|
TRẦN DZẠ LỮ
TRẦN DZẠ LỮ VÀ HÁT
DẠO BÊN TRỜI
Trần Doăn Nho

Mỗi lần
nhắc tới cái tên Trần Dzạ Lữ là kư ức gợi đến ngay bài thơ “Bài thơ
thứ hai cho người t́nh sầu cố xứ”. Tôi c̣n nhớ bài thơ đó đăng ở tờ
Văn. Đó không phải là bài thơ đầu của Lữ. Cũng không phải là bài thơ hay
nhất của Lữ. Tôi nhớ cái tựa đề. Nói cho đúng, tôi nhớ hai chữ “cố xứ”.
Người t́nh sầu cố xứ. Nghe là lạ. Cố xứ cũng như cố hương. Nhưng nghe có
cái ǵ ngậm ngùi hơn là cố hương.
Hỡi người em lệ sầu mắt đỏ
Áo trắng dài trong nắng vàng rưng
Em biết không chiều nay anh nhớ
Thân lạc xứ người hồn đau gửi cố hương.
Trong vài bài thơ về sau, thỉnh thoảng Lữ có dùng lại
từ này. Không phải cho tựa đề, mà là trong ḍng thơ, nghe da diết vô
cùng:
Những hồn vắt trên non
Cũng đau t́nh cố xứ.
(Thánh đọa)
Nhớ điên trời cố xứ
Áo tím ai qua cầu
Ta như là ngọn gió
Hôn tóc đầm mưa ngâu...
(Đêm mưa nghe tiếng đàn bầu).
Đọc Lữ, ta sẽ thấy cái “t́nh cố xứ”, cái “trời cố xứ”
đó – hăy tạm gọi là “tâm thức cố xứ” - loanh quanh lẩn quẩn dưới những
giọng thơ của chàng, không lúc này th́ cũng lúc khác. Cố xứ là nơi chốn
cũ. Là Huế. Lữ/Huế. Tôi/Huế. Hồ Minh Dũng/Huế. Lê Bá Lăng/Huế. Mường
Mán/Huế. Trần Hoài Thư/Huế. Vân vân. Một cái tên thường gọi nhớ những
cái tên như thế. V́ Huế thích thơ thích văn. Người Huế có cái lạ. Đang
sống ở Huế, với Huế, mà hễ mới rời Huế, xa Huế, là nghe
Huế-thương-Huế-nhớ y như thể bỏ Huế, y như thể không biết khi mô mới về
lại Huế. Mà có xa ǵ cho cam. Ở Sài G̣n (hay ngay cả ở miền Tây) th́ chỉ
là một cái vé máy bay hai, ba tiếng đồng hồ. H́nh như đó là thứ tâm thức
đặc thù Huế. Ở th́ muốn đi (v́ buồn quá!). Mà đi th́ lại nhớ. Nhớ th́
muốn về. Nhưng về thăm chứ không muốn ở lại. Huế là cố xứ. Huế trở thành
cố xứ. Khi đă gọi là cố xứ là không hy vọng ǵ về lại được chốn cũ. Hay
nếu có về lại cũng không thể t́m ra những ǵ mà ḿnh thích, ḿnh tưởng
tượng. Nói cho đúng, cố xứ là thứ thiên-đàng-tuổi-nhỏ đă mất. Cố xứ đó
có người em gái, có bà mẹ già, có “nhai bắp rang đọc chuyện Kim Dung”,
có tuổi thanh xuân, có em thắt bím màu hồng, có một cô Tôn Nữ nào đó...
Tóm lại, đó là nơi chứa đựng những thứ mà cho dù có trở lại Huế th́ vẫn
không thể t́m lại được. Hăy nghe Lữ than thở:
Bây chừ hoa phượng nở
Rưng rưng chiều nội thành
Ta về phơi thương nhớ
Bên đường kỷ niệm xanh
Một ḿnh đi loanh quanh
Kiếm t́m mùi hương cũ
Phượng nở sen cũng nở
Sao không nở t́nh em?
...T́m đâu ra em hở
Tôn Nữ của ngày xưa?
Một thời ai nghiêng nón
Sửng sốt hồn trai tơ!
