|
vơ công liêm
CAO BÁ QUÁT
Từ đó Cao tiên sinh trở nên hiện tượng, một hiện tượng siêu lư mà ít ai có giữa cơi đời này. Trong từng tiếng nói hay trong từng lời thơ phản phất một chất liệu phản kháng; giữa hai bề mặt xă hội và con người:
Trời nắng chang chang người trói người Nước trong veo vẻo cá đớp cá.
Đấy là tâm thức ‘hoài vọng của tồn lưu’ –la espoir de l’être.
Cái đó đă làm cho người ta trở nên khinh khi để c̣n lại hoài vọng của mơ-về, của
cuộc đời là lẽ sống, nói lên biểu hiện tự do v́ chứng cớ ‘trói người’ và ‘đớp’
là hai động từ bi đát của ‘tragedy’ là thảm kịch, bởi ư nghĩa chung hay riêng
của cuộc đời đều nằm trong tư thế của ‘hư-vô’ cho mỗi cá thể. Với chừng đó câu
thơ 7 chữ thi nhân đă nói lên trọn gói của bi thảm ; đời là chấp nhận sinh tử,
dù là thương đau, dù là thất bại nhưng để lại tiếng đời. K. Jasper có lần nói :
‘Thất bại chỉ có với tồn lưu / Il n’y a d’échec que pour l’existence’.
Lời thơ của Cao Bá Quát không c̣n tính cách châm biếm, ngạo
đời hay mai mỉa mà chứa đựng một phản kháng nội tại : vô cùng, mănh liệt, bi
thương. Bởi ; phản kháng của Chu tiên sinh có nghĩa là không chấp nhận cái thứ
quyền lực phi lư, kết án không bản án, cáo trạng của vô tội giữa một t́nh huống
ngổn ngang, g̣ đống. Tinh thần phản kháng đă biến ḿnh qua gào thét, đơn điệu,
ngạo mạn ung dung, mỉm cười trong đau xót của thế thái nhân t́nh mà mấy ai hiểu
ḷng dạ của thi nhân. Không chừng nh́n Cao Chu Thần là kẻ cuồng si thời đại,
chưởi đời qua ngạo nghễ tư duy ! A. Camus cũng có lần thốt lên như vậy :’Tôi
thốt lên rằng mọi thứ là vô lư nhưng tôi không thể nào nghi ngại lời than, lời
thét(ngạo) của ḿnh mà ít ra tôi phải tin vào sự quyết của tôi / Je crier que je
ne crois à rien et que tout est absurde, mais je ne puis douter de mon cri et il
me faut au moins croire ma protestation’. Vậy th́ tinh thần phản kháng của Cao
tiên sinh là t́m thấy ở chính ḿnh với những lư do đưa ra như tự ḿnh kiểm xét
tự ḿnh để mở một lối thoát ; cái dồn ép nội tại nầy là lư do đẩy Cao Bá Quát
theo phong trào cựu Lê để dấy binh ở Mỹ Lương (1854). Có phải đó là con đường
‘la nostalgie de l’être’ một hiện hữu của t́nh quê ? một phản kháng cuối đường
được t́m thấy qua những ǵ kêu ngạo đời v́ đời nuôi dưỡng bất công, hủ hóa ngay
cả triều thần đang rơi vào cơi u minh (luật trường thi). Cái phản kháng nói
không mà có, nói có mà không ; một lối chơi chữ tài t́nh của con người vốn hay
chữ như Mẫn Hiên Cao Chu Thần. Hiếm có người làm thơ theo dạng đó. Từ thất bại nầy đến thất bại khác Cao tiên sinh rơi vào vực thẳm, nỗi thống khổ chồng chất khi nhận tước vị Quốc sư cho ḍng hậu Lê mà không đạt được mộng ‘xây thành’, ngọn cờ không thuận gió như mộng ban sơ :
‘ B́nh dương, Bồ bản vô Nghiêu Thuấn Mục dă Minh điền hữu Vũ Thang’ (B́nh dương, Bồ bản không có vua Nghiêu Thuấn th́ Mục dă Minh điền phải có Vũ Thang nổi dậy).
Ngần ấy thôi cũng là tội mất đầu đối với triều Nguyễn, c̣n
biết bao nghịch phản lệnh triều đ́nh, bao lần sửa bài, phạm húy luật trường thi.
