BỒ TÁT (II)

Phật giáo Đại Thừa (Mahàyàma / Great
Vhicle) thường coi Bồ Tát là hậu duệ Phật, là vị Phật tương lai. Bồ Tát
(Bodhisattvas) là đấng ‘cứu chuộc’ ḷng xót thương cho nhân loại; đấy là lời thệ
nguyện để đạt tới con đường khai sáng, không những chỉ dành cho việc giải thoát
con người mà c̣n tỏ rơ nẻo về của phật. Trong Phật giáo Đại Thừa coi đây là
phương tiện, là chân lư tối thượng; cho dẫu là ǵ họ đă đạt tới ngưỡng cửa của
niết bàn –In Mahàyàna Buddhism, this means that, even though; they have reached
the threshold of nirvana. Nhưng; niết bàn chỉ là h́nh ảnh của mơ về
(dreaming-day). Ngay cả Phật Thích Ca khi viên tịch cũng chưa nói với hàng đệ tử
là ‘ta nhập diệt’ mà tới được bờ giác là viên măn; chỉ có con người cho là nhập
diệt (niết bàn) là nơi chốn hằng cữu và chỉ có những bồ tát thay phật mà thực
hiện việc này cho chúng sanh được văng sanh tịnh độ mà thôi. Thành ra niết bàn
là h́nh ảnh gợi cảm và sống động trong chúng sanh. Tuy nhiên; đạo là đường sáng
để đi tới giác ngộ, bên cạnh đó họ đă ngăn ngừa những vọng dục và dị biệt của
thế gian mà cốt giúp cho con người vượt thoát ra khỏi ṿng quay của vũ trụ giới.
Đối với giáo phái này thành quả đạt được là đến nơi cơi niết bàn, không những là
ǵ đi nữa, mà là cứu cánh để đạt tới mục đích. Họ nhận thức sâu xa khung cảnh và
từng giai đoạn khác nhau của sự giải thoát ((stages of enlightenment) là đạt tới
sự hoàn mỹ trên lộ tŕnh để trở nên phật. Vậy cho nên sau đời phật, bồ tát là
phật tái sinh là hoằng pháp làm mới lại giữa con người và phật để trở nên
tâm-như-phật không c̣n vướng tục trong cơi u minh.
Thánh thể Bồ Tát hay Thiên thể Bồ Tát (Celestial Bodhisattvas) được nh́n thấy nơi Phật Bà Quan Âm là vị phật của t́nh thương cứu độ rất gần gũi với chúng sanh và được coi như phật. Và; mật truyền của phật là hoán chuyển nỗi đau và làm trung gian xoa dịu giữa phật và sự chết (buddhas and mortals). Bồ Tát là phật của tương lai là nhân xưng của thiện tâm. Bồ Tát sẽ đến trên hành tinh của loài người khoảng chừng 30.000 năm trong khi đó Phật của hiện thể đă măn hạn. Thừa kế ‘di sản’ phật là chư vị bồ tát:
-Phật Quan Âm / Avalokiteshvara là giới tính (sex) không nam
và không nữ. Đặc biệt ở Nam và Trung Á việc thờ kính Quan Âm dưới h́nh tượng hóa
khác nhau. Như ở Tây Tạng Quan Âm là nam tính ngồi trên ḿnh sư tử tay cầm chùy,
tay phải cầm cánh hoa sen. Ở Trung Quốc Phật Quan Âm là nữ tính thanh cao từ dủ
tay cầm nhành liễu, tay trái cầm b́nh nước cam lồ. Là h́nh ảnh bao che đầy phép
mầu, nhưng; về sau nh́n nhận Phật Bà Quan Âm qua một chuyển thể khác là ‘Đấng
Thị lực của T́nh thương / Lord of compassionate Sight’. Theo sử sách về huyền
thoại (myth): Bồ Tát Quan Âm luôn nh́n xuống, dưới đôi mắt u sầu với nỗi đau của
thế giới. Đầu phật toát ra dáng đau đớn. Đó là nỗi bi thiết hiện ra trong con
người Bồ Tát Quan Âm với mọi sinh vật; ngoài ra Phật Quan Âm (ông/bà) đă có 1000
cánh tay và trong ḷng bàn tay của mỗi bàn tay đều có mắt. Đôi mắt đă thể hiện
ánh mặt trời và mặt trăng. Mỗi vị Bồ Tát hiện thân khác nhau, tỏa ra trong con
người như thể hiện khả năng cứu độ chúng sanh. Phật Quan Âm cứu giúp mọi người
mỗi khi người ta cầu xin –Avalokiteshvara helps everyone who asks for his/her
assistance. Quan Âm là vị Bồ Tát che chở mọi tai biến thiên tai và ban phước cho
