vơ công liêm

 

BAUDELAIRE

NHÀ THƠ của TÂM TRẠNG

                                   ‘Tu le sauvas peut-être un jour’ (J.P.Sartre)*

 

Baudelaire 1855 by Nadar

 

     Charles Baudelaire** là một nhà thơ ; mà tất cả tác phẩm của ông chứa đựng biết bao điều phức tạp và nhiều t́nh huống khác nhau, đa dạng của bề mặt cuộc đời ; dù có chứng tỏ một cách đơn giản và đồng nhất đi nữa Baudelaire vẫn không thâu tóm được ư tứ trọn vẹn cho một h́nh thức nào khác hơn, ông chịu khó học hỏi và nghiên cứu những ǵ của những bậc văn nhân đi trước để thực dụng thấu đáo trong thi văn của ông.

Thời gian tu tập, Baudelaire làm nên những bài thơ trung thực và sáng tỏ hơn là những câu thơ chải chuốt như trước đây. Cuộc đời văn nghiệp của Baudelaire là bước đường thăng trầm không lối thoát, thường đưa tới những sai lầm trầm trọng, nhưng trong cái vấp phải đó làm cho Baudelaire sáng giá, gặt hái những thành quả lớn và mang lại những cảm thức đối với cuộc đời, một cảm thức hiện thể, cảm thức của sự thế là những yếu tố cần thiết để xây dựng vào cảm thức sự việc. Một vài trắc nghiệm cho rằng Baudelaire là kẻ đưa tin, nhận xét đó vượt xa tầm nh́n, đẩy ông vào ngơ cụt, trong lúc thơ của ông đang trên đường khai mở vào năm 1859 ở vị trí lừng lẫy của hùng tính (heroism) và gần như thần thánh (saintliness) cho thi ca vào thời đó nhưng bên cạnh thơ văn của Baudelaire vẫn xem nhẹ và nặng ḷng phê phán, từ khước về gịng thơ đương đại của ông. Đối với Sartre điều đó không phải là ngợi ca chiến thắng vẻ vang cho Baudelaire để rồi đưa tới một cân nhắc sai lầm ‘deliberate failure’, đó là cái nh́n thuộc về tâm lư học và một thứ luân lư cho là chiến thắng vinh quang (échec) nhưng không phải là thế. Vậy th́ ở đây làm sao chúng ta cần một nhận định sáng suốt, một phán quyết chính đáng về cái việc cân nhắc sai lầm đă xẩy ra…Sự cớ đó cho chúng ta một cái nh́n thực tế hơn nghĩa là không thể chối từ hay phân ly những vần thơ tuyệt tác, đáng giá và tuyệt mỹ như thế ? Baudelaire cân nhắc, đắn đo về cái riêng biệt chính ḿnh, ông là một con người nhận biết : đời ông không phải là chuyện giản đơn cho mỗi khi nhầm lẫn, ông là một con người uyên thâm đầy kinh nghiệm, một đức tính nhân bản, một con người dễ xúc động trước hoàn cảnh nhưng không bao giờ than thở hay bộc lộ kể cả chính ông. Baudelaire nằm dưới sự khống chế của người kế phụ, không một lời răng dạy ; ông không được giải phóng ra khỏi những uẩn khúc đó, biến Baudelaire một nội tại phản kháng và từ đó để lại những tánh hư tật xấu trong ông, chính sự thể trong cuộc đời làm ông mất niềm tin, kể cả niềm tin tôn giáo. Sartre cho rằng niềm tin xấu xa đó là một xác định rơ ràng, không phải là một lừa bịp nào khác hơn, nhưng đó chính là sự lừa bịp tự chính họ mà ra.

‘for Sartre; bad faith is defined not as cheating others, but as the cheating of oneself’

Chọn xấu xa tội lỗi (Evil) làm cho ông luôn luôn cảm thấy phạm tội, Baudelaire tuân phục sự tốt (Good) trong cái điều vi phạm. Sartre không đồng t́nh về điều đó dù nhà thơ có ǵ đi nữa, cái việc trắc nghiệm như thế là thất nhân tâm. Suốt cuộc đời ông, Baudelaire không t́m ra được mầm mống của sự phát sinh đó. All his life, Baudelaire sought sterility’. Nhưng cuộc đời không là thế cho kẻ khác. Charles Baudelaire phải tự chọn cho chính ḿnh con đường đi tới dù va phải một tâm trạng khốn cùng.

