|
Trần Xuân Thời
LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT LĂNH ĐẠO

Lănh đạo là một nghệ thuật.
Ví phỏng mọi người b́nh thường đều có tiềm năng lănh đạo ngang nhau,
nhưng nếu tiềm năng không được trao đổi và phát triển th́ khó có thể trở
thành người lănh đạo. Những người có khả năng lănh đạo thực sự là những
người tạo dựng được hoàn cảnh và thời thế, là những người tổ chức được
đoàn thể, quy tụ được nhiều thành phần hưởng ứng chủ trương đường lối
phục vụ nhân sinh và thực hỉện được chương tŕnh kế hoạch đă định.
Lănh đạo khác với chỉ huy, mặc dù kinh nghiệm chỉ huy giúp ích rất nhiều
cho vấn đề lănh đạo. Các trưởng cơ quan hay đơn vị thường được gọi là
chỉ huy trưởng, trưởng cơ sở… đảm nhiệm vai tṛ điều hành một đơn vị để
phối trí và thực hiện một số công tác chuyên môn do luật định, nghĩa là
những người chỉ huy phải chu toàn nhiệm vụ trong khuôn khổ quyền hạn và
trách nhiệm đă được quy định…
Nhiều người lấy làm thắc mắc v́ sao trong năm dài tháng rộng của cuộc
đời tị nạn, một số người có chức cao quyền trọng trong xă hội Việt Nam
Cộng Ḥa, ít thấy xuất hiện để cứu dân độ thế.
Lư do là trong các sinh hoạt quốc gia, các nhân viên phục vụ trong các
ngành dân, quân, cán, chính thường sống lâu ra lăo làng, được bổ nhiệm
vào các chức vụ chỉ huy nếu hội đủ một số tiêu chuẩn do quy lệ ấn định.
Các cấp chỉ huy, trưởng cơ quan có nhiệm vụ và khả năng chuyên môn hạn
chế tùy từng ngành riêng biệt.
Trong kinh nghiệm chỉ huy đó, có người chỉ có khả năng sinh hoạt trong
ngành chuyên môn của ḿnh, có người có khả năng sinh hoạt trong nhiều
lănh vực khác nhau.
Những người có khả năng sinh hoạt trong nhiều lănh vực khác nhau, tự học
hỏi và thăng tiến có triển vọng trở thành những người lănh đạo. Lănh đạo
đ̣i hỏi sự biến ứng, đa năng và đa hiệu, thích ứng với hoàn cảnh vô
thường của cuộc sống.
Người lănh đạo khác với người thường là quyết định của họ sẽ ảnh hưỏng
đến sự h́nh thành quyết định của người khác. Ư kiến của họ giúp được
nhiều ngưởi khác thăng tiến sự hiểu biết. Thái độ xử thế của họ có thể
tạo nên thái độ mẫu mực cho người khác noi theo.
Người lănh đạo là người có “NHÂN”, thể hiện qua tinh thần hợp tác với
các cộng sự viên và người đồng hành để thực hiện lư tưởng. Người lănh
đạo là người có “TRÍ” với nhiều sáng kiến, có đủ khả năng để quyết định
những công tác hữu ích cho đoàn thể, cho cộng đồng, cho nhân quần xă
hội. Là người có “DŨNG” để can đảm thực hiện sáng kiến hữu ích; không
lùi bước trước gian nguy thử thách.
Người lănh đạo là người có khả năng chấp nhận rủi ro và nguy hiểm. Khi
làm việc phải, có thể bị chống đối một cách phi lư. Người lănh đạo phải
biết quan sát và nhận xét, phân biệt phải trái để hành động. Người lănh
đạo phải biết tu thân và phục vụ công lư trong tinh thần cần, kiệm,
liêm, chính. “Phú quư bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất
năng khuất”. Người lănh đạo biết tiến, thối, chuẩn bị chu đáo, tạo
hoàn cảnh thuận lợi: thiên thời, địa lợi, nhân ḥa.
Người lănh đạo là người có tinh thần trách nhiệm, thực hiện sứ mệnh một
cách can trường, không lùi bước trước thử thách, dèm pha, đàm tiếu.
Người lănh đạo là người bảo vệ sự chính đáng và chính danh trong hành
động. Thành thực với chính ḿnh, biết bồi ưu và bổ khuyết; biết thực
hiện những việc thích hợp với khả năng của ḿnh; biết sống và thực thi
lư tưởng với danh nghĩa phục vụ nhân quần xă hội. “V́ danh bất chính
th́ ngôn bất thuận và ngôn bất thuận th́ sự chẳng thành.”