trẻ thơ (Quan Âm tính nam thường thấy ở Sri Lanka và Phật giáo Tây Tạng) Mỗi
nước Đông Á có tên gọi riêng cho Bồ Tát Quan Âm. Tây Tạng có tên gọi
sPyan-ras-gzigs hay gọi chung là Chenrezig .Ở Trung quốc cho Quan Âm
là thánh-nữ (goddess) với danh xưng KuanYin hoặc Guanyin. Ở Nhật
nh́n Bồ Tát Quan Âm là thượng đế nữ Kwannon. Ở Việt Nam coi Quan Âm là
đấng ‘cứu khổ, cứu nạn’ được đặt ngang với Phật Thích Ca; nhiều tượng đài được
xây dựng lôi kéo vô số thiện nam tín nữ đến cầu xin; coi Quan Âm như ‘thần hộ
mạng’. Nói đến Bồ Tát Quán Thế Âm là nói đến Mạn-Đà-La (Mandala) đặt Quan Âm vào
vị trí trung tâm với nhiều đầu, bởi ngài là đấng hằng thông (distraught) không
thể có sự bối rối mà vi diệu trong thị lực của niềm đau chúng sanh... Mạn-Đà-La
là kư hiệu của vũ trụ. Có bốn tường thành và bốn cửa đều mở rộng có nghĩa là cơi
ngoài của vũ trụ. Quán Thế Âm được ngồi chính phẩm là đấng hằng cứu chuộc của
muôn loài. Bồ Tát là trí tuệ tuyệt đỉnh ‘perfection of Wisdom’ đối với giáo phái
Đại thừa coi đó là ‘kinh thánh / scriptures’ cả hai mô tả rơ và cổ vũ rộng. Đấy
là tính lịch sử tôn giáo. Chúng ta biết rằng những ǵ thuộc tính cách lịch sử là
một liên hợp của sự miêu tả và liệt kê theo qui định đôi khi đưa tới buộc phải.
Một hiện hữu vi diệu có một năng lực vĩ đại và ḷng xót thương vô biên –There
are wonderful beings who have great abilities and perfect compassion. Vi diệu
ban cho của bồ tát thường minh họa với chúng sanh những ǵ như ‘phép lạ’, nhưng;
chuyện kinh hoàng của bồ tát thường tỏ rơ ở tay chân hoặc thân thể là tỏ thái độ
thị uy chống lại sự đe dọa qủi ám hoặc cho đây là sự bừng lên ở chính ḿnh ngoài
cái việc hiến dâng tận tụy và ḷng vị tha đối với chúng sanh. Với Quán Thế Âm là
người mẹ thế gian đứng ra che chở những ǵ con người cần cứu giúp. H́nh ảnh ‘mẹ
thế gian’ đứng giữa trời để hứng chịu và không bao giờ tỏ sự măn nguyện, bởi;
người biết thế gian đang ở trong bể khổ. Ở Trung Á và Trung Quốc với mười một
tượng đầu qua h́nh thể của Quán Thế Âm vào giữa tk. thứ bảy và đầu tk. thứ tám
với mười một cái đầu và ngàn cánh tay của Quán Thế Âm, có chuyện kể th́ chỉ có
bốn tay. Và chỉ t́m thấy h́nh thể đó ở Phật giáo Tây Tạng (Phật giáo Tây Tạng
luôn luôn diễn tả qua tranh ảnh như nam tính ngồi trên đài sen, khoác áo da nai
trên vai trái với hai nhành lá vạn tuế. Luôn mỉm cười như xoa dịu nỗi đau và
hiến dâng tận tụy vào ḷng xót thương. Ḷng xót thương là ư niệm cơ bản và động
lực của Bồ Tát. Nhớ cho:-xót thương không phải là một hiện hữu của Thượng đế xác
minh một cách quả quyết mà đó là ư niệm của một hiện hữu tuyệt hảo mà bao hàm
một hiện hữu tồn lưu ngoài những ǵ là trí tuệ con người; đôi khi không c̣n hiện
thực mà là chi nhánh của siêu h́nh đối xứng với hiện hữu thiên nhiên; hiện thực
hoặc cho là điều kiện tối hậu của một hiện hữu thực thể một cách tuyệt đối nhưng
nó c̣n là một thứ luân lư tuyệt đối đối với giáo phái Đại Thừa –Compassion is
not an ontological absolute; but it is an ethical absolute for Mahàyàna. Vậy th́
Bồ Tát của chúng ta là thăng tiến, đạt tới không quán niệm (non-conceptual) và
cũng không có hai (non-dual) mà chỉ có một. Nh́n thấy những ǵ của trống không
là bước tới con đường sáng của trí tuệ (Path of Insight) [darsanamàrga]. Đoái
thương là thực tâm đối với bồ tát chớ không v́ bồ tát mà đem ḷng đoái thương.