Nỗi đau đớn của Baudelaire không đến từ mọi hướng và cũng chẳng đến từ phiá ông. Ông than trách đời ḿnh là kẻ luôn luôn gặp điều không may. Cái điều ‘guignon’ của ông chính là điều đau đớn, trầm kha, một cái không may (bad luck) đưa tới cho đời ông một sự bất hạnh (unhappiness) không nguôi, ám ảnh đời ông, Baudelaire cảm thấy mất mát lớn khi mất cha đó là tâm trạng đau xót hơn những đau xót khác, nhưng nếu những điều đó có thể tránh khỏi, những sự cớ đó chắc chắn không phải là khuyết điểm nếu như công lao của ông phớt lờ hay bỏ qua bởi những nhầm lẫn lớn lao cho đành, để rồi xô ông vào vết lăn trầm vẩn đục do từ những ư nghĩ thô thiểm gây ra ngay cả những sự cớ đến với nhà xuất bản quá lo lắng vỡ nợ mỗi khi in ấn tác phẩm của ông. Khốn nạn vô cùng!

...but if much of it might have been avoided, it was certainly not his fault if his merits were ignored by the great and fouled by the vulgar or that the only publisher who really cared for his word was a bankrupt. Terrifically!

Đó là tâm trạng trầm thống đeo đuổi sự nghiệp văn chương của ông. Có thể Baudelaire ‘déclassé’ bị đời lăng quên và xem ông như kẻ ‘vô gia cư vô điạ táng’ chính v́ thế mà ông thổi phồng mặc cảm đó như một thái độ chống lại xă hội…về sau những điều đó được nói ra; thê thảm thay! hai năm trước khi chết, Baudelaire được trả giá ng̣i bút của ông, kể cả đời ông: nhận một số tiền nhuận bút lớn lao như thế ‘mười lăm ngàn, tám trăm chín mươi hai và sáu mươi xu Phật lăng’; bấy giờ chúng ta mới thấy được bề mặt bên kia tấm h́nh của cuộc đời…

Theo thiển ư của Sartre , vị trí trong việc phán xét Baudelaire nên đặt nó vào cơi chân không (vacuum) th́ hơn hoặc cứ cho Baudelaire là kẻ sống trong một xă hội qúy tộc và xung quanh ông là những người lương thiện th́ mọi sự tốt đẹp. Lư lẽ riêng của Baudelaire không đem lại một kết thúc nào cả. Trạng huống đó Baudelaire đă gởi gắm trong thơ. Ở đây chúng ta quan tâm với Baudelaire; là người không phải chỉ có nhận lănh sự đau xót ấy; theo ư Sartre, th́ ai trong chúng ta ‘chấp nhận’ nỗi thương đau không xứng đáng với điạ vị của ḿnh (misfit)? Nếu chúng ta nghĩ xa vời hơn Sartre, nhưng phải hiểu rằng ai là kẻ chọn ra chủ đề nầy: Les Fleurs du mal / The Flowers of Evil hay Ces Fleurs Maladives / Cánh Hoa Suy Tàn và theo sau các tập văn xuôi khác, tất cả tác phẩm của Baudelaire phải hứng chịu cái trắc nghiệm ở cái thời buổi ấy. ‘Có lẽ điều đó là trọng điểm nói lên sự chọn lựa, không những dành cho nhà thơ xấu xa, hoặc một Paris lúc ấy, nhưng cả những nhà thơ Âu châu và ngoài kia biết bao thi nhân ở vũ trụ nầy đều là thế’ (qua lời miêu tả của P. Valery về Charles Baudelaire). Vậy th́ thơ văn Baudelaire tàn rụi để đi đến thất bại, chính cái hụt hẳn đó (failure) để được sống trong hạnh phúc và một đời sống thuận lợi được duy tŕ. Nhưng không; sự thành đạt của ông bị lừa đảo trong một trao đổi hết sức độc đáo giữa cuộc đời và sự nghiệp, khả năng đó làm nên một tổng thể của cảm xúc và  tư duy (contemplation) trong một điạ vị văn học bất thường, một lư lẽ gần như siêu tưởng xuất phát từ những hào nhoáng tạm bợ hằng ngày trong cuộc đời, một tinh thần làm thơ như thế không đến với Baudelaire, cần một cuộc đời đầy đủ ‘tinh thần’ hơn là phải chạy theo, đánh đổi, lăng nhục giữa con người b́nh thường và sự đeo đuổi cho nghệ thuật. Cái đó chính là sỉ nhục nhà thơ mà đời đă gán cho ông. Trả lời thẳng với Sartre rằng : Baudelaire  thất bại là thất bại. Có sao đâu. Thế thôi! Baudelaire là người t́m thấy sự công chính cho cuộc đời đang sống bằng một cái nh́n bằng phẳng đầy vẽ mỹ quan  -aesthetic plane- Nói cho ngay; muốn t́m hiểu Baudelaire không phải là chuyện giản đơn như một số văn nhân khác, tinh thần và linh hồn Baudelaire  là một tâm trạng bi thương, một nỗi đau chất chứa; đó là tâm trạng của một nhà thơ đau khổ.