(Mùa hạ về Thành Nội)
Thực ra, cái tâm thức cố xứ đó của Lữ c̣n được h́nh thành từ một t́nh
huống dở khóc dở cười khác của thời đại: lính-học tṛ. “Là cậu học sinh,
từ sân trường bước vào ngay quân trường, chiến trường, nhiều khi chưa
kịp kinh qua cuộc sống xă hội, trong các quan hệ nghề nghiệp, t́nh yêu,
hôn phối. Trong mỗi cậu học tṛ mười lăm, mười bảy, đă có một người lính
mai phục đợi chờ. Và trong mỗi người lính về sau, vẫn c̣n cậu học tṛ ẩn
náu, dở dang” (Đặng Tiến, Lời tựa cho tuyển tập “Thơ miền Nam trong thời
chiến”). Đặng Tiến thật chí lư khi phát hiện tính cách khá đặc thù đó
của một thế hệ lớn lên là đă thấy chiến tranh nằm lù lù trước mặt! Nói
một cách khác, Lữ nằm trong đại đa số những người trẻ tuổi chưa sống hết
những nôn nao tươi rói tuổi học tṛ th́ thoắt một cái, lao vào ṿng binh
lửa.
Chính nơi đó ta và em đă sống/Tṛn những ngày ngai ngái tuổi mười lăm
(...)
Chính nơi đó hồn ta như chiếc áo/Chưa bị người đời ruồng rẫy đem vày
(...)
Chính nơi đó tóc em bay từng sợi/Cho ta thầm yêu mây của trời sao. .
(Ngày vẫy biệt khu rừng mơ tuổi nhỏ)
Đang “ngai ngái tuổi mười lăm”, hồn c̣n “như chiếc áo” mới, nh́n “tóc em
bay từng sợi” để mà mộng mơ, th́ bỗng “khi không tháng giêng lên núi/Trời
đày ta và thần thánh xa nhau”, Lữ đành phải trút bỏ lại tất cả để lên
đường. Đi đâu? Đi đến nơi:
quân hai bên ngă gục giữa đất trời
mây khóc đầu non v́ buồn ly loạn
cỏ cây run trong gió lạnh tanh rồi...
(Chiều Mai Lộc)
Tất cả thoáng chốc như một cuộc đời dựng ngược:
Bốn năm thằng lơ láo
Áo quần rách tả tơi
Ăn cơm bên xác người
Tay bốc, tay cầm súng
Ăn xong múc nước ruộng
Uống đại cho qua ngày
Quê nhà em có biết
Chinh chiến thân lưu đày?
(Bữa cơm ngoài chiến trường/1972)
Bài thơ đây hiện thực này không có trong tập thơ “Hát dạo bên trời”,
nhưng có mặt trong tuyển tập “Thơ miền Nam trong thời chiến” do Thư Ấn
Quán của Trần Hoài Thư sưu tập và phát hành ở Hải Ngoại. Và mới đây, đặc
biệt được Nam Lộc, người điều khiển chương tŕnh ca nhạc Asia, chọn đọc
nguyên bài trong Video “T́nh khúc từ chiến trường”, nói lên thân phận
của người lính VNCH và ca ngợi những đóng góp của họ cho đất nước mà đă
tùng bị lăng quên v́ là những người thua cuộc. Hăy đọc tiếp vài đoạn
trong một bài thơ chiến trường khác, cũng không có mặt trong “Hát dạo
bên trời”:
Chiều Mai Lộc núi đồi điên loạn
Quân hai bên đánh đá mút mùa
thằng xấu số chết v́ xấu số
bỏ vợ con đau xót quê nhà
Chiều Mai Lộc không mưa không nắng
lửa cháy trong hồn những kẻ đi xa
này anh lính nhỏ nhoi miền Bắc
giữa sương mù anh có nhận ra ta?
(Chiều Mai Lộc)
Bài thơ này, hiện thực không kém, hơi thở lại trào lộng, khiến cho nó
mang một nét bi tráng riêng, nhắc ta nhớ đến một số bài thơ đầy mùi khói
súng của Trần Hoài Thư hay bài “Qua sông” của Tô Thùy Yên.
