TRẦN DZẠ LỮ

 

TRẦN DZẠ LỮ

V NHỮNG DẤU CHN ĐỜI PHIU LNG

 

Lương Thư Trung

 

 



         
Trần Dzạ Lữ sanh năm 1949 tại Huế, lm thơ từ lc mới 16 tuổi, ci tuổi m nhiều đứa trẻ cng thời với ng cn v tư lự, hồn nhin giữa những cảnh đời nhiều bất trắc. Trần Dzạ Lữ những ngy mới lớn ấy đ biết ngậm ngi trước cảnh đưa tiễn một người nằm xuống bn đời:

Người đi theo bng thin thu,
Bỏ đầy năm thng xa m nhn gian.
Nhớ thương chim khc trn ngn
Nước ngơ đất ngẩt trời mang mang sầu

(Nhớ một nh văn, 1965)

Những nhm chữ bng thin thu, bỏ đầy năm thng, trn ngn, trời mang mang sầu quả l những ngn ngữ thơ theo lối ni by giờ, Trần Dzạ Lữ đ được Trời ph cho ci ti dng chữ để chuyn chở những nỗi niềm của một tm hồn nghệ sĩ thật ngậm ngi khi nhớ về một nh văn đ ra người thin cổ, cũng l một nghệ sĩ.



L một người sanh ra vo những năm cuối của thập nin 1940, nghĩa l thế hệ lớn ln trong chiến tranh vo những năm 1960 sau đ, Trần Dzạ Lữ phải từ gi học đường v ln đường ra mặt trận. Chiến tranh, qua thơ Trần Dzạ Lữ, l một dấu tch khng đầy như Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số 1, Ma H Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam, nhưng thơ ng cũng ghi đậm nt một thời binh lửa cũ. Cũng vo ci thời ma h đỏ lửa ấy của cuộc chiến, Trần Dzạ Lữ với Bữa cơm ngoi chiến trường ng lm tại địa danh Phong Điền vo ngy 25 thng 5 năm 1972, cho người đọc hnh dung ra ci gian lao cơ cực cng mối nguy hiểm của người lnh giữa chiến tranh với đầy lng nhn i của một con người lc no cũng nhớ về mẹ hiu qụanh nơi gc trời no, về em đang chạy giặc, về xm lng, về đất trời cy cỏ dặm ngn:

Bốn năm thằng lơ lo
o quần rch tả tơi
Ăn cơm bn xc người
Tay bốc tay cầm sng

Lng nhớ mẹ phương ty
thương em chạy giặc
Xm lng sầu khn khuy
Đất trời thm hiu hắt.

Ăn xong mc nước ruộng
Uống đại cho qua ngy
Qu nh em c biết
Chinh chiến thn lưu đy?

Ăn được l điều may
C khi hai, ba ngy
Khng ăn, chẳng c uống
Ta nằm với cỏ cy.

(Bữa cơm ngoi chiến trường, 25-5-1972)(*)

Chiến tranh trong thơ Trần Dzạ Lữ cn l bt tch của một thời kỳ nhiễu nhương của đất nước. N l vết tch trăm năm của những buổi giao tranh chết chc ngoi mặt trận giữa những thanh nin cng trang lứa của hai miền Nam Bắc một thời; nhưng qua ngi bt của Trần Dzạ Lữ, người đọc nhận ra ci tnh cảm chan chứa dạt do của người lnh miền Nam khi lm trận cũng như lc trận mạc vừa tn:

Chiều Mai Lộc ni đồi đin loạn
qun hai bn đnh đ mt ma
thằng xấu số chết v xấu số
bỏ vợ con đau xt ở qu nh

Chiều Mai Lộc khng mưa khng nắng
lửa chy trong hồn những kẻ đi xa
ny anh lnh nhỏ nhoi miền Bắc
giữa sương m anh c nhận ra ta ?