Cho nên khi viết lên ’Les Fleurs du mal’ là viết lên lời bi thiết giữa đời này. Một tiếng thở dài của tuyệt vọng . Gịng thơ đó là tiếng ‘thốt’ uất nghẹn của Baudelaire, một tương quan mật thiết với Nietzsche qua vai tṛ Zarathustra. Thốt để được trở về với như nhiên, cho nên Bauderlaire nh́n bản thân ḿnh cũng như nh́n đời là bi thảm. Ông ngậm đắng trong im lặng, mà chỉ ‘thốt’ chớ không ‘nói’. Thốt hay nói là một, cùng một hành động, nhưng ở đây tâm trạng của Baudelaire là một tâm trạng giao động nội tại, sự im lặng vô biên qua lời ‘thốt / spake / dire ce qu’on pense’ chứ không cần phải nói/ speak / parle v́ nói không c̣n cái nghĩa bi thương. Nói là ngôi thứ hàng nh́ trong lư luận, là trống không. Thốt là nghẹn ngào không nói nên lời. Bi thương đó mang nặng tâm tư sầu bi, ai oán, không thể giải bày bằng tiếng nói.

Baudelaire chưa bao giờ nhận được lời khen tặng, mật ngọt hay một ư kiến nào ở người cha. Năm lên 6 ông đón nhận cái đau xót; cha chết 1827, từ đó như ngọn gió nhạy cảm thổi đến thằng con trai mới lớn. Rồi bắt đầu phát hiện ra những bài thơ mộc mạc mang tính ca dao ở chốn điền viên, thôn dă, đó là sự phát tiết sớm cho một tâm hồn trong trắng. Đau đớn thay! cái tinh hoa đó lại nằm bên cạnh người mẹ đă chia sớt t́nh yêu qua người khác. Baudelaire ôm nỗi đau từ đó; gợi lên một hạnh phúc hoài cố trong thơ của Baudelaire như ; ‘Je n’ai pas oublié, voisine de la ville…’ và ‘La servante au grande cœur…’ tất cả tuổi thơ trở về với ông hôm nay như một gợi nhớ của kỷ niệm ấu thời đưa đến một giấc mơ không có thực, để rồi thâm nhập vào nội tạng như một uất nghẹn ‘spleen / mauvaise humeur’ Thật ra đây là một bầu không khí của một thế giới xưa cũ, một thoáng nhẹ có tính gợi ư vào trong thơ như bài ‘Spleen’ ( J’ai plus de souvenirs…) và ngay cả trong ‘L’Invitation au voyage’.

Một run rủi cho Baudelaire, một khoảng cách của hạnh phúc đến với ông hết sức nhạy bén và hết sức ngắn ngủi, tất cả dồn dập đưa tới một tâm trạng bi thương trong cuộc đời và cũng chả c̣n nghi ngại ǵ cái cảm giác mất mát đó, về tội lỗi, về khai trừ những điều đó là dấu ngoặc  đi vào trong những tác phẩm của ông. Bỗng vọt tuôn từ một kinh nghiệm hiện thể đưa đến một mộng mơ cơi thiên đường trần thế ở cái tuổi đầy ấn tượng . Thời gian 18 tháng sau cái chết của người cha, mẹ đi lấy chồng khác rồi từ đó Baudelaire trôi theo gịng đời. Nội trú ở Lycée Louis le Grand. Paris 1836.

Thời đi học Baudelaire say mê hai văn nhân Chateaubriand và Sainte-Beuve; ông là người thông tuệ cả văn lẫn thơ. Hignard bạn đồng song nói:’ Hắn luôn luôn liều lẫn’ dare-devil… đôi khi thật khó hiểu và đôi khi bất khiếm nhă. Nhưng mỗi khi đối thoại ông là người ăn nói lịch lăm. Cái lạ đó trong người Baudelaire. Khó hiểu!

Mặc dù sống lạ, sống khác đời, nhưng bên cạnh đó vẫn t́m thấy sự thật không ít của Baudelaire. Rimbaud đă có lần than thở: ‘sống trong môi trường phóng đảng’ về t́nh yêu Baudelaire h́nh như ưa chứng tỏ, ông thường t́m cái đẹp của t́nh yêu hơn là t́m đến với xác thịt. Người t́nh của Baudelaire, sau khi ông chết; Nadar cho biết ông c̣n ‘trinh nguyên’. Cho nên qua những mẫu chuyện chúng ta biết được Baudelaire sống với một tâm trạng khắc khỏai giữa t́nh người và t́nh đời.

