vơ công liêm

 

CẢM NHẬN QUA TÁC PHẨM

‘THẾ HỆ CỦA XÉT ĐOÁN’ Của JEAN-PAUL SARTRE

 

          Như chúng ta đă biết Jean-Paul Sartre (1905-1980) là nhà văn lớn một thời và cho đến nay. Ông là người sáng lập chủ thuyết hiện sinh Pháp; đă gây ảnh hưởng quan trọng đến tư tưởng hiện đại trên một bề mặt rộng lớn. Một nhà văn phi thường và độc đáo, tạo nên một thứ văn chương siêu quần của một thời, một đời ông trong những tác phẩm văn chương và triết học, một sự kiện đầy phức tạp và một tư duy thâm hậu nhưng trọn vẹn và trội hẳn. Những tác phẩm của Sartre lôi cuốn vào những tranh luận sôi nổi khác.

Thế hệ của Xét đoán / L’Âge de Raison / The Age of Reason là tác phẩm xuất bản đầu tiên vào năm 1945 năm Pháp giải phóng đất nước bị chiếm đóng bởi Đức Quốc xă. Với sự ngấm ngầm tấn công của chiến tranh lạnh đă có đôi phần ảnh hưởng vào những tác phẩm của Sartre vào thời đó. Bận tâm khốc liệt của Sartre trước một nền chính trị lâm thời và những biện chứng của lịch sử đă thấy gần gũi với những ǵ chứa đựng thuộc hư cấu hóa, những ǵ cho là phi thường là những h́nh ảnh sống động và phong phú hơn.

L’Âge de raison lấy ra từ nghĩa đôi ở thời kỳ Khai sáng (Enlightenment) thuộc tk. thứ mười tám (18) trong khi tại-vị tín ngưỡng vào Thượng đế là nơi giành lấy, chiếm cứ bởi chủ nghĩa duy lư. Và; quả thực vai tṛ nhận thức của Sartre không c̣n nghĩa hiện hữu con người mà là những ǵ thuộc bên ngoài của chính họ và cũng là chủ thể của riêng họ, v́ rằng; như tác giả đă nói ‘Thượng đế đă chết / God is dead’. Nhưng; Sartre nhắm ở tựa đề vào trong qui tŕnh của cuộc đời. Nhân vật trong truyện là thứ ‘người hùng / hero-man’ của chính ông. Mathieu được nhắc tới bởi có một sự phù hợp của người anh cả; đấy là điều mà ông đă đạt tới. Trong lứa tuổi ba mươi của ông gọi là: ‘Thế hệ của yêu sách hay xét đoán’ là những ǵ phải trả lại sự khinh miệt Mathieu; ‘nghĩa là thế hệ của ḥa giải / you mean the age of reconciliation’; là đi tới cái lúc chấp nhận thương đau của những cuộc hôn nhân trưởng giả, tài sản, thận trọng và hư hỏng –the moment of capitulation to bourgeois marriage, property, prudence and bad faith.