Có lẽ do một số hoàn cảnh tế nhị, thơ lính không nhiều trong tập thơ
“Hát Dạo Bên Trời”. Lữ có lẽ đă chọn bỏ đi nhiều bài, chỉ giữ lại một số
rất ít bài thơ mang hơi hướm chiến tranh và đời lính trước 1975. “Thư
gửi người ở lại” có lẽ là một trong những bài đầy “tâm trạng” của
người-lính-bất-đắc-dĩ Trần Dzạ Lữ:
Em đừng hỏi trong rừng có ǵ lạ
Có ǵ đâu xương ră với hồn đau
Và khi không tháng giêng lên núi
Đời đày ta và thần thánh xa nhau
(...)
Em đừng hỏi trong rừng có ǵ lạ
Có ǵ đâu bia mộ dựng trong hồn
Bạn bè ta ưu tư ngả gục
Với rừng già rách nát thương tâm.
(...)
Em đừng hỏi trong rừng có ǵ lạ
Có ǵ đâu ta từ buổi lên đường
Hôn chưa kịp em – bây giờ hôn đất
Thay chiếu giường bằng hầm hố cô đơn
Em đừng hỏi trong rừng có ǵ lạ
Có ǵ đâu rừng rú điêu tàn
Nai lạc dấu – ngàn thương trăng cũ
Ta nhớ người t́nh quay quắt trong sương
Bài này làm năm 1971, là một trong những năm cao điểm nhất của cuộc
chiến. Khác với mấy đoạn thơ trích ở trên, bài này có ngôn từ trau chuốt
hơn, bóng bẩy hơn với nhiều ẩn dụ và tất nhiên, nghệ thuật hơn. Xương ră
với hồn đau/bia mộ dựng trong hồn/quay quắt trong sương... Những cụm từ
đọc lên nghe ngậm ngùi và nhói đau cho thân phận người lính. Nên không
ngạc nhiên ǵ khi nghe lời van xin:
Ta chỉ xin một ngày
Hồn thôi in dấu đạn
Biển rộng cánh t́nh bay
Cho đời thôi mắc cạn...
(Thánh đọa)
“Mắc cạn”. Đúng là mắc cạn. Thời chúng tôi là thời của những người mắc
cạn. Cả một thế hệ mắc cạn. Những người lính như Lữ lại càng mắc cạn.
Tiến không xong, lùi cũng chẳng được. Cũng vẫy cũng vùng đấy, nhưng cũng
chỉ để vẫy và vùng. Và khát khao. Và trông ngóng. Hơn bất cứ ai, người
lính là người thiết tha nhất trông ngóng ngày tàn cuộc. Để có nước mà
bơi. Để có tương lai mà mơ uớc.
Ngày tàn cuộc người về thăm quê quán
Đồng cỏ mừng đón vó ngựa hồng xưa.
... Giọt lệ mừng và tay vui vẫy gọi
Bếp lửa hồng nhúm lại buổi hoang sơ
... Có chị hồi sinh tuổi xưa rực rỡ
Phơi tóc chiều xuân bên giậu hoa vàng
... Để ta thắp t́nh ngợi ca Tôn Nữ
Nụ hôn nào thơm hương sứ hương sen?
(Đường vào nội thành mùa xuân trải chiếu)
Vó ngựa hồng, bếp lửa hồng, phơi tóc chiều xuân, mùa xuân trải chiếu...
Chao ôi, một giấc mơ hoà b́nh thơm lừng hạnh phúc!
Khốn nỗi, ḥa b́nh rồi, cái thế hệ vừa học tṛ vừa lính ấy ở miền Nam
lại vẫn mắc cạn. Lần mắc cạn này dai dẳng hơn, dở khóc dở cười hơn, và
có khi tàn nhẫn hơn. Thoát được “nỗi buồn chiến tranh”, Lữ - cũng như
hàng triệu triệu người miền Nam - lại rơi vào “nỗi khổ ḥa b́nh”. Là
phía thất trận, chàng phải đi ở tù. Chàng trở thành công dân hạng hai,
thành kẻ đứng ngoài. Không c̣n một cơ may nào trong xă hội mới, con
đường duy nhất cho những người thất trận là đem hết sức b́nh sanh ra,
bươn chải kiếm sống. Tất cả chỉ c̣n một mục đích duy nhất: sống c̣n.