Cường độ lớn lao nhất và một giá trị đáng kể trong tất cả nguồn thơ của Baudelaire là những luận đề luôn luôn hiện hữu của con người; định rơ h́nh tượng, h́nh tượng về thể xác con người và cảm tính con người, được so sánh như ngọn đèn đường với đôi mắt cú vọ rướm máu muốn ăn tươi nuốt sống ‘un oeil sanglant qui palpate et qui bouge’ tợ như vồ vập, ŕ rào của buổi b́nh minh ‘rustle of dawn’ tợ như những đóa hoa đứng đơ rủ cánh sầu ‘comme un visage en fleurs que les brises essuient’. Nhưng có lẽ ông dự đoán sai lầm chính ông trong cái tư duy không cá tính, không ngôi thứ  ‘impersonality’ Nếu có; nghĩa là gán cho một sự chứa đựng nào đó trong những tác phẩm của ông. Không! cái đó như một sự đề cập đến một kiểu thức sáng tạo ‘con chữ’ để vần thơ trở nên siêu lư hơn cho một hành động có lư do. Đôi khi những sự thể như thế cũng xuất xứ từ bẩm sinh mà ra.

Cái sự nghiêm túc của thi sĩ Baudelaire là cái nh́n công chính trong một thời sự riêng tư ; trái tim tôi nằm giữa bụi trần ‘Mon Coeur mis à nue’. Đó là lời trầm thống của nhà thơ rơi vào im lặng và hố thẳm giữa đời này. Đau xót vô cùng thi nhân ơi! 

                                                                   *

 Cuộc đời của Baudelaire là một tâm trạng đau xót và vô nghĩa, tất cả dữ kiện đó được xem là h́nh tượng. Cuộc đời sôi động của ông cuối cùng chỉ là con đường của lưu đày. Nói cho ngay; trong thời gian vắng bóng (chết) thế hệ nối tiếp như Mendès, Mallarmé, Verlaine và những văn nhân khác chào đón Baudelaire  như một nhà thơ lớn của Pháp quốc. Nhưng đôi tai ông điếc đâu có c̣n nghe lời ngợi ca đó. Đọc đoạn thư gởi của mẹ, không lâu trước khi Baudelaire chết : “Charles con ơi; con có tất thảy hăy để cho kế phụ con tự đưa đẩy lấy đời ông, sự nghiệp của ông hẳn là khác biệt. Sự thật quá rơ ràng; văn nghiệp đó không bỏ quên tên con trong văn đàn, nhưng chắc chắn một điều trong ba chúng ta phải là những con người hạnh phúc”. Mỗi khi làm mẹ; lời mẹ là đúng với con, nhưng bà không bao giờ thực hiện điều mong muốn đó; rằng là, con chim bồ câu đó, nào ngờ lại được gọi một cách âu yếm: ‘con phượng hoàng lớn’ của mẹ. Đời này sự vụ thường hay đến sau cái chết. Tiếc thật!

Có lẽ điều nầy đă đem ra b́nh luận và coi như lời ngụy biện hay cho đó là tâm hồn lăng mạn của nhà thơ; cái đó là một thứ chọn lựa giữa nghệ thuật và cuộc đời: - Bà Aupick mẹ Baudelaire là đau thương, sầu muộn. Văn nghệ sĩ như Molière và Racine nằm trong cảm thức đau xót cho thân phận nhà thơ Baudelaire. William B. Yeats đưa vấn đề nầy vào trong một tâm tư thầm kín qua mấy câu thơ độc chiêu như sau:

The intellect of man is forced to choose

Perfection of the life, or of the work,

And if it take the second must refuse

A heavenly mansion, raging in the dark.

 

(Trí tuệ con người được quyền chọn lựa

Một đời tuyệt hảo lẫn thi văn,

Và nếu có chăng nữa cũng xin từ

Cửa trời rộng mở, xé toạt màn đêm.)

                                                       (vcl phỏng dịch)

 

Nhưng Baudelaire chẳng thay đổi trạng thái về cái gọi là nạn nhân ‘lăng mạn ngụy tạo’: ông biết quá rơ những ǵ đă xẩy ra, không có người nào trong cuộc đời này hay bất cứ một việc ǵ có thể đạt đến toàn hảo cả.