Cho nên chi bồ tát hiện hữu chính là ta đang hiện hữu, chúng ta đang đối diện
trước một thực thể sống động và mầu nhiệm. Bồ Tát Quán Thế Âm rũ ḷng thương
không phải ở chỗ nhân gian chờ đợi mà bồ tát rũ ḷng đau cho thế gian. Bởi; thế
gian đă xa lià thượng đế mà chỉ đến với thượng đế mỗi khi cần. Sự thối thác của
con người chính là sự ‘phản bội’ đối với thượng đế cũng như bồ tát. Rũ ḷng
thương là một xác quyết, là đi vào với thực thể. Bố Tát Quán Thế Âm dưới nhiều
lăng kính khác nhau, dưới nhiều h́nh thể khác nhau, có thể là vô h́nh, nhưng; có
thể là hữu h́nh . Ở đây có mười hai (12) thành quả đạt được đưa tới đỉnh cao phi
ngă là một sự tăng trưởng vượt mức bởi năng lực của mười (10) phương xuyên qua
khắp mọi nơi và tiếp tục cho mấy ngàn đời sau. Bồ Tát có tất cả bảy (7) bảo đàn
kinh. ở Pháp Bảo Đàn Kinh bốn (4) Bồ Tát thực hiện và đạt tới ba mươi bảy (37)
kinh là đạt tới tứ đại nguyên của giải thoát –At the fourth stage the
Bodhisattva practises and attains the thirty-seven elementals of enlightenment.
Đó là vi diệu Pháp Bảo Đàn kinh. Phật giáo Đại Thừa luôn luôn xem trọng và coi
như ‘thánh kinh’nhật tụng.
Có rất nhiều bồ tát ra đời để thay thế phật. Mỗi vị bồ tát theo quan niệm tín
ngưỡng là linh ứng và phép mầu để giải thoát nhân loại ra khỏi đau đớn và khổ
lụy. Mỗi bồ tát có năng lực riêng để cứu độ chúng sinh. Đáng kể ở đây là Bồ Tát
Quán Thế Âm là gần như phật; được biết tới như Phật-Bà-Cầm-Hoa-Sen /
Lotus-Bearer / Padmapani. Ở Đông Á hoa sen biểu thị không buộc trói mà đem ḷng
từ bi, giải phóng từ sự u tối và mở đường đi tới giải thoát. Bồ Tát Quán Thế Âm
c̣n là con người xót thương vũ trụ là gốc ngọn của sự bốc lên trong một năng lực
vi diệu của tĩnh tâm của Thiền-tâm-phật của A-Di-Đà-Ta-Bà-Ha
(Dhyanibuddha-Anitabha) và mang vào đó h́nh tượng hào quang phật tỏa sáng đến
mười phương phật của vũ trụ. Bồ Tát Manjushri là vị được mệnh danh là Đại Bồ Tát
có nhiều tay, có tay cầm kiếm, có tay cầm hoa sen như chứa đựng trí tuệ tuyệt
hảo ‘perfection of Wisdom’; được mô tả tư tưởng tuyệt đối của tôn giáo và hiện
tượng trống không là chức năng thuộc giáo phái Đại Thừa. H́nh tượng đó được suy
tôn vào tk. thứ mười lăm (15) ở Trung Quốc. Bồ Tát Cunda là vị bồ tát nữ, đôi
khi c̣n gọi là mẹ Phật (Mother of the Buddhas) có tới mười sáu (16) cánh tay,
mỗi cánh tay như vơ khí để chống trở đe doạ và bắt nạt, bàn tay của bao che và
răn dạy; tượng này thờ ở Ấn Độ vào tk. thứ mười (10) Và; mỗi quốc gia theo đạo
Phật lập đền thờ và cung nghinh Bồ Tát là đấng hằng cứu độ để giải thoát nhân
loại đi tới cơi ‘niết bàn’ ./.
VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. trung tuần tháng 6/2019)
SÁCH ĐỌC: ‘Mythology’(The Myths of South and Central Asia) by Arthur Cottetell &
Rachel Storm. Hermes House. London 2010.
ĐỌC THÊM: -Saddharpundarika Sutra / -Lotus Sutra / -Mahàyàna Sutra / Great
Vehicle Sutra / -Boddhisattva Bồ Tát / Siddhartha / -Triết học xă hội và tôn
giáo / -Ḷng thương xót và siêu h́nh’. Những bài đọc trên của vơcôngliêm hiện có
trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đă ghi.