Một sự phân biệt rơ nét qua tác phẩm thứ ba của Sartre ‘Cái chết Dịu êm / La Mort dans l’Âme’ có thể xem là đúng đắn đưa tới như ‘Cái chết /Death’ chớ không phải ‘sắt đá / Iron’ –trong Linh hồn /in the Soul. Tất cả bao quát trong một chủ đề làm nên kiệt tác của Sartre. Đấy là thoát ư để dịch những tác phẩm của Sartre, một niềm tin vào đó để chuyển hóa trung thực những ǵ cho là ‘Con đường đi tới giải phóng (tự do) / Les Chemins de la liberté. Bởi; Les Chemins đúng nghĩa là Lối về là ‘Hướng tới Tự do / The Ways of Freedom’. Theo tư duy của Sartre sự tự do / freedom chỉ một phần nào ở chặn cuối, một chướng ngại xô bồ, ào ạt, cái sự đó cũng là điều không thể tránh khỏi điều kiện ở bản thể, một lănh vực thường trực của những ǵ bất khả kháng. Vậy th́; ‘Chemins’ hay ‘Ways’ hay ‘Lối’ là một khởi động bất di, dịch là để cầm giữ cái cảm thức của một thứ anh hùng ‘odyssey’qua ư thơ của Homer; Sartre siêu lư ở chỗ cho ‘ways’ là dẫn độ tới đường ṃn (path way), bờ đường ‘waysides’ chính ‘lối đi’ đó đôi khi đưa chúng ta tới sụp đổ hoặc không c̣n tham dự vào, trong khi chúng ta đă công khai ở chính chúng ta để hoàn tất cho một hành tŕnh. Chắc chắn một điều được bày tỏ qua vai tṛ của Mathieu Delarue -nhân sự sinh cùng ngày với tác giả và hoạt động như chính tác giả- là sự thật phơi mở để thấy sự thật có nhiều sự ghê tởm hơn cả hư cấu –la verité est plus choquante que la fiction; là một diễn tŕnh được thực hiện qua từng trang mục như nhắc nhở, như cảnh báo, như yêu sách đó lư do được nêu ra trong tác phẩm, không c̣n thấy mượn lời thay ư mà bày tỏ hụych toẹt trạng huống làm người đang đứng trước bi thảm cuộc đời; không biết ở đây Sartre mượn ư của Nietzsche trong: The Birth of Tragedy và trong Genealogy of Moral là hai tác phẩm có đôi phần xâm nhập vào tư duy Sartre; bởi khi nói đến cái chết của Thượng đế chính là lời xác nhận đầu tiên của Nietzsche. Nhưng; đối với Jean-Paul Sartre đây là sự cố hiển nhiên đă đến như một xúc tác (catalyst), một dự tính bất ngờ từ chỗ t́m hiểu, xét đoán, học hỏi thuộc triết học và những tác phẩm văn chương đều có dính dáng trong tinh thần hệ lụy gia đ́nh là những ǵ thuộc về sau này. Giữa những vai tṛ của Con đường đi tới Tự do của Mathieu là thứ phi chính trị (apolitical) là người đứng ra tán thành và ủng hộ trong một dạng thức khác thường thuộc bi thảm hiện đại đặc biệt –are thus the protagonists in a specifically modern tragedy. Vai tṛ nhân vật trong ‘Thế hệ của Xét đoán / The Age of Reason’ chỉ là nhận thức hết sức mù mờ của những ǵ đặt ra xa cơi ngoài thuộc chủ đề cá nhân. Như vậy; trong mười chương đầu tác phẩm là một sự khéo léo của lối thu nhỏ lại, nó không giống tableaux / đề bảng mà nó chỉ gợi ư để tŕnh diễn mà t́m thấy ở đó những ǵ xung quanh của nỗi sợ hăi trong đó mà thôi. Không t́m thấy ǵ khác hơn ngoài nỗi sợ hăi.

Đối thoại là dụng cụ hết sức quan trọng cho cả hai: thuộc vai tṛ và hành động; dù rằng Sartre cũng thường dùng tới như phương tiện cho văn xuôi để miêu tả sự kháng lại cái khó hiểu của những ǵ thuộc tư liệu vũ trụ và che giấu sự phiêu lưu của tri giác; sự đó là tạo nên ư thức cho mỗi cái ta / moi / self trong mỗi nhân vật, cái ta không c̣n ở chính ḿnh mà cái ‘ta’ chia sẻ với mọi người, với đối tượng khác nhau như chia sẻ chén cơm, manh áo; chia sẻ không có nghĩa là vụ lợi mà phục vụ chung trong một ư nghĩa. Giờ đây Sartre không che đậy sự cứng rắn, khơi nguồn từ một tiểu thuyết hiện đại ở đây mà bắt gặp một đổi thay khác, được diễn tả linh động và bén nhạy hơn trước mà thường thấy qua lối hành văn mới. Tác phẩm của Sartre hầu như của nhà triết học, tiểu thuyết gia, kịch tác gia và lư luận gia đều cho thấy như dấu hiệu vận động của đa phương diện, đối đầu trước mọi t́nh huống (multi-faceted). Tài năng đó đă vượt xa với một lư lẽ đơn phương; dẫu sao đều được thẩm tra, xét lại để minh định cái lư mà Sartre đă đưa ra.