Người lănh đạo là người độ lượng, có ḷng bác ái, từ bi, hỷ xả, nói lên
ḷng nhân đạo, t́nh yêu nhân hậu đối với nhân quần xă hội. Đức Khổng Tử
thường nói: "Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phúc. Vi bất thiện giả,
Thiên báo chi dĩ họa” làm điều lành th́ Trời lấy phúc mà báo cho.
Ngược lại, người làm điều chẳng lành th́ Trời lấy vạ mà báo cho. Nói
khác đi “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo”. Do đó, người lănh đạo
tốt luôn luôn nghĩ đến điều thiện “Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác
giai tự khởi.” Một ngày mà không nghĩ đến điều thiện, th́ mọi điều
ác tự dấy lên.
Những người có tiềm năng lănh đạo, mà có ḷng nhân th́ tâm thường an
lạc. Nhờ sự b́nh an trong tâm hồn mà trí tuệ được sáng suốt, minh mẫn,
có thể được thư thái. “Hồn lành trong xác mạnh”. Nhờ sự thư thái
về thể xác, minh mẫn về tinh thần, người lănh đạo phát kiến được nhiều
chương tŕnh, kế hoạch hữu ích cho nhân quần xă hội, thoát hiểm cho cộng
đồng, cho quốc gia dân tộc.
Những đức tính tự nhiên của người lănh đạo có thể do bản chất “Thông
minh vốn sẵn tính Trời”, tô bồi bởi sự cố gắng học hỏi, tu luyện: “Văn
ôn, vơ luyện”. Không có hoa hồng nào mà không có gai. Không có kết
quả nào mà không do sự khổ công tu luyện.
Muốn trở thành một người lănh đạo cần phải can đảm dám từ bỏ tự cao, tự
đại, tự măn, cần phải áp dụng đức bác ái, từ bi, hỷ xả trong đời sống
hàng ngày, để từ bỏ tính ích kỷ cá nhân. Muốn được vậy, phải luôn luôn
học hỏi qua kinh điển, sách vở, báo chí, dụ ngôn, để hiểu biết lẽ sống
của con người, giá trị của cuộc đời rồi mới hiểu được bác ái, chân,
thiện, mỹ mà tự cải tiến tâm hồn.
Hai tiêu hướng quan trọng trong mọi công tác là hành động phải thể hiện
hai đức tính: Công b́nh (justice) và bác ái (charity).
Một yếu tố đáng lưu ư của những nhà lănh đạo Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ là
những người đă từng đọc thật nhanh và đọc rất nhiều sách. Theo thống kê,
có người đọc 700 chữ một phút và đọc ít nhất 30 cuốn sách một tháng (?)
Nếu đúng thế th́ chẳng bao lâu họ có thể thu tóm “Bốn bồ chữ của
thiên hạ về một mối”. Cao Bá Quát có sống lại cũng không địch nổi,
dù ông có tự khoe trong thiên hạ có bốn bồ chữ, ông và gia đ́nh chiếm
hết ba bồ, c̣n lại một bồ cho thiên hạ.
Lư do rất dễ hiểu là kiến thức thu thập ở ghế nhà trường, các quân
trường, các lớp huấn luyện có tính cách hạn hẹp và chuyên môn, vài năm
sau sẽ bị lỗi thời (obsolete), nếu không được cập nhật hoá. Do đó, vấn
đề tu nghiệp rất quan trọng trong mọi ngành sinh hoạt hiện nay tại Hoa
Kỳ và các quốc gia tân tiến. Nếu không có tu nghiệp tức là không có tiến
bộ, không thu nhận được kiến thức mới tức là thoái hoá…
Một số người đóng vai tṛ lănh đạo ở Việt Nam qua Mỹ mai danh ẩn tích v́
nhiều lư do. Có thể v́ không cập nhật hoá được kiến thức của ḿnh. Có
thể v́ đă mệt mỏi muốn quên đi sự đời; t́m nơi vắng vẻ...
“Ta dại ta t́m nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao”
Hoặc v́ thích sống với hào quang của quá khứ, phủ nhận hiện tại, công
đâu chuốc lấy sự đời!. Về t́nh, v́ lư do nhân đạo, chúng ta nên tôn
trọng ư thích của họ v́ “Nhân sinh quư thích chí”. Về lư, không
ai có quyền chê trách, bắt buộc người khác làm những việc mà họ không
muốn làm. V́ như vậy chẳng những phi lư mà c̣n vi hiến “Involuntary
Service”!