Chiều Mai Lộc thnh nơi nghĩa địa
qun hai bn ngả gục giữa đất trời
my khc đầu non v buồn ly loạn
cỏ cy run trong gi lạnh tanh rồi

(Chiều Mai Lộc, tặng PH.T. Ma Thu)

Người lnh trận khi ở đồng bằng uống nước mc từ dưới ruộng bn, v khi người lnh băng qua những cnh rừng gi, đời lnh cũng chẳng hay hơn g. Ở đ cũng chỉ c cơ cực v hiểm nguy, chết chc, l những xc thy r mục, những mi hi tanh nồng nặc của thuốc sng v thy người, l bia mộ của cc chiến hữu cng đơn vị đựng đầy trong hồn, l những nụ hn người tnh chưa kịp th vội vng hn đất của hố hầm, l những thương nhớ thiết tha một chốn cũ với những hẹn h bỏ lại:

Em đừng hỏi ở rừng c g lạ
C g đu xương r với hồn đau
V khi khng thng ging ln ni
Đời đy ta v thần thnh xa nhau

Em đừng hỏi ở rừng c g lạ
C g đu ngy buồn b v cng
Đm th tối nhớ trăm phương ngn ng
Nhớ mẹ gi hm sớm mỏi mn trng

Em đừng hỏi ở rừng c g lạ
C g đu giy o đ hi rnh
Khi về phố chắc ta thnh khch lạ
Thnh người đin với dng th buồn tnh.

Em đừng hỏi ở rừng c g lạ
C g đu bia mộ dựng trong hồn
Bạn b ta ưu tư ngủ gục
Với rừng gi rch nt thương tm

Em đừng hỏi ở rừng c g lạ
C g đu lửa chy trong đầu
V lng ta thc sầu đi ng
Biết ng no về chốn cũ tm nhau

Em đừng hỏi ở rừng c g lạ
C g đu ta từ buổi ln đường
Hn chưa kịp em- by giờ hn đất
Thay chiếu giường bằng hầm hố c đơn.

Em đừng hỏi ở rừng c g lạ
C g đu rừng r điu tn
Nai lạc dấu- ngn thương trăng cũ
Ta nhớ người tnh quay quắt trong sương.

(Thư gửi người ở lại, năm 1971)

Chiến tranh vo năm 1971, trước ma h đỏ lửa của 1972 l như thế đ. Hn chưa kịp em by giờ hn đất. Thay chiếu giường bằng hầm hố c đơn!!! Thế nhưng người lnh m nhất l người lnh lm thơ nữa, th ci nỗi tương tư lại được Trần Dzạ Lữ chở đầy trong nỗi nhớ:

Ra sng thấy gi Thượng ngồi
Giặt khăn vắt o miệng cười v tư
Nhớ em ai lấp cho b
Hồn ti một di đất m mịt mưa.

(Ngy Xun cũng ở Thường Đức, 1971)

Theo chn Trần Dzạ Lữ, người đọc thơ bắt gặp ng đi khắp cng. C lc ng lại về Bến Tre xứ của dừa v cy lnh tri ngọt miệt vườn. Nhưng vo thời chinh chiến si sụt ấy của đất nước, người lnh d l người lnh lm thơ vẫn khng khỏi nhận ra chiến tranh đang ở cng khắp mọi nơi cho d đang giữa miệt vườn:

Về đy trời đất khng ma
Phiu linh bước ngựa, chơi đa tử sinh.

(Thơ lm ở Bến Tre, 1974)

Với ci chết trong chiến tranh l ci chết khng cầu m đến. Người lnh lm thơ Trần Dzạ Lữ cũng đ ni ln ci giy pht mong manh ấy như những nỗi niềm cho chnh mnh v cho nhiều chiến hữu cng hon cảnh như mnh trong thời binh lửa sụt si ngn ngụt:

Chiều ln nốc rượu giải buồn
Rừng kia đứt ruột ta đờn đứt dy
Xa em nhớ thng thương ngy
Ng ra b bạn một bầy c đơn
Ma xun chu giọt đầu non
Lương chưa lảnh kịp biết cn sống khng?