Ở đây chúng ta không ‘vạch lá bắt sâu’ mà tự thân phải hiểu cái nghĩa lư của nó dựng nên, nhất là vai tṛ của người nghệ sĩ, của triết gia thực hiện trong tư duy thâm hậu chớ không thể ngẫu nhiên hay sáng tạo vô cớ như một số người cạn cợt hiểu lầm về nó mà đánh giá sai lệch giá trị bên trong, để rồi trở nên vơ đoán nhận định qua ngữ ngôn, chữ nghĩa mà Sartre đă dùng; như thế là đơn phương trong một tư duy cố cựu, đă không khai sáng tư tưởng mà trở nên ‘lư sự’ ngay cả ngữ ngôn thông thường; nếu thoáng qua tưởng như Sartre đă xử dụng sai nghĩa, nhưng; với lối hành văn có lư luận ‘chất triết’ là thứ dụng vơ sở trường của người viết văn hôm nay; đúng nghĩa cho một thứ văn chương đương đại. Do đó; người viết văn giờ đây là người cầm tay lái khéo trên con đường gồ ghề nhưng an toàn; bằng không chỉ là thứ bịt mắt bắt dê, chỉ tổ cho việc phá hoại chữ nghĩa, bởi; nhận thức sai cả ư lẫn lời là tư tưởng chưa vượt thoát ra khỏi những ǵ đúng nghĩa của vấn đề. Sartre cho đó tư duy hủ hóa làm tê liệt ngay cả biện chứng về nó; kể cả tiểu thuyết là một vận dụng trí tuệ để nói lên cái lư chính đáng và để lại đó một cái gọi là bất khả phân ly (inseparable). Thành ra tầm nh́n vào lư luận đ̣i hỏi một vận dụng trí tuệ mới đả thông tư tưởng, bằng không nghĩ một đường, viết một nẻo làm sai lệch văn từ, lộ nguyên bản mặt trong đó, lộ nguyên một tŕnh độ nhận thức chưa đạt tới; cái đó gọi là lưdo để xétđoán vấn đề, tức là dẫm chân trên lối ṃn (path) xưa cũ mà phải hanh thông thời mới đạt tới chân lư sự thật, sự thật cuộc đời và sự thật ở chính ḿnh. Bước đầu hướng tới nhận biết, là ư thức nhận biết bất biến, là dựa dưới kinh nghiệm như một khai mở để giảm bớt trừu tượng hóa vấn đề…ngay cả viết văn hay làm thơ là diễn tả trong mạch thở của tâm hồn, là chứng cứ trung thực qua cảm nhận, nghĩa là trong tư duy cục bộ để nói lên cá tính của ḿnh mà không có thật.

Thí dụ; khi viết về hồi kư, kư sự hay nhật kư là đặc vấn đề trong khách thể như đă nh́n thấy vấn đề của một thời quá khứ được trở về trong tinh thần có thực của sự kiện chớ không đứng trong vai tṛ chủ thể để b́nh giải cái sự lư hiển nhiên, là gián tiếp nói về cá thể không rơ nghĩa; đă thế th́ không gọi là ‘hồi ức’ sai cả chữ lẫn ư, bởi; hồi là hồi cố là ‘rêver’ là mơ về (dreaming-day) th́ ‘ức’ không c̣n là kư ức mà ức(dt/n) là ức chế tư tưởng. Vị chi diễn tŕnh của ghi lại không thuận với chủ đề đưa ra hoàn toàn không sát với thực tế, là v́; quá nhiều ‘mắm muối’ mà sanh ra ‘dối’ với câu văn đă viết ra. Sartre cho h́nh thức đó là phi nghĩa, mất thực chất, háo danh hơn chuộng nghĩa (lư) hư hại trí tuệ; nhầm cả người đọc và người viết.

Trở lại Con đường đi tới Tự do / Roads to Freedom là bản anh hùng ca hạng nhất; mặc khác nó là một thứ thuộc hư cấu khai phá những ǵ thuộc hiện tượng học của tự do để cho Sartre có được một phong cách thuộc triết học của Hiện hữu và Hư không / Being and Nothingness -In one sense Road to Freedom is a first-class epic; in other it is a fictional exploration of the phenomenology of freedom given philosophical form in Sartre’s Being and Nothingness. Văn chương của Sartre là lư cái lư bất biến gần như bất khả tri mà thừa nhận vị trí hiện hữu của nó, là mô thức của ư thức –modes of consciousness là dạng thức miêu tả là khởi từ cảm thức là bước đầu của con người của ‘cơi khác / otherness’ có từ mọi thứ: nhân loại hoặc vô loại, vô tri, vô giác cái sự đó Sartre cho là chạm trán / encounters. Từ chỗ đó cho ta thấy khe hở là những ǵ Sartre gọi là ‘Tự do / Freedom’: nguồn cơn phát sinh của đau khổ và cảm thấy như bất công. Hẳn nhiên yêu sách đó là khả năng bẩm sinh của con người để tạo dựng một đời sống tự do và ngoài những ǵ ao ước tự do. Từ lư do đó cho ta t́m thấy tánh-không của Sartre trong diễn tŕnh qua vai tṛ, đặc tính thuộc hư cấu nhưng làm sáng tỏ vấn đề, là để thấy thế nào chúng ta phải ẩn náu, nương thân trong đau khổ nơi chúng ta; thất bại của chúng ta là để thấm nhuần vào thế giới đang nh́n tới. Sự đó là độc hữu chủ thể, bởi; nó ra sức thủ tiêu tự do của chúng ta xuyên vào quán tính thụ động, thờ ơ của một thứ chủ nghĩa giam cầm, đày đọa.