Những người có thiện chí lănh đạo cần phải trao đổi và cập nhật hoá kiến
thức: Hiểu biết rộng răi về mọi ngành sinh hoạt của quốc gia. Không phải
để trở thành chuyên viên, hiểu biết về một ngành sinh hoạt, mà phải có
kiến thức tổng quát để quản trị, để vạch chính sách chung cho mọi ngành
sinh hoạt. Câu nói: “Một ngày không đọc sách, soi gương tự thẹn, hai
ngày không đọc sách, nói chuyện nhạt nhẽo khó nghe” thật là chí lư.
Ngoài những đức tính tự nhiên đă nêu trên, người lănh đạo là người có:
Đời sống tinh thần phong phú. Người lănh đạo là người sống với đức tin:
“Ḷng tin chở được núi”. Với đức tin mọi việc hữu ích sẽ được
hoàn thành một cách thoải mái. Sống trong đức tin là sống trong sự cải
hóa tâm hồn. Sống đức tin là sống theo gương các đấng thiêng liêng mà
nhân loại tôn thờ.
Người lănh đạo sống với hy vọng: Hy vọng giúp con người biến mộng thành
thực. Hy vọng là nguyên động lực thúc đẩy con người làm việc, đánh tan
được sự thất vọng ŕnh rập cuộc sống. Hy vọng không phải là mơ mộng, mà
là mănh lực thúc đẩy con người thực hiện được điều mong ước, mộng tưởng
của ḿnh. Mặc dầu “Ở đời lắm nỗi không bằng mộng. Mộng lớn bao nhiêu
khổ bấy nhiêu”, sẵn sàng t́m kiếm hạnh phúc trong thương đau.!
Người lănh đạo sống với t́nh yêu nhân loại: T́nh yêu là hy sinh và phục
vụ. V́ t́nh yêu mới có thể làm việc một cách vui vẻ, không bao giờ chán
nản. “Khi yêu tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, thập ngũ
đèo cũng qua”. Yêu là hy sinh, quên ḿnh để phục vụ cho người khác.
T́nh yêu sẽ mang lại sinh lực, nhuệ khí, tăng cường các đức tính tốt của
con người, v́ yêu là muốn đem lại sự tốt đẹp cho tha nhân. Có những
người bôn ba hải ngoại, chân chạy không bén đất, v́ nhiệt t́nh phục vụ
nhân quần xă hội. Bất cứ công việc ǵ thực hiện cho tha nhân mà không
dựa trên t́nh yêu th́ việc đó không có sự hữu ích và thiếu giá trị tinh
thần. Cách cho hơn của cho là vậy! Vua Trần Nhân Tông thấy dân đói khổ
đă nói với quần thần: “Trẫm thương dân như thương con trẫm” chứng tỏ
ḷng nhân của một vị anh quân. Nhiều nhà cách mạng đă hy sinh cuộc đời
để phục vụ cho lư tưởng quốc gia dân tộc.
Người lănh đạo là người biết khiêm nhường. Khiêm nhường là biết ḿnh, là
nhân nhượng, không so sánh ḿnh với kẻ khác để tự ty mặc cảm hay để tự
cao, tự đại, tự măn. Khiêm nhường là phục thiện, biết nghe điều phải,
biết học điều hay, biết làm điều tốt. ”Bất sỉ hạ vấn”. Khiêm
nhường không có nghĩa tự xem ḿnh thấp kém hơn kẻ khác, hay tự ty mặc
cảm. Tự ty mặc cảm không phải là khiêm nhường mà là mất tự trọng, tự tín
(loss of self- esteem). Khiêm nhường là đức tính phát xuất từ sự hiểu
biết về sự hữu hạn của đời người, của trí tuệ, của khả năng cá nhân. Sự
khiêm nhường phát xuất từ sự nhận định được rằng, tha nhân, dù xuất hiện
như thế nào chăng nữa, vẫn là những cá nhân đặc thù, có những khuyết
điểm nên tránh và những ưu điểm nên theo.
Sự khiêm nhường sẽ cho ta thời gian và sự b́nh tĩnh để can đảm nhận được
giá trị của người khác, mà những người tự cao, tự đại, tự măn, kiêu
căng, ưa tranh cải, không đủ b́nh tĩnh và lư trí để ghi nhận ưu điểm của
người khác để tự cải tiến bản thân ḿnh. Tính khiêm nhường nuôi dưỡng
các đức tính khác và mở đường cho con người tự thăng tiến và được tôn
trọng.
