|
Trần Xuân Thời
TÂM LƯ CHÍNH TRỊ

Người ta
thường nói đến tâm lư quần chúng, tâm lư xă hội, nhưng ít nghe ai nói
đến “tâm lư chính trị”. Thật ra tâm lư chính trị thường được thể hiện
qua “diễn đàn chính trị” nghĩa là tư tưởng lên khuôn cho hành động theo
nhiều chủ trương, đường lối khác nhau gọi chung là lập trường chính
trị...
Hành động nào cũng thường nhắm thực hiện một chủ
đích, một sứ mệnh. Từ quan niệm tồn cổ, những ǵ do quá khứ tạo nên và
lưu truyền lại cho hậu thế đều tốt đẹp, đều đáng quí, đáng học hỏi và
đáng được xem là khuôn vàng thước ngọc, “Xưa Bày Nay Làm” hoặc hiện tại
đáng yêu, đáng mến, đáng duy tŕ không cần phải thay đổi, đến quan niệm
cải cách, phá hoại truyền thống, khuynh đảo trật tự xă hội đương thời để
thay thế bằng cơ cấu tổ chức và trật tự mới, con người đă đi từ quan
niệm cực hữu (reactionary-rightist) đến quan niệm cực tả
(radical-leftist).
Trong quần chúng có những người đắn đo kỹ lưỡng trước khi chấp nhận một
lập trường vĩnh viễn, cũng có người thay đổi lập trường tùy hoàn cảnh.
Dù trong hoàn cảnh nào, lập trường chính trị cá nhân hay tập thể thường
được thể hiện qua bốn ư niệm chính:
(1) Cực tả /Cách mạng (Radical extremist /revolutionay), (2) Cấp tiến
(Liberal/ Progressive), (3) Bảo thủ (Conservative), (4) Cực hữu / Phản
cách mạng (Far right/ Reactionary). Các “nhăn hiệu” này thường được đề
cập trên sách báo hiện hành, nhất là tại các nước dân chủ, trong đó
người công dân có quyền tự do ngôn luận và có quyền gán bất cứ “nhăn
hiệu” nào cho người đối lập trong phạm vi tự do tư tưởng theo luật định.
Cực tả/Radical
Chúng ta thường gọi người theo chủ thuyết cộng sản là “bọn phá hoại”
(radical), người cộng sản gọi là cách mạng (revolutionary), v́ họ chủ
trương tiêu diệt tư bản chủ nghĩa, đả phá hệ thống xă hội đương thời tận
gốc rễ. Nói khác đi kẻ chống đối phải bị thủ tiêu. Ngôi nhà cũ th́ phải
bị triệt hạ, đập nát để xây ngôi nhà mới, không cần tu bổ hay sửa chữa.
Thay đổi tận gốc rễ như chính sách cải cách điền địa của nhà nước cộng
sản. Cộng sản không những chỉ tịch thu ruộng đất mà c̣n đấu tố, sát hại
các địa chủ nhằm khủng bố và triệt tiêu đầu óc tiểu tư sản như đă áp
dụng ở các nước cộng sản “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”.
Đa số những người theo Cộng sản hoặc v́ hận thù, hoặc v́ nhẹ dạ, nóng
ḷng thay đổi. Họ mù quáng mơ ước thiên đường cộng sản, nhưng ngày nay
đă dần dần vỡ mộng, v́ thực tế chứng minh các lănh tụ CS Đông Âu, Trung
Quốc hay Việt Nam đều lợi dụng giới vô sản, bần cố nông để dành quyền
lực với danh nghĩa giả tạo v́ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”. Sau khi thành
công các đảng viên CS trở thành tư bản đỏ, triệu phú, tỷ phú, nhà cao
cửa rộng, áo xiêm buộc trói lấy nhau, nắm giữ chính quyền. Khi đảng viên
CS không c̣n lợi dụng giới bần nông th́ họ áp dụng chính sách độc tài để
đàn áp giới vô sản, xoá bỏ truyền thống ba đời cố nông mới được trở
thành lănh tụ CS. Người đời gọi họ là đảng viên của chủ nghĩa Cộng sản
vô thần v́ CS chủ trương tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc ḷng người. Họ
không tin có Thượng Đế, tổ tông của họ là do loài khỉ biến dạng, vô luân
thường đạo lư, sống theo bản năng như loài thú. Họ quan niệm con người
chỉ là sản phẩm thiên nhiên (product of natural selection). Đảng viên CS
tự cho ḿnh thuộc giai cấp “đỉnh cao trí tuệ ”, có quyền sử dụng quần
chúng như sử dụng gia súc hay sử dụng vật dụng trong nhà. “Bảo sanh
viện” được họ gọi là “Xưởng đẻ”. Con người được sinh ra giống như cơ
xưởng sản xuất ra vật liệu gia dụng. V́ thế các lănh tụ CS đối với người
khác như chó sói đối với người. Những cán bộ CS này thuộc thành phần cực
tả quá khích (radical extremist).