Trong sự quan tâm đó; Sartre đứng dang chân như chia làm hai giữa sự kết hợp chủ nghĩa hiện thực của tiểu thuyết ở tk. mười tám (18) và tk. thứ` mười chín (19) và đưa vào đó một lối viết hiện đại hơn cho tk. hai mươi (20) là hệ thống hóa những kinh nghiệm chưa đạt tới của người đi trước một cách bất ngờ và kinh ngạc. Trong hành tŕnh văn chương của Sartre thường nghĩ đến và rút tiả kinh nghiệm của những văn nhân lừng danh để bổ sung vào tác phẩm, ngay cả triết học đă phải chịu ảnh hưởng từ cổ điển đến đương đại; chính nhờ theo dỏi, học tập mà Sartre có vốn kinh nghiệm về tri thức cũng như nhận biết để hoàn thành một cách khéo léo, ngay cả lư luận cho một lư thuyết thuộc triết học. Chối bỏ những giáo điều lợi hại của phái-hiện-thực mà cho đó là một phản kháng thực sự đă chiếm chỗ trong tinh thần ‘l’esprit’ hoặc đó là dáng dấp một thứ đồi trụy. Bên cạnh đó Sartre bất đồng những tư duy phiến diện mang tính chất truy tố hơn là xây dựng; dù nghịch lư nhưng cần đả thông hơn đả phá mới t́m thấy chân lư sự thật đă đề ra.

Sân khấu kịch là một trung ḥa tự nhiên cho triết gia hiện sinh mà Sartre đă nhấn mạnh rằng con người là b́nh dị, đơn sơ (simply), chẳng có chi là khác lạ hay lạ đời mà là tự nó như đă là –L’homme n’est rien d’autre que ce qu’il se fait. Quả vậy; Sartre tiếp tục viết kịch là phản ảnh cụ thể những ǵ nhân tính con người, rơ nét, phản ảnh ở tự nó như dữ kiện, như vấn đề, nó không c̣n là kẻ khác đời như Rimbaud đă nói mà là con người b́nh thường, và; sau đó Sartre bỏ quên những ǵ có tính chất hư cấu vào năm 1949. Jean-Paul Sartre đă gặt hái thành tựu qua những vở kịch: ‘Những Ruồi /The Flies, Bàn tay bẩn/Dirty Hands, Không lối thoát/No Exist, Qủi ám và Thánh ư/The Devil and the Good Lord và sau cùng là Altoma; tất cả để lại cho chúng ta một ư tứ trong sáng, thế nhưng luôn luôn đem lại cảm thông trong đối thoại của từng nhân vật. Đúng là thiên tài của người biên kịch. Tiểu thuyết hay biên kịch hay viết văn là con người sáng tạo đơn độc –novelist or playwright or writer is sole creator. Ta phải thừa nhận Sartre ở trạng huống đó, mặc dù; trong đời thường của ông cũng lắm chông gai đều đi qua trong vai tṛ của tác giả. Thành ra trong mỗi tác phẩm trong đó có ‘Thế hệ của Xét đoán’ là hiện diện chính ḿnh trong đó hay như một đ̣i hỏi, yêu cầu, xét lại của con người tự do (free-man) thể hiện tính chất của người hùng (hero-man) là hai yếu tố đan kết vào nhau để có ư sâu xa trong tác phẩm. Tự do nơi con người là đương đầu, đối diện cho một chọn lựa riêng ḿnh, chọn lựa giữa nô lệ và chủ nhân (trong Respectable Prostitute) cái sự đó là chú ư tới kỳ thị chủng tộc như đă xẩy ra ở Mỹ; giữa khuất phục và lương tâm. Tác động đó liên can tới những quan điểm khác nhau của người xem. Sartre cho đó là khuôn mẫu vững chắc nhất đưa tới viết hay biên kịch. Thu hút được là nhờ sống trong sự thật; tất cả tư tưởng đó đă làm nên trong tác phẩm của ông.