Thế th́ các đức tính của người lănh đạo chung quy vẫn nằm trong ngũ
thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
(1) Nhân: Người lănh đạo là người có ḷng nhân, nhận lănh trách nhiệm để
phục vụ nhân quần xă hội; (2) Nghĩa; người lănh đạo là người có lư tưởng
phục vụ cộng đồng, xă hội, quốc gia, việc phải dù nhỏ cũng phải làm và
việc quấy dù có chết cũng không làm; (3) Lễ: Người lănh đạo biết kính
trọng tha nhân, những người mà ḿnh xem là đối tượng để phục vụ; (4)
Trí: Người lănh đạo là người sáng suốt, khôn ngoan, nhờ kiến thức tống
quát rộng răi do công lao cá nhân chịu khó học hỏi để có đủ khả năng
quyết định sáng suốt. “Bất sỉ hạ vấn”, học hỏi người dưới quyền không
lấy làm thẹn;.(5) Tín: Người lănh đạo là người tạo được ḷng tin của tha
nhân bằng lời nói và hành động. "Nhân bất tín vô lập”, người không có
chữ tín, không thể đứng vững được. “Tín vi nhân chi bảo”, được sự tin
tưởng là bảo vật của nhân thế.
Người lănh đạo là người “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ
chi lạc nhi lạc”. Khổ trước cái khổ của thiên hạ và vui sau cái vui
của mọi người. Người lănh đạo thay v́ thoái thác, trùm chăn, lẫn trốn
thế nhân, thường xuất hiện như một tấm gương sáng, cải hóa thế nhân bằng
một đời sống chí t́nh, chí nghĩa, “Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn. Đem
chí nhân thay cường bạo”.
Người lănh đạo là người biết quên ḿnh để phục vụ lẽ phải, mọi hành động
đều hướng đến Chân, Thiện, Mỹ. Người lănh đạo là người nhập thế, biết sử
dụng tài năng của ḿnh để nhận lănh trách nhiệm và để phục vụ tha nhân.
Luận đến đây, mỗi người chúng ta tự xét ḿnh có phải là người lănh đạo
hay không? Tùy hoàn cảnh và phạm vi sinh hoạt, mỗi người có thể trở
thành người lănh đạo đoàn thể, cộng đồng, xă hội, quốc gia. Người lănh
đạo thường trang bị cho ḿnh tinh thần lương thiện, vương đạo và lư
tưởng phục vụ tha nhân.
Giữa vấn đề sinh hoạt đơn thương độc mă và sinh hoạt tập thể, th́ sinh
hoạt tập thể là một môi trường đào tạo các nhân vật lănh đạo. Có sinh
hoạt tập thể th́ mới biết được ưu và khuyết điểm, mới trao đổi tư tưởng
và tự học để tiến bộ. Nhưng cũng nên lưu ư là đoàn thể phải có khả năng
sinh hoạt rộng răi, phát triển hội viên và sinh hoạt cả nội bộ lẫn sinh
hoạt ngoại vi, cộng đồng, xă hội mới có thể đem tinh thần phục vụ đến
cho nhân thế.
Một đoàn thể đóng kín là một đoàn thể chẳng bao lâu sẽ bị mai một và héo
tàn “A group closed upon itself will soon wither and die” dù đoàn
thể đó là ái hữu, xă hội, tôn giáo hay chính trị. Người lănh đạo không
chỉ phát triển đoàn thể cho ḿnh, hay đoàn thể nào có ḿnh là đủ, mà
phải tạo cơ hội cho người khác tham gia đoàn thể, để có cơ hội phát
triển, đồng tiến xă hội. Người lănh đạo là người có tinh thần thông hiệp
phong phú, biết kỹ thuật kết hợp, đoàn kết để tạo thành sức mạnh nhằm
xây dựng nhân quần xă hội ngày càng thêm tốt đẹp về t́nh cũng như về lư.
T́nh: Mục đích của đoàn thể nhằm phục vụ các nhu cầu thiết yếu của tha
nhân theo hệ cấp nhu cầu (Abraham Maslow):(1) Nhu cầu căn bản sinh vật
lư (physiological needs) như đói ăn, khát uống; (2) Nhu cầu được sinh
sống an toàn (security needs) không bị đe doạ bởi bất cứ nguyên nhân
nào, sống an cư, lạc nghiệp; (3) Nhu cầu được sống hội nhập (social
needs), người là sinh vật xă hội, sống thành tập thể, hội nhóm, xă hội,
cộng đồng; (4) Nhu cầu được tôn trọng (esteem needs) ; (5) Nhu cầu thực
hiện được những điều mong ước (self-actualizing needs), lư tưởng của
ḿnh.