Trước khi bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Cộng Sản ra đời năm 1848. Đức Giáo
Hoàng Piô Thứ 9 (Pope Pius IX) đă cảnh giác thế giới về hiểm hoạ của chủ
nghĩa Cộng sản: “The unspeakable doctrine of Communism, as it is
called, a doctrine most opposed to the very natural law. For if this
doctrine were accepted, the complete destruction of everyone's laws,
government, property, and even of human society itself would follow.”
(Thông Điệp Qui Pluribus.16, ngày 9/11/1846). Cái học thuyết nguy hại
mà người ta gọi là chủ nghĩa Cộng Sản từ bản chất trái với luật thiên
nhiên, mỗi khi được chấp nhận, tà thuyết đó sẽ tiêu diệt hết nhân quyền,
mọi định chế công quyền hợp pháp, quyền tư hữu và chính xă hội loài
người.
Nhiều quốc gia đă xoá bỏ chủ nghĩa CS. Nhiều người đă ly khai đảng CS,
mặc dù trước đây họ đă hết sức hăng hái mang nhăn hiệu cách mạng, hănh
diện là đồ đệ của đệ nhất, đệ nhị hoặc đệ tam Cộng Sản Quốc Tế. Chủ
nghĩa CS đă tạo nên những kẻ sát nhân như Stalin đă giết hơn 20 triệu
người, Mao Trạch Đông giết trên 70 triệu người, Hồ Chí Minh cũng như Pol
Pot của Campuchia được liệt kê vào danh sách của những kẻ diệt chủng nổi
tiếng nhất trên thế giới.( Mao, The untold Story, Jung Chang)
Tại Hoa Kỳ, cực tả quá khích đă phát triển từ cuộc suy sụp về kinh tế
năm 1929. Họ chủ trương tái tạo xă hội Hoa Kỳ mới, dựa trên căn bản lư
thuyết của Karl Marx. Họ hỗ trợ tích cực các phong trào công dân thợ
thuyền với khẩu hiệu “Not Black, not white Power but Worker’s Power”,
như là phương tiện gián tiếp để cộng sản hóa Hoa Kỳ... Môn phái cực tả
chủ trương canh tân các chương tŕnh xă hội, tôn giáo và xă hội Hoa Kỳ
theo quan niệm của xă hội chủ nghĩa.
Hiện nay có hai nhóm cực tả: Nhóm thứ nhất chủ trương cải cách xă hội
bằng phương tiện cách mạng bạo động và sắt máu. Nhóm thứ hai chủ trương
cải tổ ôn hoà bằng cách lợi dụng quyền đầu phiếu. Các nhóm này lôi cuốn
một số người nhẹ dạ nhưng không đủ khả năng lôi cuốn quần chúng và chính
quyền. Những người này không liên kết với đảng Cộng Ḥa hay Dân Chủ. Đối
với những người Mỹ theo đường lối này thường áp dụng chính sách mỵ dân.
Chủ trương tự do cá nhân phải có tính cách tuyệt đối nhằm dụ hoặc quần
chúng. Họ chủ trương cứu cánh biện minh cho phương tiện, nghĩa là dùng
bất cứ phương tiện tốt, xấu ǵ cũng được miễn là đạt được kểt quả mong
muốn. Đối với họ, Xă hội chủ nghĩa là thể chế hoàn mỹ, không thể chế nào
có thể thay thế, và tuyệt đối tin tưởng vào chương tŕnh cải cách kinh
tế của xă hội chủ nghĩa.