Giữa chủ đề hành văn theo lối tự thuật trong ‘Thế hệ của Xét đoán’ nơi được dựng nên khung cảnh trong truyện là ngay trong ḷng Paris mùa hè 1938: ‘tỏ rơ một liên can khẩn trương ở Mathieu Delarue là t́m ṭi cho được 4000 Phật lăng để kiếm cho ra người t́nh cũ. Marcelle phá thai an toàn. Mathieu là con người giàu ḷng trắc ẩn chân thật (ngoại trừ điều này có dính tới Marcelle) mà chính hắn đang đối đầu trước một lư do chính đáng với sự chịu đựng đau đớn một cách dễ hiểu và thấy rơ. Nếu hắn gian dối th́ chắc chắn hắn cải thiện hay đền bù vào đó’. Nhưng; tác giả đă dựng nhân vật qua sự chân thật của Mathieu là tự phục vụ cho chính ḿnh, làm tốt cho ḿnh tức làm tốt cho người là điều đáng ngợi ca; sự đó là một sự thay thế giữa tốt và xấu, giữa lương tâm và vô lương tâm cho một chọn lựa. Bên cạnh sự từ khước là nhận lấy một nơi nương thân từ cái chỗ thất bại của hắn mà hắn phải có lương tri trong một thái độ tốt với h́nh hài trung thực. Đó là phân đoạn luận trong cách dàn dựng vừa đối thoại vừa diễn tŕnh dữ kiện của hoàn cảnh hôm nay mà con người đang trực diện. Sartre thực hiện chân lư tánh-không, không vị ngă, mà gieo vào ḷng người một tâm lư vị tha; như đă giải ở phần trên; rốt ráo của Sartre là ẩn tàng trong một tư duy thâm hậu nói lên t́nh người mà thế hệ ngày nay cần phải đem ra xét đoán; nó không c̣n là lư do đơn phương mà lư do phổ quát từ đầu câu chuyện đến cuối câu chuyện; không c̣n thấy đó là hư cấu, hay trừu tượng hay mô thức h́nh dung từ trong chữ nghĩa mà phản ảnh một hiện hữu trong chính nó (Being-in-Itself). Sartre gọi đó là lẫn trốn, che mặt trong hiện hữu của hiện sinh, mà ở đây chúngta dấn thân vào t́nh huống phải đối đầu không c̣n che đậy hay giấu mặt mà thoát để đi tới một đối tượng khác ở cơi ngoài (Being-for-Others). Nghĩa là không c̣n riêng ta. Những ǵ không c̣n là bóng tối đúng ra đầy rẫy cái bóng mờ ám –those without shade are likely to be the shadies. Thực ra; trong truyện Sartre đă bỏ vào đó những tư duy hắc ám, một cái bóng lớn che đậy những hoài băo trong đó: đời sống, hôn nhân, đồng t́nh và nghĩa vụ là một đống hỗn tạp giữa đời đang sống từ t́nh cảm đến vật chất. -‘tôi cảm thấy như một đống bùi nhùi to lớn’. -‘ tôi đang sống bởi những ǵ ủy thác’. Marcelle nói. (P. 159. Chương 10) là những ǵ không c̣n thực ở chính ḿnh mà là mối đe dọa sợ hăi.