Cuộc chiến đấu để sống c̣n này, tuy rất âm thầm, nhưng không kém phần
sinh tử. Hăy nghe Lữ nói về đạo quân t́m trầm thời xă hội chủ nghĩa:
Nói chung, đám t́m trầm
V́ đói cơm rách áo
người yêu coi như không
Vợ con là gió thoảng
... Đâu phải gị phong lan
Tim tím chiều mắt ngó?
Cũng không phải chùn chân
Trước núi rừng muông thú
Nhưng mà, cả binh đoàn
Đều rưng rưng nước mắt
... Dốc c̣n cao mong đợi
T́nh c̣n sầu chơi vơi
Riêng ta th́ em ơi
Nhớ miền Nam tha thiết
Sài G̣n em có biết
Nỗi đau của mưa rừng?
(Khi qua dốc Mạ Ơi ở Ba Ḷng)
Nghe hao hao như Lữ đang tả cảnh chiến trường thuở nào thuở nao!
Tôi cũng đă từng là dân “ngậm ngải t́m trầm”. Cho nên đọc những giọng
thơ này ḷng thật vô cùng cảm khái và thấm thía. Nhân đây, tôi xin trích
một đoạn ngắn trong phần kết bài “Ngậm ngải t́m trầm” của tôi như là một
chia xẻ cùng nỗi gian nan của Lữ:
“Người xưa ngậm ngải t́m trầm. Ngày nay, t́m trầm không cần ngậm ngải
nhưng không thiếu gian nan. Xưa cũng như nay, khi đói, người ta thường
t́m rừng: môn, khoai, cây, trái... Thiên nhiên hào phóng, lúc nào cũng
sẵn sàng dâng hiến của cải cho con người. Nhưng, con người tham lam, thô
bạo. Rừng không c̣n thiêng, nước không c̣n độc. Núi rừng bây giờ toang
hoác trước những đợt tiến công không thương tiếc của con người: bom,
đạn, đào vàng, xẻ núi, đốn gỗ, lấy trầm... Riêng trầm hương, một loại
cây quư hiếm của núi rừng Việt Nam, qua một thập niên bị đạo quân đói -
hậu quả của nền kinh tế xă hội chủ nghĩa - tấn công tàn phá, có lẽ đă
hoàn toàn bị tiêu diệt. Khoảng từ năm 1983 đến 1993 - mà cao điểm là
những năm từ 1984 đến 1990 - đạo quân cả trăm ngàn người đó gần như có
mặt suốt dăy Trường Sơn, từ Việt Bắc đến cao nguyên miền Trung, để t́m
trầm: mọi cây trầm gần như bị chặt trụi. Chẳng rơ có được bao nhiêu cây
thoát khỏi búa ŕu của con người. Họa chăng chỉ c̣n những cây con. Có
thể cả trăm năm sau, với điều kiện môi sinh được bảo vệ thật tốt, may ra
rừng núi Việt Nam mới thấy lại được cây trầm. Dù sao, có cả triệu người
sống qua được cái giai đoạn tàn khốc đó của lịch sử nhờ trầm: đó là
những người miền Nam thất cơ lỡ vận, những người miền Bắc nghèo đói.
Xin cảm ơn trầm!
Và cũng xin ngậm ngùi thắp nén hương ḷng cầu nguyện cho cây trầm được
tái sinh ở núi rừng Việt Nam. Dù một trăm hay hai trăm năm nữa!”
