, chuyện tṛ vui vẻ và c̣n hát cả kiirtan để chúc lành cho Đan Tâm ngay trong pḥng bệnh làm người nằm cùng pḥng rất đỗi ngạc nhiên. Biết Đan Tâm bị bệnh nguy hiểm phải giải phẫu, các Dada Didi đă  tổ chức quyên góp trong các  Yogi ở Sài G̣n và cả ở địa phương khác để giúp đỡ chúng tôi một món tiền khá lớn. Anh Lân, chị Mỹ Lan, Quốc Vĩnh em trai tôi và một số bạn bè cũng giúp đỡ, hai con của chúng tôi cũng đă đi làm kiếm được tiền. Do đó khi mới vào bệnh viện chúng tôi rất lo chuyện tiền nong nhưng khi ra viện chúng tôi đă có tiền không những đủ trả mọi viện phí mà c̣n dư để mua  thêm thuốc bổ và một số đồ dùng. C̣n sữa và trái cây mọi người vào thăm biếu th́ vô số kể, chúng tôi phải đem cho bớt. Riêng sữa, sau đó chúng tôi dùng hơn nửa năm mới hết dù đă đem đổi một ít để lấy các loại thực phẩm cần thiết khác.

Tôi nói đùa với Đan Tâm là trong những ngày nằm bệnh viện, em được bầu là bệnh nhân có nhiều người thăm viếng nhất. Có lẽ đúng thế thật. Tôi không ngờ chúng tôi không ở Sài G̣n, chỉ mới bất ngờ đến đây nhập viện nhưng rất nhiều bạn bè quen biết đến thăm giúp đỡ. Chúng tôi không hề cô đơn. Không những chỉ  "cái vĩ đại luôn ở cùng tôi" như lời bài hát của Baba mà c̣n bao  nhiêu bạn bè vẫn ở bên chúng tôi trong lúc khó khăn hoạn nạn. Baba  c̣n nói: "Bạn không bao giờ cô đơn. Lực hướng dẫn các v́ sao cũng sẽ hướng dẫn bạn." Chưa bao giờ chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ điều này như thế.

                  

 

 

 

31*   Đan Tâm. Những trang nhật kư chưa xa

 

"Nỗi đau không thể tránh khỏi !

Từ một sự kiện nhỏ đă gợi nhớ trong tâm hồn em biết bao điều. Quá khứ ào ập về như cơn nước lũ. Em không tránh khỏi và nỗi đau dằn xé tâm hồn em. Em xin lỗi anh. Nếu lúc đó em có thể chui xuống đất, bay lên trời để anh đừng nh́n thấy v́ em quá vụng về trong cuộc sống, em không thể dấu nó đi đâu và cũng không thể thản nhiên. Nhưng thú thật em không muốn anh biết và chia sẻ với em, v́ đă bao lần anh khẳng định điều đó. Nhưng khổ quá th́ chỉ có nước mắt mới nói thay lời mà em biết anh rất ghét "nước mắt của em". Ôi, em cũng muốn biết bao được vỗ về an ủi. Và cô đơn biết bao với nỗi đau của chính ḿnh.

Anh đơn giản sự việc của em và coi tâm hồn của em cũng đơn giản quá. Chuyện xui xẻo của em ở trường cũng là do em quá  nóng nảy và quá trung thực nhưng với những hạng người đó em không thể nhún nhường. Em không sợ ǵ cả  nhưng em buồn v́ bất cứ ở đâu trong xă hội này t́m một người chân thật, có t́nh người khó quá. Người với người chỉ có quyền lợi trên hết, dù là quyền lợi về tiền tài, danh vọng, quyền lực và ngay cả trong lănh vực t́nh cảm.

Anh nói đúng, không bằng ḷng với chính ḿnh th́ ở đâu cũng không vừa ḷng nhưng tại em  ước mơ nhiều quá và tất cả chỉ là ảo vọng. Trong xă hội này đ̣i hỏi và t́m kiếm một tấm ḷng chân thật như t́m kim đáy biển. Trong bao gia đ́nh mà em đă biết, vợ chồng con cái dối trá nhau th́ tại sao ḿnh lại đi t́m cái không có ấy. Từ đó em nghĩ đến chúng ta. Xin lỗi anh, em đă nghĩ là chính anh cũng đă có lần, có vấn đề "không nói rơ" với em dù em biết mười mươi đi nữa. [Theo ư anh đó  là điều anh thấy không quan trọng và muốn tránh cho em những đau khổ dằn vặt không cần thiết ]. Thế th́ tại sao em phải phiền ḷng  những kẻ dưng người lạ kia.

Và anh ơi, nỗi đau không tránh khỏi! Từ nỗi đau tâm hồn đến cơn đau thể xác. Mà căn bệnh của em, thú thật em chỉ muốn nó kết thúc nhanh cho xong, chứ em không muốn chữa chạy. Em biết có những vấn đề chúng ta nghĩ khác nhau, nhất là trong  lănh vực t́nh cảm, cũng đúng thôi, v́ em là phụ nữ. Trong t́nh cảm em vẫn không chấp nhận được quan niệm phóng túng của anh. Em vẫn có thể thông cảm anh, hiểu anh nhưng em vẫn đau khổ, dù bộc lộ hay câm nín th́ nỗi đau vẫn không tránh khỏi. Anh hiểu em không? Và thời gian có làm phai tàn niềm đau này chăng? Em không biết nữa. Có lẽ. Có lẽ khó quá anh ơi.