But Baudelaire was not entirely the victim of the romantic fallacy: he knew too well that no human life or work can reach perfection. 

                                                                     *

Les Fleurs du mal . The Flowers of evil.

Những Đóa Hoa Xấu Số

 Baudelaire chọn tựa đề nầy có chủ ư ǵ không ? Đó là điều ngạc nhiên vô cùng trong một tư duy có thẩm định giữa Baudelaire và Thiên Nhiên. Ở đây không nh́n vào cái tương quan của h́nh ảnh hoa lá cành, mà ở đây tác giả dựng lên để áp đặt một sự lẫn lộn giữa hoa và thi nhân, giữa thiên nhiên và thẩm mỹ quan; tất cả được quyện vào trong một liên tŕnh biến đổi bất thường của xấu xa tội lỗi và điều tốt, kể  cả một nền luân lư nằm trong đó.

Chúng ta biết rằng Baudelaire là con người biết suy tư; ông chọn chủ đề khác trước khi lấy tên ‘Les Fleurs du mal’. Điều đáng chú ư lúc đó là t́nh ái (erotic) cho nên Baudelaire dùng tựa “Những kẻ Đồng T́nh Luyến Ái” (Les Lesbiennes) 1846 và sau đó có tính tôn giáo, tính xă hội dưới tựa “Lăng Quên” (Limbes/Limbo) 1848. Tập thơ với tựa đề Les Fleurs du mal gồm 18 bài thơ ngắn dài, được Revue des Deux Mondes cho xuất bản 1855.Một khởi đầu của Baudelaire từ đó.

Trước năm 1841 Baudelaire viết thư cho mẹ rằng là ông có gởi cho mẹ ‘chùm hoa’, bà có thấy hoa lá ǵ đâu, bà nhận ra cái sự quái dị (singulières) của thằng con ḿnh, sở dĩ xử dụng như thế là v́ cái thời đó đàn bà nhạy cảm và hiểu cái ư nghĩa của việc dâng hoa ; một lối ngụ ư khác đời (singular) trong thư viết , có thể là một sự khuấy nhiễu bà mẹ yêu của ḿnh vốn đă có định kiến về thơ tứ. Chúng ta hẳn đă biết tập thi tuyển là dựa trên cơ bản huyền thoại Hy Lạp: ‘hoa’ và ‘chọn lựa’ có nghĩa là ‘lọc lựa những cánh hoa thơm cho vào thơ’ ư cho thơ có h́nh tượng của t́nh yêu. Ở thế kỷ 18 các nhà thơ Âu châu phong phú hóa những loài hoa vào thơ, kể cả hoa dại mọc bên đường , tạo một cảm thức ngây thơ trong trắng. Tựa đề ‘Những Đóa Hoa Đau Xót’ khởi đầu người ta tưởng là một sự b́nh phẩm mai miả cho một thể loại thơ lăng mạn dành để vuốt ve, mật ngọt với nữ giới. Thực ra nói đến ‘Hoa tàn’ hay ‘Hoa xấu’ là bước đột kích vào trường phái thơ lăng mạn, một lối phản đề vào trường hợp nhà thơ Hègèsippe Moreau của bài thơ Les Myosotis (forget-me-not) 1883 hoặc bài thơ của Victor Hugo Les Feuilles d’automne (Lá Mùa Thu) 1831. Th́ tựa đề Les Fleurs du mal của Baudelaire không có ư mai miả ǵ cả mà phải lên án cho là xấu xa, bôi nhọ xă hội, một nhận định như thế quả là ‘quá khích’ vơ đoán vô căn cứ của đám người sợ lạm danh. Baudelaire đứng đắn mà nhấn mạnh một cách chân thật về cái h́nh ảnh mà ông đă tô vẽ những màu sắc hài ḥa, không cồng kềnh,vướng mắc  để nói lên cái xấu vẫn có cái đẹp riêng của nó trong thơ. Thế cho nên Les Fleurs du mal như bản tuyên ngôn chống lại những ǵ không thi vị của bản chất thơ (nature-poetry) ít ra cũng giảm đi cái chất lăng mạn và một cái ǵ quá mộng mị (sentimentalism) của thơ có lẽ điều nầy sẽ không thích nghi cho những loại người yêu thơ như vậy.