Các tổ chức tả phái của Hoa Kỳ đă từng hoạt động như Communist Party -
USA, W.F.B Dubois Club of America, Progressive Labor Party, Socialist
Labor Party, Socialist Worker Party, Young Socialist Alliance,
Spartacist League, Guardian, Worker League, World Socialist Party of
USA, Ramparts, Monthly Review.... Mỗi tổ chức đều ấn hành tạp chí để phổ
biến chủ trương đường lối cho hội viên và quần chúng. Cũng nên lưu ư là
ngược lại danh từ Radical ngày nay c̣n được dùng để mệnh danh
những phần tử chủ trương đả phá chế độ cộng sản tại Nga và các nước Cộng
Sản Trung Âu hay những phần tử quá khích như Radical Islamist ………
Cấp tiến/ Liberal:
Chủ trương thay đổi với mức độ ôn hoà thường được gọi là cải cách
(reformer/liberal) sẵn sàng chấp nhận sự thay đổi nhưng không có tính
cách đả phá, hủy hoại chế độ hay hệ thống đương thời. Tu bổ, sửa chữa
lại ngôi nhà đang cư ngụ hơn là áp dụng phương thức phá hoại như Cộng
Sản đă và đang áp dụng. Cộng Sản chủ trương đốt nhà để cho sống cảnh màn
trời chiếu đất, nghĩa là chịu hy sinh cực khổ trong hiện tại, trong lúc
xây cất lại ngôi nhà mới nhưng không biết bao giờ hoàn thành. Lư ttưởng
Cộng sản: Sản xuất theo khả năng, tiêu thụ theo nhu cầu chỉ là bánh vẽ
vô vọng. “Thôi thôi ta đă biết rồi, lồng vàng âu cũng là nơi ngục tù”!
Những người chủ trương thay đổi cải cách thường chấp nhận chủ thuyết của
đảng Dân Chủ hoặc cấp tiến, đều có khuynh hướng cải cách xă hội, và
thường được quần chúng Mỹ liệt vào loại thiên tả ôn hoà (leftist) v́
đảng CS được tự do hoạt động tại Mỹ dưới h́nh thức đoàn thể xă hội và
lợi dụng các quyền tự do để bành trướng. Đặc tính của những người chủ
trương cải cách thường hỗ trợ cho phong trào cải cách xă hội trong tinh
thần dân chủ. Họ tin tưởng vào khả năng của công dân: ư thức được nhiệm
vụ của ḿnh, biết xử dụng quyền hành của ḿnh một cách khôn ngoan qua
quyền bầu cử và ứng cử.
Những người thuộc môn phái “Liberal” có phần đồng quan điểm với Mạnh Tử
“nhân chi sơ, tánh bổn thiện”. Họ tin tưởng vào tính tốt của con người
và khả năng suy xét khôn ngoan của mỗi người. Danh từ “Liberal” phát
xuất từ thế kỷ thứ 19 do tiếng Tây Ban Nha, tên của một chính đảng ở
quốc gia này. Chính đảng này chủ trương chính quyền lập hiến, dành nhiều
tự do cho công dân hơn là chính quyền chuyên chế.
Đảng viên Liberal tin tưởng vào khả năng của công dân biết xử dụng quyền
hành của ḿnh một cách xứng đáng. Trong cuộc tranh cử Tổng thống năm
1988, ứng cử viên TT Bush đă nhận xét ứng cử viên TT Dukakis là
“Liberal”. Dù danh hiệu này rất thông dụng, nhưng hiện nay vẫn chưa gây
được ư niệm tốt trong tâm lư quần chúng v́ có tính cách thiên tả và các
phương pháp cải cách táo bạo của tả phái.
Bảo thủ/ Conservative
Khác với hai chủ trương nêu trên (radical và liberal) có tính cách
khuynh tả (leftist), theo quan niệm hiện hành của công dân Hoa Kỳ, những
người chủ trương bảo thủ ( conservative) ôn hoà bằng ḷng với hiện tại.
Họ cho rằng hiện tại vẫn tốt đẹp, không cần phải thay đổi. Những người
này thường chủ trương hỗ trợ đảng Cộng Hoà. Danh từ Bảo thủ
(conservative do động từ “to conserve”) nghĩa là bảo tồn, như bảo tồn
truyền thống, thuần phong mỹ tục và định chế chính quyền dân chủ đă được
h́nh thành qua kinh nghiệm chung của nhân loại. Môn phái bảo thủ cũng
chống lại chủ trương tự do quá trớn hay tự do phóng nhậm, v́ tự do cũng
cần phải được giới hạn để mọi người có cơ hội hưởng tự do đồng đều.