(Chiều ti)

Thơ Trần Dzạ Lữ viết về chiến tranh cn nhiều v mỗi mỗi cu thơ no của ng cũng l những bt tch của một thời binh lửa như những vết hằn ln k ức 33 năm sau chiến trận đ tn v hm nay đọc lại thơ ng, người đọc cảm nhận vẫn như cn đ những ma chinh chiến chưa tn.


L một nh thơ, v l một chứng nhn của thời đại m tc giả đ sống, Trần Dzạ Lữ d bỏ thơ một thời gian di, kh di sau chiến tranh, 1975-1989, với 17 năm khng thấy thơ ng, v rồi thơ ng lại c mặt với những dấu ấn về những bước chn đời của mnh qua những thăng trầm của dng sng đời nhiều sng gi. Trần Dzạ Lữ vẫn l một người lữ hnh theo dng sống tun tro v mỗi một bến bờ no ng gh lại giữa cuồng lưu của dng sng tri, ng đều khắc họa lại như một vết tch của một người đi qua v để lại.

Người đọc cảm nhận được điều ấy qua lc ng đi cải tạo về, bỏ Huế vo Si Gn, rồi lại ra miền Trung ln rừng tm trầm; lại khng kh hơn g, ng lại xui v Si Gn lm đủ mọi nghề như v xe đạp, bn rau muống, mua bn ve chai, đồng vụn v giờ đy ng lm nghề giữ xe ở chợ Trần Hữu Trang, Ph Nhuận, Si Gn. D trải qua những chặng đời nhiều bất trắc như thế, nhưng ở một gc su trong hồn thi sĩ, Trần Dzạ Lữ vẫn khng thi suy tư về cuộc đời, về thế nhn v về kiếp người.

Xin mời qu vị nghe nỗi c đơn của một thi sĩ m chng ti tnh cờ đọc được qua mười năm Ở chợ bn rau xanh của tc giả:

Mười năm ở chợ khng tri kỷ
Ta đứng thu thn một nỗi buồn
Sng bảnh mắt ra ngồi độc ẩm
Chiều về tra vấn lấy lương tm

Mười năm ở chợ, ơi trần trụi
Em ạ, em xa ở kiếp no ?
C thấy ngy xanh ta chuốc mộng
Khng thnh nn đắp chiếu thương đau

Ở chợ đng, sao hồn cứ lạnh
Đốt thuốc hoi khng ấm nửa chiều
Thin hạ đn nhau đi kiếm sống
Nhn i? Tang thương - ngẫu - lục nhiều

Ta bn rau xanh ngy mệt lử
Đm cn ngồi đọc sch thnh hiền
Cố qun cơm o- Vng danh lợi
Sao đời nỡ hối thc bn lưng?

Mười năm ở chợ khng thay đổi
Tm tnh ta xưa vốn thật th
Đu ước cng hầu mơ khanh tướng
Bạc tuổi thanh xun mong c nh !

Hồn ta ở chợ thương qu cũ
Nhớ o nu xưa, nhớ mẹ gi
Nhớ bng bưởi rụng đm mười su
Thơm ngt mi em trước hin nh

Mười năm ở chợ khng tri kỷ
Gc chuyện văn chương thấy chẳng đnh
Nn ta độc thoại- Ta đy nhỉ?
Thương nhớ xa xăm một bng hnh.