Tuy vậy  em luôn luôn đồng ư về mọi suy nghĩ của anh trong công việc và rất thích thú là anh đă làm được những việc ấy, góp phần đổi mới xă hội nói chung mà tương lai con chúng ta sẽ sống. Buổi tối đi xem phim "Những con chim nép ḿnh chờ chết", em cảm thấy hạnh phúc biết bao khi đă chia sẻ với anh những suy nghĩ ấy. Lúc đó chỉ muốn hôn anh một cái để tỏ ḷng kính yêu của ḿnh v́ anh đă  đến với em như một đốm lửa tin yêu trong cuộc đời. Mà có lẽ anh không hiểu được tâm trạng của em lúc ấy.

Lời anh nói khi ḿnh chưa về với nhau, "Mỗi người đều có cuộc sống của chính ḿnh", và v́ thế em đă bỏ tất cả để ra đi. Nhưng bây giờ đă trải qua bao năm trong cuộc sống chung này, em đă không nghĩ như thế v́ cuộc sống của chính ḿnh nếu không có những liên quan, những người thân yêu th́  cuộc sống ấy cũng vô nghĩa. Cuộc sống của em ngày xưa  nếu không có anh th́ em có bỏ gia đ́nh, bạn bè ra đi không? Em hiểu ư ích kỷ - vị tha của anh nhưng v́ cuộc sống của chính ḿnh mà làm đau ḷng người khác th́ đó có phải là hạnh phúc không? H́nh ảnh mẹ em nằm ngủ buổi sáng lúc em ra đi với anh cứ ẩn hiện trong trí óc em bao năm  cho tới bây giờ. Và em hiểu thấu nỗi đau của bà trong lúc ấy.

Nhắc đến điều này để làm ǵ? Em muốn khẳng định với anh bây giờ em không c̣n nghĩ được ǵ về "cuộc sống của riêng ḿnh". Đă lâu lắm rồi em chỉ c̣n nghĩ đến cuộc sống của anh và của các con. Em đă coi đó là hạnh phúc, là cuộc sống của chính ḿnh. Và hạnh phúc này không chỉ là niềm vui mà c̣n là nước mắt.

V́ vậy mà một thoáng muốn đi khỏi nơi này. Và một phút muốn nằm yên măi măi. Đây là lời tâm sự chứ không phải trách cứ. Xin lỗi anh"

 

***

"Hoàn toàn  anh hiểu và cảm nhận em là người yêu thương, chia sẻ, lo lắng, chăm sóc anh nhiều nhất trong cuộc đời này. Lẽ nào anh không cho rằng đó là hạnh phúc lớn nhất của ḿnh. Nhưng [than ôi!] đối với anh đó vẫn chưa là tất cả. Vẫn có những ǵ của riêng anh em vẫn chưa hiểu, chưa thông cảm và chia sẻ được. Đó là một sự thật, cũng là mối mâu thuẫn mà chúng ta đă phải cay đắng nhắc lại bao lần.

Ở lứa tuổi này, có lẽ anh và cả em nữa, chúng ta không thay đổi được những ǵ là ḿnh đâu, mà chỉ càng ngày càng khắc đậm thêm h́nh ảnh chính ḿnh trong cuộc sống. Dĩ nhiên điều đó làm chúng ta đau ḷng. Và cần ǵ phải khẳng định măi hoài những ǵ ta phải chịu đựng, đ̣i hỏi những ǵ ở người kia mà ta biết sẽ không bao giờ đáp ứng. Tốt hơn là lựa chọn một cách xử lư trong một tự do tương đối, trong mối quan hệ ràng buộc đă định h́nh. Cho tới lúc phải lựa chọn một cái ǵ quyết liệt.

Dù sao anh vẫn thương em vô cùng. Nhưng đừng quá yếu đuối...

Tiếng c̣i xe rồi.

Anh phải đi đây"

 

***

 

"Cái ǵ của riêng anh mà em chưa hiểu?" Không ! Em hiểu chứ. Em hiểu anh nhiều lắm. V́ chính "cái ǵ của riêng anh" ấy đă đưa anh đến với em như một định mệnh. Hiểu và thông cảm! Nhưng chia sẻ th́ ... , v́ là "của riêng anh", nên em không được phép chia sẻ chăng?  Anh ơi, sự đau đớn của em là v́ quá hiểu anh đấy thôi. Em chỉ là em trong đời thường, với trái tim của một người vợ, người mẹ, với bao lo toan vụn vặt cho đời sống hàng ngày [ không thể nào thiếu được]. Em và những "yêu thương, hiểu biết, thông cảm, chia sẻ, lo lắng, chăm sóc" của cuộc đời thường không thể có đôi cánh để bay đến với những giấc mơ huyền thoại đẹp đẽ - "một thoáng phù du điên rồ"- của anh. Cái đó nó không như cuộc sống của anh với em, một cuộc sống luôn cọ sát với thực tế. Mà thực tế th́ luôn phũ phàng...

"Cái ǵ của riêng anh" có đưa em ra khỏi anh không? Hỡi "sự say mê phù phiếm trong cuộc đời này"?

Đă bao đêm, đă bao ngày, từng giây từng phút, em tự hỏi cái ǵ đă giữ em  có mặt trong cuộc đời anh suốt gần hai mươi năm qua. Ḷng yêu thương! Sự cảm thông ! Chia sẻ! Và nếu không hiểu anh th́ làm sao được ???

Dù sao trong em duy nhất chỉ là "Tấm ḷng"!.

  

 

Xem tiếp Phần 2, Chương 32 - 36

trở về MỤC LỤC

 

                  

 

art2all.net