Sở dĩ đảng Cộng Hoà dành được thắng lợi trong các cuộc tranh cử Tổng
thống ba nhiệm kỳ liên tiếp từ hơn 12 năm (1981-1993), một phần cũng nhờ
dân chúng nh́n thấy t́nh trạng xă hội đương thời không cần thay đổi nên
đă dồn phiếu cho đảng Cộng Hoà thay v́ bầu cho Dân Chủ. Đa số những
người trung niên, giới trí thức và lăo niên chấp nhận khuynh hướng bảo
thủ. Khuynh hướng này đang là những làn sóng ngầm ảnh hưởng đến tâm lư
quần chúng hiện nay khiến cho những đề nghị cải cách táo bạo không có cơ
hội phát triển.
Cực hữu/ Reactionary
Lớp người bảo thủ cực hữu (reactionary/far right) là những người vẫn
thích thay đổi, nhưng thích tồn cổ hơn. Những ǵ do tiền nhân để lại đều
đáng quí trọng, đáng được học hỏi, đáng bảo tồn, đúng với câu “xưa bày
nay làm”, và thích trở lại những ngày vàng son của thời đại vua Nghiêu,
vua Thuấn. Những người này đương nhiên không chấp nhận thái độ cách
mạng, phá hoại truyền thống của Cộng Sản nên đă gây trở ngại cho sự bành
trướng của Cộng Sản. Cộng sản gọi những người quốc gia chống cộng thuộc
khuynh hướng cực hữu là thành phần “phản động” cực hữu (right wing
extremist).
Tại Hoa Kỳ hiện nay có một số tổ chức chủ trương cực hữu như John Birch
Society, 20th Century Reformation Hour, Life Line, Christian Crusade,
Manion Forum, Christian Anti-Communist Crusade, Liberty Lobby,
Conservative Society of America, Church League of America, Harding
College’s National Education Program, Richard Cotten, Christian Freedom
Foundation, v.v...
Mỗi cơ quan đều có tạp chí để phổ biến đường lối trong quần chúng. Chủ
trương quốc gia cực hữu nhất quyết không công nhận cộng sản dưới bất cứ
h́nh thức nào, đă đang là thành tŕ chống cộng hăng hái nhất hiện nay.
Khuynh hướng nầy cũng không hỗ trợ tự do phóng nhậm gây tai hại cho xă
hội. “The extremists as we all know, in every point, are destructive
to both virtue and enjoyment” (Edmund Burke).
Tâm lư chung của những người bảo thủ cho rằng không phải người nào cũng
đáng tin cậy, cho nên phải “chọn mặt gởi vàng”. Họ không hẳn tin tưởng
vào khả năng của công dân có thể quyết định sáng suốt, nên họ chủ trương
cần có chính quyền. Họ chủ trương quốc gia cần được giai cấp ưu tú
(enlightened group) lănh đạo. Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 cũng do các vị
khai quốc công thần ưu tú soạn thảo. Quốc hội Hoa Kỳ cũng gồm hai viện.
Thượng Viện thể hiện giá trị truyền thống, tôn trọng kho tàng văn hiến,
khôn ngoan đă được tích lũy qua hàng trăm năm lịch sử. Trong bài diễn
văn lịch sử đọc tại Gettysburg năm 1863, Tổng Thống Abraham Lincoln đă
tái xác nhận Hoa Kỳ sẽ được tái sinh trong Ơn Thánh Chúa là quốc gia tự
do của dân, bởi dân, để phục vụ nhân dân và sẽ không biến mất trên thế
gia nầy: This nation, under God, shall have a new birth of freedom --
and that government of the people, by the people, for the people, shall
not perish from the earth. (Abraham Lincoln, November 19, 1863)
Trong thời gian chiến tranh lạnh sau thế chiến thứ hai, giữa hai khối Tự
do và Cộng sản, Mao Trạch Đông đă từng khích lệ các lănh tụ CS Nga sô
tấn công tiêu diệt Hoa Kỳ. Năm 1963 dưới thời TT Kennedy, Nga Sô đă đem
hoả tiển thiết trí tại Cuba, chỉ cách Hoa kỳ 90 miles. Hoa kỳ phản ứng
mạnh mẽ, một mặt phong toả vịnh Cuba, mặt khác ra lệnh chuẩn bị tấn
công, nếu Nga Sô không tháo gỡ các dàn hoả tiễn. Nga Sô sợ Thiên Chúa
bảo vệ Hoa Kỳ qua lời sấm Trạng Tŕnh Lincoln “Hoa Kỳ sẽ không biến
mất trên thế gian nầy” bèn lui binh vô điều kiện!