(“Loanh quanh những nẻo đường”, kư và tùy bút, nxb Văn Mới, Cali, 1998)
Hồi c̣n ở Việt Nam, tôi có ghé thăm Lữ cùng với Hồ Minh Dũng. Gia đ́nh
anh ở trên một căn gác nhỏ, trong một con hẻm nằm trên đường Trương Minh
Giảng, thuộc quận Phú Nhuận. Ngay phía dưới là một cái chợ nhỏ. Nhỏ
nhưng khá tấp nập. Hàng ngày hai vợ chồng ra bán rau ở đó. Chị bán, anh
phụ. Nhà thơ và người đàn bà đă từng là “cô gái Sài G̣n” phơi phới ngày
nào bây giờ ngồi giữa rau, giữa cải, giữa mùi tanh, giữa ruồi, giữa
kiến, giữa những phùng mang trợn mắt, giữa những đốp chát, giữa những
chèo kéo, giành giựt. Ở đó không có thơ mà chỉ có đời sống. Và đời sống
th́ vô danh. Lữ vô danh. Chúng tôi vô danh. Bên những cốc rượu đế, những
kẻ vô danh chúng tôi tự t́m lấy nơi nhau một chút t́nh nghĩa cũ càng,
lỗi nhịp. Chẳng đủ xóa đi được tí nào nỗi nhọc nhằn của cuộc mưu sinh,
lại càng thêm ngậm ngùi cho thân thế những con người qua cuộc phế hưng.
Nhưng dù sao cũng có chút âm ấm t́nh người. Dù chỉ là khoảnh khắc.
Căn gác trọ đi vào thơ anh:
Này gác lửng, hơn nửa đời rồi đó
Ta mới có mày giữa cuộc phù vân
Đời thử ta như lưa thư vàng
Cay đắng bủa quanh hồn xưa chao chớn
... Xin lỗi em cô gái Sài G̣n
Đă v́ ta mà xa giảng đường, thư viện
Xa thời mộng-mơ-luu-luyến
Để hóa thành cổ tượng giữa trầm luân
V́ áo cơm mà em ra chợ
Một hồn buồn giữa cơi rau xanh
Ngày văng tục trên miệng người láu cá
Mà em th́ líu lưỡi bởi không quen
C̣n ta nữa, thằng làm thơ và lang thang
Cũng phải bơi theo ḍng đời chóng mặt
Lầm lũi kiếm từng li vàng giữa trời cao đất thấp(...)
(Mùa Xuân tṛ chuyện với gác lửng)
Bài thơ này có hai chữ lạ: chao chớn. Chao chớn là chênh vênh, chao đảo,
bất định? H́nh như từ này cũng được Lữ dùng ở đâu đó trong một bài thơ
khác. Cùng với “cố xứ”, “chao chớn” mang âm hưởng riêng của Lữ.
Bài “Ở chợ” nghe càng chua chát và ngậm ngùi hơn:
Mười năm ở chợ không tri kỷ
Ta đứng thu thân một nỗi buồn
... Ở chợ đông sao hồn cứ lạnh
Đốt thuốc hoài không ấm nửa chiều?
.... Ta bán rau xanh ngày mệt lử
Đêm c̣n ngồi đọc sách thánh hiền
Cố quên cơm áo – Ṿng danh lợi
Sao đời nỡ hối thúc bên lưng?
Ôi, “nỗi buồn chiến tranh” và “nỗi khổ ḥa b́nh”!
Dẫu sao, rốt cuộc, Lữ đă trở lại, có cơ hội trở lại với thế giới văn
chương chữ nghĩa, điều mà rất nhiều và nhiều năm sau 1975, không ai dám
nghĩ tới. Và “Hát dạo bên trời” đă ra đời. Nh́n ngày tháng ghi trên
những bài thơ, tôi ṭ ṃ nhận thấy bài “Mùa xuân gửi thị trấn hoa vàng”
đề năm 1975 (hẳn là trước tháng 4/75) và bài kế đó đề năm 1982. Nghĩa là
có một quăng thời gian anh không làm thơ (?). Bảy năm. Một khoảng cách
thời gian đầy ư nghĩa. Đó là khoảng thời gian mà xă hội miền Nam trải
qua một cuộc xáo trộn khủng khiếp, người miền Nam quằn quại, vật vă
chuyển đổi từ một dạng sống này đến một dạng sống khác. Đổi lốt. Đổi
đời. Đổi c̣n là may. Phải nói là lật ngược đời!