Tuy nhiên đây không phải nói thế là xong. Tựa đề nầy thực ra mang hai ư thức khác nhau ; một nghĩa ẩn dụ và nghĩa khác là sản phẩm của xấu xa, tội lỗi, đau xót (evil) với những bài thơ nói lên cái điều đó. Chính Baudelaire thấy thích hợp với những ư thơ của ḿnh được trải rộng trong phép ẩn dụ. Cuối cùng chúng ta t́m thấy được ư tưởng của tập thơ nầy, một sự tuyển lựa đầy đủ ư nghĩa của căn bệnh hoặc những cánh hoa tàn úa (trong thơ) của cái gọi là ‘xấu xa, tội lỗi’, một ‘evil’ hay để lại ‘ce misérable dictionnaire de mélancolie et de crime’ hoặc là ‘ce livre atroce’…Nhưng thử liếc mắt vào lần đầu xuất bản Les Fleurs du mal có đủ chứng tỏ rằng cái chủ đề đó thật sự là ‘sai nghĩa’ hay đặt tên sai ( ?) Hăy nghe Montaigne phân bua đôi điều : ’chúng ta chả có kinh nghiệm ǵ cả trong một trạng huống trong sạch đó’ (we experience nothing in its pure state / nous ne goutons rien de pur)

Có vô số bài thơ nói tới hai bề mặt của Xấu và Tốt. Kết quả cũng có nhiều tập thơ khác có một ít hoặc không đă dựng lên những tựa đề rất nghèo nàn và bệnh hoạn.

Tại sao người ta lại đổ xô vào cái đề tài nầy ? Hay có vấn đề ǵ ? Vâng ; có. Bởi v́ lời khẩn thiết, van xin của Baudelaire vào cái ‘Evil’ đó như một tư thế đầy quyền lực  đặt trong ư nghĩa quan trọng tôn giáo. Ở đây có hai kết quả kỳ cục : Có một số (Verlaine, Arthus Symons) coi nhà thơ như một thứ Qủy ám (Satanist) trong lúc những kẻ khác (T.S. Eliot v…v…) th́ cho rằng người ta ăn cắp những ǵ của Baudelaire bỏ vào trong tôn giáo. Hợp lại với hai ư tưởng đó cũng như những thế hệ nối tiếp, đều đưa tới nghịch lư trong thơ Baudelaire. Chủ nghĩa Siêu thực, chối từ Baudelaire hẳn hoi, v́ đă vô t́nh gây trầm trọng cho học thuyết siêu thực của họ. Chủ đề chứa đựng một cái ǵ có tính phản đề giữa ‘hoa’ và ‘ma qủy’. Baudelaire muốn vượt thoát ra khỏi cái điều miêu tả đó như một lối chơi chữ của tựa đề ‘un titre-calembour’. Éluard và Picasso đă một đôi lần tranh luận về cái gọi là ‘sáng tạo ra cái chống trả thẩm mỹ quan’(anti-aesthetic / nous avons créé l’anti-esthétique) Vậy th́ họ có làm hay không làm, đó là ngọn nguồn mà chúng ta t́m thấy cái Siêu thực trong thơ Baudelaire. Và rồi dưới kư hiệu đó ; đối kháng giữa ‘Spleen’ và ‘Ideal’ (giữa ‘Hận’ và ‘Lư tưởng’) là sắc thái cho một tựa đề mà Baudelaire đă chọn. Một trong những bài thơ của ông là giới thiệu một cái ǵ phi thường chống lại thẩm mỹ quan là hiển nhiên ‘Une Charogne’như một xác vữa thối không nên đến gần và   theo đó một sự ngăn cấm những vần thơ ẩn dụ siêu h́nh đầy chất tinh ma ! ‘Les Métamorphoses du vampire’. Cái đó dành cho sự cảm quan giữa thơ và thơ nhân.

*

 Cho nên chi làm thơ là đ̣i hỏi cái cảm thức chớ không đ̣i hỏi một sự thúc bách, một ray rức nhu cầu. Nh́n quá tŕnh làm việc của Baudelaire ta cũng t́m thấy chân tướng cụ thể của nhà thơ, nghĩa là sống với nội tâm, với hoàn cảnh cũng như với thời gian, một chấp nhận thương đau thấm trong máu, trong tim để đưa ư thức vào gịng thơ vừa có tính khả năng vừa có tính phát tiết. Làm thơ là ǵ ? ‘Là chấp nhận cái thân phận Nữ Oa đội đá vá trời…làm một lao dịch quá khổ không biết đến khi nào là kết thúc’ (Lê Đạt). Thế nhưng một số nhà thơ hôm nay họ làm thơ để cho thơ trở nên ‘xiêu vẹo’, dẫn đến con đường ‘mê lộ’, chú tâm vào vật phẩm hơn là phẩm chất. Sự thể như thế là giết thơ. Thơ yêu cầu cái hồn, không yêu cầu cái lượng. V́ thế có nhiều bài thơ (như đă nói ở trên) một số thơ nhân dựng thơ qua câu thơ cũng như qua tựa đề trông nghèo nàn, bệnh hoạn, yếu mềm, ṿng vo trong một thể tài, hết lối thoát để rồi không biết thơ ‘chạy’ đi đâu ; thơ lún dần trong bùn mà không hay. Cứ cắm đầu chạy theo với trào lưu, mà trào lưu đó đang lăn xuống triền dốc của vô cảm, một thứ vô thức ‘unconsciousness’ rất nguy hiểm cho thơ nhân. Họ không thấy con đường trước mặt. Tưởng làm được là được ; dù rằng thơ nó nằm ở cơi phi,   nhưng cơi phi phải là cơi siêu lư như một chứng minh của Baudelaire. Ấy mới là thơ. Thiệt khổ ! cho những thơ nhân quên phận ḿnh.