Xă hội Hoa Kỳ đă và đang được thay đổi bằng những cải cách tiệm tiến,
tuy chậm nhưng chắc, cũng nhờ những đỉnh cao trí tuệ thực sự nỗ lực làm
việc v́ quốc gia dân tộc. Thay đổi nhanh chóng theo kiểu cách mạng cộng
sản, thiếu suy tư và thiếu điều nghiên kỹ lưỡng đă đưa đẩy các nước cộng
sản đến bờ vực thẳm, thảm khốc về cả hai phương diện kinh tế lẫn chính
trị.
Những người cực hữu chống Cộng Sản mănh liệt tại Hoa Kỳ cũng như các
nước tự do trên thế giới, nhiều khi “dùng gậy ông để đập lưng ông”,
nghĩa là “dĩ độc trị độc”. Họ dùng ngay phương pháp cộng sản để trị cộng
sản. Họ là những người lớn tiếng cảnh giác quần chúng về hiểm hoạ cộng
sản trước và sau khi bản Tuyên Ngôn Quốc Cộng Sản ra đời. Trong suốt hơn
70 năm nay từ khi cuộc cách mạng Cộng Sản năm 1917 tại Nga sô, những
người chống cộng cực hữu chấp nhận thái độ bất cộng đái thiên với cộng
sản, đa số không v́ tư lợi cá nhân mà chỉ v́ quốc gia dân tộc. Họ sẵn
sàng chống đối những ǵ sinh lợi cho cộng sản, kể cả vấn đề bang giao,
viện trợ cho thế giới cộng sản. Nhờ đó vào cuối thập niên 1980, Cộng Sản
Nga Sô và Đông Âu sụp đổ. Từ sau đệ nhị thế chiến, khối Cộng sản Nga sô
Đông Âu và Trung hoa vẫn mua ngũ cốc của Hoa Kỳ v́ nền kinh tế của Nga
Sô và Trung hoa tŕ trệ không đủ thực phẩm bán cho quần chúng.
Những người cực hữu cũng rất quan tâm về sự suy đồi của nền luân lư và
giá trị cổ truyền. Họ rất trung thành với giá trị luân lư của đảng Cộng
Hoà. Họ thường chống đối những chương tŕnh, kế hoạch mà họ nghĩ là do
cộng sản quốc tế hỗ trợ, các tệ đoan như tham những, hối lộ trong công
quyền, trong nền tư pháp của Hoa Kỳ và các cơ quan cảnh sát. Họ chủ
trương chính quyền có nhiệm vụ giáo huấn quần chúng để tránh sự lợi đụng
của Cộng sản và các phần tử phá hoại. Đặc biệt những người cực hữu hỗ
trợ chế độ tự do kinh doanh và tư bản chủ nghĩa và chống đối chế độ xă
hội chủ nghĩa do nhóm cực tả chủ trương.
Đặc nét của chính quyền dân chủ là tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh.
Tâm lư kinh tế chính trị này thể hiện rỗ rệt nhất trong các cuộc bầu cử.
Cử tri sẽ luận xét về chủ trương và đường lối của ứng cử viên về phương
diện kinh tế nhiều hơn về các phương diện khác. Sự kiện này cũng hiển
hiện ngay trong các nước cộng sản, v́ t́nh trạng kinh tế suy sụp, quần
chúng nghi ngờ khả năng quản trị của giới lănh đạo, hô hào đ̣i tự do
kinh doanh, tự do dân chủ. V́ thế, bây giờ các nước Đông Âu kể cả Nga Sô
không c̣n noi gương xă hội chủ nghĩa mà ngược các nước nầy noi gương các
nước tư bản để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của quần chúng.
Lenin, Staline không c̣n là thần tượng mà là tội đồ của các dân tộc Đông
Âu. Do đó chúng ta có thể nói, bất cứ h́nh thức chính quyền nào mang lại
cho quần chúng hạnh phúc, no cơm ấm áo với các quyền tự do căn bản đều
được dân chúng hỗ trợ. Tự do dân chủ là môi trường thuận lợi nhất cho
vấn đề phát triển về mọi phương diện nhân sinh.