Trong Thế hệ của Xét đoán; Jean-Paul Sartre đă đưa vào truyện chứng nhân qua nhân vật. Cuộc đời của Mathieu đưa dẫn những ǵ trong cuộc sống ở đô thị, quán rượu, cà phê, pḥng trà, đờn ca xướng hát ở Montparnasse. Cho dù hắn là giáo sư chuyên ngành, có chức năng, nhiệm vụ của nhà mô phạm nhưng không bao giờ cảm thấy ḿnh là người được tham dự vào trong đời, trong khi hắn theo đuổi như một cuộc hẹn lớn. Tiền bạc được mô tả là đại số học của ngu xuẩn và không phải là t́nh cờ, ngẫu nhiên; cái sự đó Sartre đă đặt vào bối cảnh cho Mathieu trong việc theo đuổi của sở thích mà thực tâm hắn chẳng màng tới, đă phí phạm tới, nhưng; những ǵ xẩy ra hay sắp xẩy ra giờ đây hắn nắm lấy như bí quyết vào đời cho tương lai của hắn, dù rằng đồng tiền vẫn là trọng yếu trong đời (trong Chương 11). Chúng ta phải ghi chú điểm này nơi Mathieu: ‘hắn đă ném 300 Phật lăng cho một chai săm-banh ở hộp đêm’. Sartre đă thú nhận điều đó và đă viết trong nhật kư rằng: ‘đồng tiền chỉ là phương tiện nhỏ đối với tôi’. Sartre viết: ‘I like to see it flow from my finger and vanish…’ rơ ràng đến rồi đi như cuộc t́nh của Mathieu và Marcelle như Sartre và de Beauvoir. Ông viết tiếp: ‘nó phải tan biến vào trong ngọn pháo bông mong manh / it must disappear on insubstantial fireworks’. Đấy là lời bầy thú trước bảng đen, như lời xưng tội của kẻ phạm tội, kể cả phạm tội tư tưởng. Sartre không thừa nhân Simone de Beauvoir là người yêu hay vợ mà là đồng sự bằng hữu (company). Chính bản thân Sartre thích hợp ở chỗ đồng sự về đàn bà hơn những ǵ đàn ông đă có; một sắc diện tự nhiên là người cùng đi bên đời (companion) cho dẫu là cuộc hôn nhân thượng lưu, qúi phái (bourgeois) liệu hôn phối đó có lâu dài hay chỉ là giai đoạn tạm thời. Đó là lư do để xét đoán cái thời đang ưỡn ḿnh trước một kỷ nguyên mới; là những ǵ xẩy ra trong đời Sartre là xẩy ra trong truyện. Mathieu chính là Sartre và Marcelle chính là Simone de Beauvoir. Trong truyện hay trong đời thường, ta t́m thấy được nhân tính cách riêng của Sartre; đấy là sắc tố cơ bản để đưa vào lư luận cho một học thuyết vốn đă tiềm tàng trong trí tuệ cố hữu.

Vậy th́; trong tiểu thuyết của Sartre hay trong kịch thường thấy nhân vật nữ thấp thoáng trong đối thoại hay lước qua trong phút chốc là gợi lên một ư nghĩa hướng tới sự tê buốt thể xác (coldly sensual), có tính chất tinh thông và năng nổ; nghĩa là họ kẹp những ‘thằng đàn ông’ trong cái thế ‘chọc gan’ vừa khinh miệt, vừa cao ngảnh, vừa chối từ -muốn có nhiên liệu tự do thời chỉ có cách dập tắt nó đi / desire fuels freedom only to extinguish it- như có ư ngăn ngừa những hiểm họa bất ngờ xẩy đến giữa đàn ông và đàn bà; đàn ông thể hiện sự đói khát, đ̣i hỏi, đàn bà là cám dỗ, là thứ vũ khí đe dọa. Cả hai trong dạng thách đố để chiếm cứ đó là hoài băo, là ao ước, ngay cả cảnh đồng t́nh luyến ái của Mathieu với Daniel là tạo vào đó một sự chú giải ư thức hiện tượng học của tác giả; đấy là sự bất biến trốn tránh trách nhiệm, bổn phận, chức năng của quan hệ lẫn nhau, bởi; nó đă ‘vượt rào’ vào trong sự thụ động chấp nhận ở trong-tự-nó /In-itself / En-soi. Lư sự này không chừng đưa vào đó một tư duy mâu thuẩn giữa khi đọc, bởi; tác giả đă dụng tâm qua vai tṛ nhân vật là người đại diện chính ḿnh, gần như là thảm trạng, đúng ra là bi thảm (tragedy), một sự đói ḷng cho giải thoát: ‘Hắn ước là hắn đă chết, và; hắn tồn lưu (hiện diện giữa đời), hắn duy tŕ một cách dai dẳng cái chủ thể ở chính hắn’ / “He wishes he were dead, and; he exists, he obstinately maintains his own existence” (p.257). Cái sự đó là khai mở vấn đề được hay không th́ đó là t́nh cảnh khó khăn của từng đặc tính và coi đây là là sự ghét lấy (self-loathing), là cái quan sát ở Sartre như vốn có trong đồng t́nh luyến ái (homosexuality) hoặc đúng ra th́ đây là chứng cớ những ǵ xẩy ra ngoài ư muốn trong lúc chúng ta chối từ để chấp nhận ở chính chúng ta, cho dù đó là sự cố xẩy ra (Có thể trước đây JPSartre đă chú ư tới đồng t́nh ái) như thể là tự buộc phải (self-imposed), như chọn lựa, hơn thế nữa có một vài điều thuộc về sinh vật học đă có trong ‘gene’. Thành ra mỗi tác phẩm tuồng như tác giả lồng tâm lư ḿnh qua nhân vật, trạng huống đó là thực thể của những văn thi sĩ họ gởi gắm toàn thân ḿnh vào trong đó; dù là ẩn tàng hay nhân cách hóa, dẫu sao đó cũng là hồn xác tinh anh như đă mô tả. Sự đó gọi là tâm lư nội tại. Một thể hiện trọn vẹn từ đầu tới đuôi qua nhân vật, mà mỗi nhân vật là cái thời của lư do, của đ̣i hỏi và xét đoán. Jean-Paul Sartre đă đại diện con người của thời đại qua mọi thế hệ, qua mọi thời kỳ; nó vẫn là trạng huống triền miên, dai dẳng trong tâm tư của mỗi con người đang trực diện giữa đời đang sống. Dẫu có núp bóng hay lộ liễu th́ đó là một sự thật đă chứng minh trong ‘en-soi’ là có thực.