Ấy thế mà cái lạ là thơ Lữ vẫn thế. Đọc hết tập thơ, ta nhận thấy Lữ
trước và Lữ sau vẫn là một Lữ. Trong lời thơ. Trong hơi thơ. Trong hồn
thơ. Trong chữ và nghĩa. Trong tấm ḷng. Cung Tích Biền nhận xét: “Ba
mươi năm, thơ vẫn giữ được một dung phong thuần nhất” (Lời tựa của tập
“Hát Dạo Bên Trời”). Này nhé, hăy đọc một đoạn thơ của năm 1969:
Ngày tháng rụng đầy ḷng tôi hiu hắt
Chiều cuối năm châm thuốc nhớ nhà
Rượu tha phương uống hoài chưa cạn chén
Buồn người đi đời lạnh bến sông xa
(Xuân tha phương)
Một đoạn khác vào năm 1991:
Tha phương hề, hiu hắt mười năm
Vẫn thương hương bưởi ngái trong hồn
Quê
ơi, mùa rét qua trên tóc
Ta vẫn mơ ṃng đêm sáng trăng!
(Gửi người áo tím/1991)
Một đoạn vào năm 1971:
Chiều lên nốc rượu giải buồn
Rừng kia đứt ruột ta đờn đứt
dây
Xa em nhớ tháng thương ngày
Ngó ra bè bạn một bầy cô đơn
(Chiều tôi)
Một đoạn khác vào năm 1995:
Ngồi đây, thương tiếng đàn tranh
Tay em mười ngón lùa quanh t́nh sầu
Lượng đời hao hụt nơi đâu
Chỉ c̣n nỗi nhớ Tô Châu ta về ...
(Ở quán cà phê Diên Vỹ)
Cũng đều là nỗi buồn chia cách. Lời thơ đơn giản. Hơi thơ nhẹ, êm. Nhịp
điệu chậm răi. Mấy chục năm trôi qua với bao nổi trôi, cay đắng, Lữ vẫn
giữ một cách “hành thơ” riêng của ḿnh, không cần cách tân, không cần
khám phá, không cần kỹ thuật này kỹ thuật nọ ǵ ǵ hết. Không cần giả
danh, theo đuôi. Không “thiền”, không “đạt đạo”, không “hư vô”, không
khinh thế ngạo vật, ngạo người ngạo đời và ngạo ḿnh. Lữ làm thơ với
những ǵ sẵn có trong ḿnh. Hiếm khi t́m thấy trong thơ Lữ những cặp từ
Hán Việt phảng phất mùi triết lư thời thượng, làm dáng. Lữ làm thơ cứ
như là làm cho ḿnh đọc. Buồn th́ nói là buồn. Vui th́ nói là vui. Không
giả vờ vui, giả vờ buồn. Một nỗi buồn hiền lành và chân thật. Và cụ thể.
Thương đứt ruột làng quê bản quán
Nhưng làm sao về lúc tay trắng công danh
- Tiếc công giữ mộng canh h́nh
Gương xưa đă vỡ sao lành được em;
- Ta, bao nhiêu năm mơ về với quê
Mà ngặt nỗi t́nh em theo lận đận
Mẹ v́ ta, mỏi ṃn nơi cố quận
Em v́ chồng ngơ ngác một đường bay...
- Người về chân thọt, t́nh phai
Nương cau, vườn chuối ngọt bùi với ai?
- Mấy năm cháy chậm trong hồn
Nhớ nơi cắt rún lửa đun trong đầu.
Lữ làm nhiều loại thơ khác nhau: năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, tám chữ, lục
bát. Hầu như không có một bài thơ tự do phá cách nào. Cũng đáng xem là
lạ. Giai đoạn Lữ sáng tác mạnh nhất là 1965-1975 là giai đoạn ảnh hưởng
của nhóm Sáng Tạo mạnh mẽ trên văn đàn miền Nam. Tờ báo Văn nơi thơ Lữ
thường xuyên xuất hiện không thiếu loại thơ phá cách. Sau 1975, nhất là
từ giai đoạn “đổi mới” (cỡ những năm 1985, 1986), thơ trong nước không
thiếu loại thơ này. Ấy thế mà Lữ không chịu ảnh hưởng một tí nào. Anh cứ
làm thơ theo cách riêng của anh. Vần điệu đầy đủ và chỉnh. Dù năm chữ,
bảy chữ, tám chữ hay lục bát. Trong những bài lục-bát, anh vẫn theo nhịp
2/2 đều đặn:
Hồn xưa/vừa chín/ăn năn
Em đi/biển động/đă trăm/nỗi buồn
Tôi về/dáng thú/buồn hơn
Trong hang/mưa lạnh/lưng khom/sợi chiều
Lâu lâu ta thấy một cách ngắt nhịp hơi khác:
- Nhớ em ai lấp cho bù
Hồn tôi/ một dải đất/ mù mịt/ xưa
- Nghĩa là xa lắc thiên đường
Anh/ trăn trở ngóng/em/mường tượng mong...