Tâm lư cử tri
Ngoài bốn chủ trương nêu trên thể hiện qua tâm lư quần chúng, ảnh hưởng
trầm trọng đến kết quả các cuộc tranh cử cấp tiểu bang và liên bang, tâm
lư chính trị của cử tri c̣n thể hiện ảnh hưởng của hai loại khuynh hướng
về chính trị và kinh tế: (1) Khuynh hướng thứ nhất là bầu cho người tại
vị (incumbency-oriented) và chọn ứng cử viên theo chính sách quốc gia
(policy-oriented), (2) Khuynh hướng thứ hai là chọn ứng cử viên theo
kinh nghiệm kinh tế cá nhân của cử tri (personal experiences) và lượng
định t́nh trạng kinh tế quốc gia (national assessment).
Cử tri thường dồn phiếu cho ứng cử viên đương nhiệm hoặc ứng cử viên
cùng đảng với vị tiền nhiệm, nếu t́nh trạnh kinh tế khả quan. Năm 1981,
cử tri Hoa Kỳ đă bầu Tổng thống Reagan (1981-1988) và sau đó bầu cho
Tổng thống Bush (1989-1993) thể hiện nền kinh tế khả quan dưới thời Cộng
Hoà so với nền kinh tế suy sụp lạm phát phi mă dưới thời Carter
(1976-1981) nên TT Carter đă thất cử khi ra tranh cử nhiệm kỳ hai.
Trong nền kinh tế Hoa Kỳ nên lưu ư đến hai vấn đề quan trọng: thất
nghiệp (unemployment) và sinh hoạt đắt đỏ (inflation). Hai hiện tượng
kinh tế này có tính cách nghịch vị: Thất nghiệp tăng th́ lạm phát giảm.
Thời Tổng thống Carter (1976-1981) lạm phát quá cao, cử tri không bầu
cho Carter đương nhiệm mà bầu cho Reagan. Cử tri chú trọng vào chính
sách hơn là đảng phái hoặc cá nhân khiến cho Carter thất cử. Từ năm 1981
đến 1993, đàng Dân Chủ không thể dành lại ngôi vị Tổng thống v́ đảng
Cộng Hoà có nhiều bí quyết chế ngự được nạn lạm phát và giảm tỷ số thất
nghiệp.
Thường nạn thất nghiệp dưới thời Cộng Hoà cao hơn dưới thời Dân Chủ, do
đó những người sợ nạn thất nghiệp, hay lo lắng về t́nh trạng kinh tế cá
nhân thường dồn phiếu cho ứng cử viên đảng Dân Chủ. Hai vấn đề này đều
thuộc về kinh tế đại tượng (macro-economics). Đảng nào quân b́nh được
cán cân thất nghiệp và lạm phát sẽ có nhiều cơ hội gặt hái được kết quả
tốt đẹp trong các cuộc bầu cử.
Kinh nghiệm của cử tri về kinh tế cá nhân (personal experiences) và t́nh
trạng kinh tế quốc gia (national assessment) cũng đóng một vai tṛ quyết
định trong sự h́nh thành quyết định của cử tri. Nếu t́nh trạng gia đ́nh
khả quan, cứ tri sẽ tiếp tục bầu cho Tổng thống, Thống đốc đương nhiệm.
Sự kiện này có thể suy luận từ t́nh trạng kinh tế và kết quả các cuộc
bầu cử cấp tiểu bang và liên bang. Chính cá nhân cử tri mới hiểu rơ t́nh
trạng hạnh phúc hay đau khổ của ḿnh v́ sự thăng trầm của nền kinh tế,
đúng như nhận xét của kinh tế gia Adam Smith: “Every man feels his
own pleasures and his own pains more sensibly than those of other people”.
Lại nữa trong bất cứ nhiệm kỳ nào của Dân Chủ hay Cộng Hoà đều có người
thất nghiệp.. Những người thất nghiệp có thể có hai thái độ: Họ vẫn bầu
cho tổng thống đương nhiệm nếu nhận thấy t́nh trạng quốc gia khả quan và
không cần luận về t́nh trạng thất nghiệp cá nhân. Cũng có thể họ bầu cho
ứng cử viên mới để mong t́nh trạng cá nhân hầu có thể thay đổi. Vấn đề
này thuộc tâm lư cá nhân nghĩ đến quốc gia dân tộc hay đặt nặng quyền
lợi cá nhân, do đó cùng một hoàn cảnh có thể hai người có hai thái độ
khác nhau.
Trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ (2001-2008), đa số dân chúng Mỹ nghĩ
rằng t́nh trạng kinh tế khả quan, đời sống gia đ́nh thoải mái nên bầu
cho ứng cử viên Cộng Hoà George Bush về cả hai phương diện kinh nghiệm
kinh tế cá nhân và t́nh trạng kinh tế quốc gia. “When the nation’s
economy is doing well, the voters would tend to vote for the incumbents,
while those who believed it had been worsened would tend to vote for the
challengers”.
Nhưng sau cuộc chiến kéo dài ở Trung Đông nhằm tiêu diệt khủng bố đă
đánh vào thành tŕ tư bản của thế giới năm từ năm 2001. Tính trạng kinh
tế gặp khó khăn nên dân chúng cần có sự thay đổi “change” theo khẩu hiệu
của đảng Dân chủ. Nhờ đó TT Obama được bầu làm Tổng Thống được 2 nhiệm
kỳ (2008-2016).
Tuy nhiên, đến nay cũng gần hết hai nhiệm kỳ của Obama, xem ra dân chúng
không thấy được sự thay đổi như Đảng Dân Chủ đă hứa hẹn. T́nh h́nh ngân
sách quốc gia thâm thụt đến 18,000 tỷ ($18,000,000,000,000). T́nh h́nh
an ninh quốc nội lại bị khủng bố đe doạ, thất bại về kinh tế và chính
sách đối ngoại, không kiểm soát được vấn đề di dân… Bầu một vị Tổng
Thống da màu chứng tỏ Hoa kỳ không hẵn là một quốc gia kỳ thị chủng tộc
mà là một quốc gia tôn trọng nhân quyền đối với quốc nội cũng như quốc
tế. Tuy nhiên được bầu làm Tổng thống là một ân huệ, nhưng cũng phài có
khả năng điều hành quốc gia và không bị các đối lực chi phối.
Xem ra Obama chỉ làm những việc để thỏa măn chủ ư riêng tư của ḿnh như
giảm binh bị, thiếu kiểm soát biên giới, dự định phân phối người lớn và
trẻ em vượt biên bất hợp pháp từ Nam Mỹ, hoặc di dân từ Trung Đông đến
các tiểu bang. Sự kiện nầy đă gây phẫn nộ trong quần chúng và hơn 30 vị
Thống Đốc đă phản đối TT Obama và nhiều vấn đề nhiêu khê khác.
Năm 2008, khi TNS Obama nhậm chức Tổng Thống, đảng Dân Chủ chiếm đa số
cả Thượng viện lẫn Hạ Viện Hoa Kỳ. Sau 4 năm trị v́, dân chúng bất măn,
đảng Dân chủ mất một số lớn ghế Thống Đốc và mất luôn quyền kiểm soát
Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ và lưỡng viện quốc hội tại nhiều tiểu
bang.
Sở dĩ cuộc vận động tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2016-2020 có
nhiều ứng cử viên đảng Cộng Hoà ra tranh cử v́ các đảng viên Cộng Hoà
thấy đây là cơ hội tốt để thắng cử. Trong lúc đó đảng Dân chủ chỉ có 3
ứng cử viên, nhiều người không tham gia tranh cử v́ thấy cơ hội thắng cử
của đảng Dân chủ thấp.
Trong các xă hội độc tài đảng trị chỉ có môt khuynh hướng chính trị độc
tôn. Trong các quốc gia dân chủ, tự do cá nhân được hưởng những quyền tự
do căn bản do Thượng Đế ban cho không ai có quyền xâm phạm. BảnTuyên
Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ năm 1776 đă ghi rơ: “All men are created
equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable
Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness”.
Mọi người sinh ra đều được b́nh đẳng, thọ hưởng những quyền bất khả xâm
phạm do Thượng Đế ban cho, như quyền được sinh sống, quyền tự do và
quyền t́m kiếm hạnh phúc…
Nền chính trị tại Hoa kỳ rất phức tạp, luôn luôn có những làn sóng ngầm
xung đột giữa các quan niệm khác nhau, trong vấn đề chọn ưu tiên khi
thực hiện quốc sách liên quan đến quốc nội và quốc ngoại. Đại loại có
năm chủ trương:
(1) Trào lưu cổ truyền từ khi lập quốc thỉnh thoảng được công chúng nhắc
đến là ư nguyện của các bậc khai quốc công thần đă thể hiện qua Bản
Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 và Hiến Pháp năm 1787 chủ trương dành ưu
tiên tôn để bảo vệ quyền tự do thiên nhiên của con người do Thượng Đế
ban cho “Natural Rights liberty”. (2) Khuynh hướng thứ hai là dành ưu
tiên đề bảo quản quyền tự trị địa phương hay tiểu bang “Classical
Communitarian Liberty”. (3) Khuynh hướng thứ ba là ưu tiên để baỏ vệ tự
trị kinh tế cá nhân “Economic Autonomy Liberty”. (4) Khuynh hướng thứ tư
là dành ưu tiên bảo vệ công bằng xă hội “Social Justice Liberty” và (5)
Thứ năm là dành ưu tiên bảo vệ tự do cá nhân (Personal Autonomy Liberty”
Những người làm chính trị có thể không ít th́ nhiều am hiểu tâm lư chính
trị. Nhưng không hẳn người hiểu tâm lư chính trị lại làm chính trị.