Qua bài viết về Baudelaire ít nhiều để lại cho chúng ta một cái nh́n siêu lư của nó, một cái ǵ ngấm ngầm chất thơ của Baudelaire đi vào hồn người một cách thấu triệt,  hồn thơ và hồn người như một cảm thức dành cho nhà thơ lỗi lạc nầy. Baudelaire đă đứng trên ngọn sóng khi mới bắt đầu cảm thơ ở tuổi lên sáu, một bề dày của thi tứ, một kinh nghiệm thiên phú trải rộng mà không một ai thời ấy nhận ra. Rất ít. Kể cả những người thân yêu bên cạnh Baudelaire. Ngày nay người ta cảm nhận được một Baudelaire tuyệt-tài-danh. Dưới huyệt mộ h́nh như Baudelaire măn nguyện được phần nào nhân thế dành cho ông, tuy ông không thấy, không nghe, không biết nhưng Baudelair đă quán trưởng khi sanh tiền và cho đến bây giờ.

*

Les Fleurs du mal. Là tuyệt tác phẩm của Charles Baudelaire. Tập thơ đă được bàn căi nhiều nhất qua mấy niên kỷ ; một tập thơ mang nặng tính lư luận nhân bản. Mỗi bài thơ là một triết lư nhân sinh đắm ch́m trong VÔ NGÔN. Tượng trưng một vài bài thơ trong tập Những Cánh Hoa Xấu Số của Baudelaire làm tiêu biểu :

     

Fleurs du mal

LA DESTRUCTION

 

San cesse à mes côtés s’agite le Démon ;

Il nag autour de moi comme un air impalpable ;

Je l’avale et le sens qui brule mon poumon

Et l’emplit d’un désir éternel et coupable.

 

Parfois il prend, sachant mon grand amour de l’Art,

La forme de la plus séduisante des femmes,

Et, sous de spécieux prétextes de cafard,

Accoutume ma lèvre à des phitres infâmes

 

Il me conduit ainsi, loin du regard de Dieu,

Haletant et brisé de fatigue, au milieu

Des plaines de l’Ennui, profondes et désertes

 

Et jette dans mes yeux pleins de confusion

Des vêtements souillés, des blessures ouvertes,

Et l’appareil sanglant de la Destruction !

 

 

 

Cụm Hoa Xấu Số

PHÁ HOẠI

 

Ngạ quỷ kẻ luôn réo rắc bên tôi ;

Xoáy quanh tôi tợ như hơi nước không vướng tới

Khi tôi ngốn lên nuốt xuống như muốn đốt cháy buồng ngực

Và ngập tràn hơi thở không bao giờ c̣n thú ham mê

 

Thông thạo quá đi thôi người t́nh nghệ sĩ

Đôi khi họ muốn giả dạng đàn bà để đưa vào cửa,

Và, giả làm kẻ ngoan đạo tranh cải như mê man

Đôi môi tôi trút xuống một liều thuốc

 

V́ thế hắn dụ tôi xa lià cái nh́n Thượng đế

Và khi đó tôi thở dốc, uể oải với hết hơi

Hăy đặt tôi ở giữa một sa mạc bao la của Ennui

 

Khi đó đôi mắt tôi rướm lệ một cách xấu hổ

Hắn quẳng tôi như tấm dẻ bẩn và bầm đau

Và mọi thứ vũ khí  lăm le phá hoại.

(vcl phỏng dịch)

                                                                *

                                     

Spleen et Idéal

UNE CHAROGNE

 

Rappelez-vous l’object que nous vimes, mon âme,

Ce beau matin d’été si doux :

Au détour d’un sentier une charogne infâme

Sur un lit semé de cailloux,

 

Les jambes en l’air, comme une femme lubrique

Brulante et suant les poisons,

Ouvrait d’une facon nonchalante et cynique

Son ventre plein d’exhalaisons.