Lư: Nhu cầu sống thành tập thể, hội nhóm, dù đoàn thể được tổ chức có
quy củ theo luật lệ hiện hành (de jure) hay tổ chức theo kết ước bất
thành văn (de facto) cũng phải theo những ư niệm căn bản của nhân t́nh
thể hiện qua cương thường, đạo nghĩa làm căn bản cho luật lệ hiện hành.
***
Xă hội, cộng đồng hay đoàn thể là những tập thể chung
sống giữa người và người trên hai b́nh diện t́nh và lư. Muốn sinh hoạt
được hữu hiệu, đoàn thể phải được điều hành hợp t́nh và hữu lư thể hiện
qua các nguyên tác căn bản được các quốc gia chấp nhận về vấn đề tổ chức
và quản trị hiệp hội và nhân sự hữu trách phải tuân thủ các nguyên tắc
luân lư nghề nghiệp (code of ethics).
Hiện nay tại Hoa Kỳ, cũng như tại các quốc gia tự do, các đoàn thể xă
hội, ái hữu, cộng đồng … thường được thành lập theo luật hiệp hội bất vụ
lợi (not for profit organization –NPO). Tuy chi tiết có thể khác nhau,
nhưng tổng thể 50 tiểu bang tại Hoa Kỳ có 50 bộ luật riêng về hiệp hội
với các nguyên tắc căn bản tương tự. Các đảng chính trị, hiệp hội tôn
giáo.....thường có luật lệ riêng.
H́nh thức tổ chức thông thường theo luật lệ hiện hành: Hội viên bầu các
vị giám đốc vào Hội Đồng Quản Trị (Board of Directors). Hội đồng Quản
Trị thường có 3 chức năng chính: Quyết nghị (deliberative), Chấp hành
(executive) và Giám sát (oversight). Cả ba cơ chế, tuy ba mà một, tuy
một mà ba, đồng chịu trách nhiệm về sự thịnh, suy của tổ chức, chứ không
phải ba cơ chế biệt lập không liên hệ với nhau.
Cả ba cơ chế: HĐ Quản trị: Đề nghị và biểu quyết chương tŕnh sinh họat;
HĐ Chấp hành: Thi hành chính sách đă được chấp nhận; Giám sát: Lượng giá
và kiểm soát sự thực hiện các chương tŕnh.
Khi bầu, hội viên thể hiện sự tín nhiệm và uỷ thác cho các vị giám đốc
nhiệm vụ quản trị và điều hành hiệp hội gọi chung là trách nhiệm được
tín thác (fiduciary duty).
Sự kiện nhận trách nhiệm được hội viên tín thác đ̣i hỏi các thành viên
hữu trách phải chu toàn nhiệm vụ qua ba tiêu chuẩn hành sự:
Cần mẫn: (duty of care): Chăm lo sinh hoạt của tổ chức trong vấn đề h́nh
thành và cập nhật các văn kiện căn bản; thực thi chính sách, chương
tŕnh, phục vụ tổ chức và thành viên như nhiệm vụ đă được quy định trong
nội quy với tinh thần thận trọng, cần mẫn, tận t́nh, và biết tiên liệu
để tránh sự bất ổn, phân hóa, gây thiệt hại cho tổ chức và hội viên về
tinh thần và vật chất.
Trung tín (duty of loyalty): Trung thành với bản điều lệ, nội quy để
phục vu hội viên; bảo vệ uy tín, danh dự và tài sản của tổ chức; không
được chiếm công vi tư, tránh vi phạm nguyên tắc quyền lợi tương phản
(conflict of interest); không cạnh tranh bất chính (unfair competition)
bằng lời nói, hành động; phải tạo sự tín cẩn, tôn trọng và hợp tác giữa
các đồng sự, thành viên, trung thành với danh xưng, tôn chỉ, mục đích.
Tuân phục (duty of obedience): Tuân giữ các nguyên tắc điều hành nội bộ,
luật lệ tiểu bang, liên bang; báo cáo định kỳ về sinh hoạt, tài chánh,
thuế khoá, nhật tu, tái ghi danh thường niên giấy phép hoạt động theo
luật định…
Vi phạm các trách vụ nêu trên thường là nguyên nhân của sự bất tín
nhiệm, băi chức, hay tranh tụng trong sinh hoạt đoàn thể ái hữu, tôn
giáo hay xă hội cộng đồng…
Hy vọng với tinh thần cần, kiệm, liêm, chính th́ mọi sinh họat sẽ được
chu toàn và hanh thông trong công tác phục vụ phúc lợi chung của tập thể
người Việt cư ngụ tại hải ngoại. Đó cũng là ước nguyện chung của tất cả
chúng ta vậy.
Trần Xuân Thời
art2all.net
|