Nói chung, những bài thơ thành công nhất của Lữ thường là những đoản
khúc lục bát hay thơ tám chữ. Chẳng hạn như đoản khúc sau, tả về tâm
trạng xao xuyến của người lính hành quân trên núi:
Lên đây vai nặng bước liều
Quanh co sông núi khói chiều tơ vương
Mùa xuân gối đất nằm sương
Tôi thân co lạnh với hồn cây thưa
Lên đây trời đất mập mờ
Trong tôi buồn thổi từng giờ tử sinh
(Ngày xuân ở Thường Đức)
Những bài tám chữ như “Thư gửi người ở lại”, “Ngày vẫy biệt khu rừng
tuổi nhỏ”, “Gửi người xa xăm”, “Sao không nói” (bài này không có trong
tập thơ “Hát dạo bên trời”) dài hoặc khá dài, là những bài hoàn chỉnh và
lời thơ rất tha thiết. Nhiều h́nh ảnh, nhiều ví von đa dạng. Với tôi,
cái “chất thơ Trần Dzạ Lữ” chân thật nhất thường tỏa ra nơi những bài
thơ tám chữ đó. Hơi thơ lắng đọng, nhịp thơ miên man, lời thơ níu kéo
nhau tạo nên nhiều cảm xúc.
Hăy thưởng thức và trích đoạn từ những bài thơ nói trên:
Sao không nói những khi đời au đỏ
Một c̣n đầy trong mắt của nhau xua
Để bây giờ người ra đi tám hướng
Cho kẻ về ngậm tủi bến sông mưa
... Sao không nói những khi t́nh c̣n mới
Trên tay yêu một thuở đẹp vô cùng
... Sao không nói những khi ta mời rượu
Uống cho nhau những cảm khái rất nồng
... Sao không nói những khi c̣n hơi ấm
Của Phượng phà vào chiếc cổ Loan xưa
Để bây giờ tiêu điều kia đă ngấm
Như nỗi buồn cứ lớn măi trong thơ
(Sao không nói)
Chính nơi đó tóc em bay từng sợi
Cho ta thầm yêu mây của trời cao
T́nh rất dại nên t́nh chưa dám nói
Hồn tơ trời chưa buộc chỉ thương đau
(Ngày vẫy biệt khu rừng mơ tuổi nhỏ)
Rồi thuở xa người vầng trăng lặn mất
Đường ta đi suối lạ vắt ngang hồn
Nhánh cây đời không c̣n đơm trái nữa
Để khói ngàn bạt xuống cánh dơi mong
(Gửi người xa xăm)
Em đừng hỏi trong rừng có ǵ lạ
Có ǵ đâu rừng rú điêu tàn
Nai lạc dấu – ngàn thương trăng cũ
Ta nhớ người t́nh quay quắt trong sương
(Thư gửi người ở lại)
Cám ơn Lữ. Cám ơn nhà thơ. Những ḍng thơ chân t́nh của Lữ đưa tôi sống
lại những ngày tháng quê nhà yêu dấu. Một quê nhà rất đời thường, rất
ngọt, rất đậm đà. Và cực kỳ đơn giản.
Điều tôi không thể nào t́m thấy bây giờ trong cuộc sống mới trên xứ
người.
(Boston 5/2008)
Trần Doăn Nho
Thư Quán Bản Thảo tập 32, năm thứ 8, tháng 7.2008
Chủ đề: Giới thiệu nhà thơ Trần Dzạ Lữ
trang Trần Dzạ Lữ
art2all. net
|