(Ở chợ, tặng Trần Xun An, 1989)


Quả thật đy l nỗi hiu quạnh tột cng của một tm hồn thi sĩ giữa chợ đời ồn o m lạnh nhạt tnh người, để thi nhn bồi hồi than thở một mnh : Ở chợ đng, sao hồn cứ lạnh. Đốt thuốc hoi khng ấm nửa chiều. Ở đy, l người đọc cng thế h với tc giả, rồi cũng thấy chiến tranh, cũng vo đời giữa thời binh lửa v rồi cũng trải qua bảy năm trong trại cải tạo; rồi về lại nh v lăn lc kiếm sống trn những ruộng đồng ngp lụt, ti cảm nhận được nỗi c đơn tận cng của tc giả vo những ngy ở chợ ấy của ng. Than i, phải chăng đy l một thời kỳ cơ cực trong dng đời đầy kham khổ ấy, chừng như cn đong đầy trong nỗi nhớ của những chng trai trẻ ngy no d nay tuổi đời đang cng nhau ở buổi xế chiều ny !!!

Những năm thng ở chợ. Chợ rau xanh hay chơ đời cũng chẳng khc g nhau, Trần Dzạ Lữ c những ước mơ rất gấn l muốn kiếm tm một nơi chốn nhỏ nhoi để vế đặt được ci lưng sau những ngy mỏi mệt gữa chợ đời l một căn gc lửng v rồi nh thi sĩ lang bạt kỳ hồ ấy rồi ra cũng đ rờ được cht ước mơ trong đời thật:

Ny gc lửng, hơn nửa đời rồi đ
Ta mơ c my giữa cuộc ph vn
Đời thử ta như lửa thử vng
Cay đắng bủa quanh hồn xưa chao chớn
C đi lc c cn ch đun
Muốn xui tay trả lại tuổi vng
Chim c tổ m ta th phiu lng
Dắt nhau đi quờ quạng kiếm thin đng.

(Ngy xun tr chuyện cng gc lửng, 1989)

Nhưng một cch no đ, người đọc cn bắt gặp những cu thơ về cuộc đời, gc lửng nơi ny, ngoi nghĩa l một nơi chốn che nắng che mưa, n cn l gc lửng cuộc đời, mấy mươi năm trải qua những năm thng sống giữa chợ đời như căn nh, nhưng thật ra chỉ mới l một gc lửng ở lưng chừng giữa một đời người:

Cn ta nữa, thằng lm thơ lang thang
Cũng phải bơi theo dng đời chng mặt
Lầm lũi kiếm từng li vng giữa trời cao đất thp
Rủi may ơi, ta biết đu lường

Sống kh v cng ơi gc lửng
Thế m mấy mươi năm ta cũng qua cầu
Nay c my nhẹ gnh chim bao
Nhưng ngoảnh lại tc ru đ bạc.

(Ngy xun tr chuyện cng gc lửng, 1989)

Tự nhận mnh l người ht dạo bn đời, Trần Dzạ Lữ l tiếng ht lun kiếm tm một cung bậc rất gần, rất m đềm, rất nhn i hầu trao gởi đến những tm hồn đồng cảm về một quảng đời, về những năm thng thi nhn phiu bạt giữa những ma binh lửa hay những buổi chợ đời đầy bất trắc của kiếp người. V l chứng nhn của thời đại m tc giả đ sống v từng trải, Trần Dzạ Lữ cn l người viết sử bằng thơ qua ngn ngữ của ring ng, một thứ ngn ngữ nhất qun từ những ngy đầu ng bắt đầu lm thơ v cho mi tới by giờ. Phải chăng, đ cũng l ci nt ring rất đặc th của Trần Dzạ Lữ sau ấy mươi năm khắc khoải giữa dng đời bằng những dấu chn đời phiu lng của ng . !!!

Houston, ngy 23-4-2008,

đọc lại v bổ tc ngy 4-11-2010

 

Lương Thư Trung

____________

Phụ ch:

(*) Tất cả cc vần thơ trong bi viết ny trch từ cuốn Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến, quyển 1, phần thơ của Trần Dzạ Lữ, do Thư Ấn qun sưu tầm v xuất bản năm 2006 v in rải rc trong cc tạp ch Thư Qun Bản Thảo

 

 

 

Nguồn: http://thatsonchaudoc.com/

 


 

 

art2all.net