Trường hợp này, nghiên cứu để hiểu biết chính trị hơn là áp dụng kiến
thức vào sinh hoạt chính trị một cách tích cực qua chính đảng. Hoặc nói
cách khác đi không có “khiếu” hoặc không thích làm chính trị.
Làm chính trị cần sự dấn thân, can đảm, bền chí, nhẫn nhục... có khi hy
sinh cả cuộc đời, không v́ tư lợi mà v́ quốc gia dân tộc. Tuy vậy số
người hy sinh v́ quốc gia dân tộc thường ít, và khi hành động cần người
hợp tác. Người hợp tác có thể v́ danh lợi, thừa gió bẻ măng, tạo nên nạn
bè phái oán cừu, có khi làm cho người có tâm huyết thân bại danh liệt.
Người có tâm huyết làm chính trị chỉ v́ muốn thực hiện một sứ mệnh cao
cả, không nề gian khổ, nếm mật nằm gai, quyết chí xây dựng quốc gia dân
tộc, như lời thơ diễn tả của Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy.
“Họ là những anh hùng không tên tuổi,
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông,
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh,
Nhưng can đảm và tận t́nh giúp nước.”
Chung quy, con người thường hành động theo tư tưởng của ḿnh. Tư tưởng
thu nhận từ xă hội, học đường, bạn bè... kết tinh thành trạng thái tâm
lư, gọi chung là tâm lư quần chúng. Muốn thu phục nhân tâm, trước hết
phải am hiểu tâm lư quần chúng. Muốn am hiểu quần chúng phải có tâm hồn
khoáng đạt, cởi mở để có thể tiếp nhận ư kiến từ nhiều quan điểm thuận
cũng như nghịch, để rồi tinh luyện, biến hoá, tương kế tựu kế hầu thực
hiện sứ mệnh cao cả của ḿnh.
Dầu sinh hoạt chính trị dưới h́nh thức nào đi nữa th́ bốn lập trường nêu
trên từ cách mạng tả phái đến phản cách mạng hữu phái, vẫn là đặc tính
chung của phạm trù tâm lư chính trị. Trong bất cứ xă hội nào, thường một
thiểu số chấp nhận một thái độ, một lập trường và dùng lập trường đó như
kim chỉ nam hướng dẫn hành động. Từ đó một thiểu số tranh đấu cho lư
tưởng của họ, nếu thắng thế, họ sẽ trở thành cấp lănh đạo.
Lănh đạo v́ dân v́ nước là phước của quốc gia. Lănh đạo v́ xôi thịt là
quốc nạn. Thế th́ không nên hờ hững với chính trị. Một mặt sinh hoạt
chính trị “nhằm sửa trị sự việc cho chính trực”, mặt khác nếu
ḿnh không tỏ rơ lập trường, tà đạo lên nắm quyền th́ chính ḿnh sẽ là
nạn nhân của thời cuộc.
Nhờ tự do tư tưởng mà các nước dân chủ đă tiến xa trên bước đường xây
dựng quốc gia dân tộc, ư thức chính trị của quần chúng cao. Ư dân là ư
trời, không phải thể hiện bằng cách mạng, bằng đảo chánh, gây chiến
tranh, cướp chính quyền mà bằng phương thức ôn hoà, nhân bản bầu cử tự
do.
Nếu vai tṛ của chính đảng là để hoằng dương chủ trương, đường lối chính
trị để mời gọi sự hợp tác của quần chúng trong công cuộc xây dựng tự do,
dân chủ và thịnh vượng cho quốc gia, dân tộc, th́ quần chúng phải sáng
suốt tự chọn lấy lập trường cho chính ḿnh vậy.
Trần Xuân Thời
art2all.net
|