 

Le soleil rayonnait sur cette pourriture,

Comme afin de la cuire à point

Et de rendre au centuple à la grande Nature

Tout ce qu’ensemble elle avait joint ;

 

Et le ciel regardait la carcasse superbe

Comme une fleur s’épanouir.

La puanteur était si forte, que sur l’herbe

Vous crutes vous évanouir.

 

Les mouches bourdonnaient sur ce ventre putride,

D’où sortaient de noirs bataillons

De larves, qui coulaient comme un épais liquide

Le long de ces vivant haillons.

 

 

 

Hận và Lư Tưởng

XÁC CHẾT VỮA THỐI

 

Đừng quên nhé ! Ôi linh hồn tôi ơi

Những ǵ chúng ta thấy mùa hè một sáng trời trong

Dịu dàng làm sao : nơi đây con đường ṃn quay lại,

Một xác chết ghê rợn nằm trên giường đá dập

 

Đôi chân lơ lững không trung như người đàn bà gợi dục,

Bừng cháy và rỉ ra độc khí

Và thờ ơ và nhạo báng để hở cái đ́ tanh hôi

 

Mặt trời tỏa xuống trên miếng thịt thối

Nếu được đem ra nướng lại

Và trả lại một trăm lần hơn đến mẹ Thiên nhiên

Tất cả mẹ sẽ đem lại cùng chúng ta

 

Và lúc đó mặt trời đổ xuống người chết một ánh huy hoàng

Như  muốn nói điều ǵ về cánh hoa nầy như một bông hoa

Mùi hôi thối xông lên quá nặng

Là tất cả làm em rớt xuống nhưng không ngất xỉu trên cỏ

 

Con ruồi kêu vi vu quanh cái đ́ thối tha đó

Mà tiểu đoàn hắc quân của loài bọ nhặng trường tới

Chảy tràn lan tợ như chất lỏng sôi sục

Những thứ đó sống bằng xác thịt thối.

(vcl phỏng dịch)

 

                                                                       *

 

Spleen et Idéal

LE GUIGNON

 

Pour soulever un poids si lourd,

Sisyphe, il faudrait ton courage !

Bien qu’on ait du cœur à l’ouvrage,

L’Art est long et le Temps est court.

 

Loin des sépultures célèbres,

Vers un cimetière isolé,

Mon cœur, comme un tambour voilé,

Va battant des marches funèbres.

 

- Maint joyau dort enseveli

Dans les ténèbres et l’oubli,

Bien loin des pioches et des sondes ;

 

Mainte fleur épanche à regret

Son parfum doux comme un secret

Dans les solitudes profondes.

 

 

Hận và Lư Tưởng

KHÔNG MAY

 

Nhấc ḷng can đảm to lớn dậy

Nhu cầu đó có thể cho Sisyphus

Tuy vậy ḷng thèm khát dành cho người lao động

Nghệ thuật triền miên và Thời gian cạn cợt

 

Mơ thanh danh chạm khắc vào ḷng tôi,

Khác chi tiếng trống bẹt

Đánh dập chết vỡ tan nơi nghĩa điạ

 

- Nhiều đá qúi ngủ vùi dưới huyệt mộ

Trong bóng tối và lăng quên

Ngoài kia tay với cái cuốc hay là gậy ṃ đường

 

Nhiều hoa vung văi ra mùi thơm với nỗi buồn

Hương ngọt ngào như lời thầm kín

Trong thâm cung hoang vắng nỗi cô liêu.

(vcl phỏng dịch)

 

VƠ CÔNG LIÊM (ca. ab. 1/3/1012)

 

*‘Một ngày nào đó bạn sẽ hiểu’ (J.P. Sartre)

_________________

 

** Charles Pierre Baudelaire.

Sanh: 9/4/1821 tại Paris. Chết : 31/8/1867 ở Pháp.

-Dịch thơ A.E. Poe 1852.

- Xuất bản tập thơ ‘Les Fleurs du mal’ (Những Đóa Hoa Xấu Số) 1857

-Xuất bản Thơ Văn Xuôi 1866.Mở đầu thơ Tượng Trưng.

Sống và chết trong đau khổ với đời và t́nh yêu.

SÁCH ĐỌC:

-          Baudelaire and Nature by F. W. Keaky. Manchester, London 1961

-          The Cult of Beauty in Baudelaire by S.Rhodes. New York USA 1929

-          Baudelaire the Complet Verse by Francis Scarfe. Anvil London 1989

 

 

  art2all.net