Tác phẩm ‘ The Age of Reason / Thế hệ của Xét đoán’ là một tiểu thuyết b́nh thường không có lư tính hay luận đề nhưng tác giả để lại lư luận cuộc đời ở chính chúng ta. Ngay cả sống hay chết, t́nh yêu hay tiền bạc, loạn dâm hay đồng tình là những ǵ vốn có trong mỗi chúng ta. Thâm hậu của tác giả là nói lên những ǵ có thật, hiện tượng của đời thường mà trong đời nh́n những hành tung đó là tội phạm tư tưởng, bởi qua kinh nghiệm của tác giả đă là nạn nhân của hiện tượng đó. Tất cả tâm lư đó Sartre đă khai mở trong nhân vật Mathieu và Marcelle là chứng cứ hiển nhiên như một ăn năn về sau này. Thời đó những hoạt động của Sartre gần như người mang chứng tâm thần. Giữa con người với con người, giữa con người và xă hội, giữa sự nghiệp văn chương và chính trị; tất cả t́nh huống đó Sartre phải đối như một thách đố để đấu tranh, giành cái quyền nhân bản của con người, trước hiểm họa chiến tranh và hâu chiến của thế chiến II và sau 1945 Sartre đă có khuynh hướng ngă theo Cọng sản rồi lại khai trừ để đi tới con đường tự do như hoài băo; đấy là nguyện vọng cuối đời của Jean-Paul Sartre trước khi nằm xuống vào năm 1980…

Đ̣i hỏi của tác giả là phơi mở sự thật để có một xét đoán trung thực; bất luận tầng lớp nào trong xã hội ngay cả nếp sống thượng lưu (bourgeois life-style) là một thúc đẩy để đối đầu như một trách nhiệm phải hoàn thành của ‘thế hệ xét đoán’; nghĩa là chúng ta không thể dối ḷng trước hoàn cảnh hay tâm tư mà xác nhận sự thật vốn có; không lư ǵ chúng ta phải núp bóng sau lưng của lương tâm. Nó đ̣i hỏi nơi chúng ta một xét đoán trung thực từ bản chất của mỗi con người: không mị dân, không ngụy quân tử mà thực tâm để hoàn thành sứ mệnh làm người. Tác phẩm ‘L’Âge de raison / Thời đại của Xét đoán’ không c̣n là tân truyện mà là luận cứ vấn đề giữa t́nh yêu và con người; là khiá cạnh đặc thù mà tác giả muốn nói tới ./.

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 7/2018)
 


SÁCH ĐỌC: The Age of Reason by Jean-Paul Sartre. Bản Anh ngữ của David Caute. Penguin Books. Canada. Toronto .Ontario 2001.

ĐỌC THÊM: Những bản văn về Jean-Paul Sartre của vơcôngliêm hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo điạ chỉ đă ghi.

 

trang vơ công liêm

art2all.net