Cao Bá Quát đang đối diện với thực trạng, đối diện một xă hội thoái trào, thủ
cựu, bao che, đ́ ải của quyền lực : một cho quyền lực thiết lập trên nghi thức
của ḍng tộc, hai cho quyền lực thu đoạt, khống chế. Đó là nguyên cớ phát động
bùng dậy để trừ gian diệt bạo của phường nhà ma, ngạ qủi. Quyền lực của đám ruồi
muỗi nhỏ nhen khơi nguồn như một quyền lực vô biên. Cao Chu Thần không nghi ngờ
điều nầy, và ; cũng chẳng ai nghi ngờ sự thế, cho dù một giây phút nào đó, cái
đặc ân ghê gớm đó đều đem lại bè phái tức khắc và rồi chúng ta trở nên nạn nhân
của thoái trào –this powerfull little group of innitiates knows that it has all
the rights. Anyone who doubts, even for a second, these formidable privileges is
immediately driven from the flock, and once mere becomes a victims (The Rebel.
A. Camus). Nhưng Cao tiên sinh phá chấp để đạt tới một tinh thần cách mệnh chủ
nghĩa. Nh́n xa hơn ta thấy được cái tâm như của Mẫn Hiên là tâm b́nh đẳng; một
hoài vọng của kẻ sĩ đứng trước thảm cảnh, muốn biến mộng thành thực, đó là hướng
vọng cuộc đời, là lẽ sống là hướng trực là ư nghĩa làm nền cho mọi hoạt động của
ḿnh, sửa bài là một thái độ phá chấp để nuôi dưỡng hoài băo, mưu cầu trọng dụng
nhân tài, chớ phải mục đích mua quan bán tước mà đó là tinh thần của người thức
giả, một yêu cầu tự thân của hiện thể.
Với 46 năm cuộc đời là đón nhận thảm cảnh bi thương, khi
thăng khi trầm, khi đày, khi dương hành hiệu lực, khi sơn lâm cùng cốc hay đến
miền cao heo hút. 1840 (32 tuổi) đánh dấu một đời tham quan trước cửa Khổng sân
Tŕnh để rồi nhận lănh chức Hành Tẩu Bộ Lễ ở Sơn Tây. Cao Chu Thần b́nh tâm
trước vận nước đảo điên, xót thương t́nh người, t́nh bầu bạn, t́nh yêu vợ con,
t́nh trăng trong núi biếc với chén thù chén tạc. Lời thơ như tự thán, như trách
phận ḿnh làm mà không thành để vạ lây: ‘Cầu điều nhân chưa đạt thành gây họa
Cùng bệnh thương nhau mà lụy đến người’. Ba năm ngồi tù v́ tội ngạo, tội nghịch nhưng khí tiết ‘nhà nho’ không v́ thế mà khiếm nhược, vẫn ngạo nghễ để chưởi vào mặt đám quan liêu, xua nịnh, hoạt đầu để nhũng lạm, bênh vực kẻ yếm thế và t́nh người cao cả; đọc bài ‘Tài tử đa cùng phú’ tưởng là lời lẽ bông đùa nhưng trong đó chứa một nội thức phản kháng. Một thứ phản kháng siêu h́nh là cơn dấy động của con người, đứng lên để đối đầu với thân phận. Tại sao cho Cao Bá Quát là phản kháng siêu h́nh? – trong con người nô lệ có cái sự đặt định buộc phải, giá trị con người ngang hàng con vật; cho nên dấy động là đi từ kẻ nô lệ và kẻ phản kháng trở thành đồng tính. Nguyễn văn Siêu và Cao Bá Quát là bạn tâm giao (dù mức độ và tuổi tác cách biệt) nhưng đồng cảm; cả hai đă chối bỏ, chối bỏ thân phận bị vùi dập –pour l’un et l’autre, il ne s’agit pas seulement d’une negation pure et simple. V́ vậy Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu phản kháng để thấy họ hiện hữu, tư duy nầy gần với Descartes, đó là lối suy tư phản kháng ‘cogito’ của hai vị thức giả nhà nho ở vào thời đó.
Trái chân kỳ kư cho vào rọ Rút ruột tang bồng trả nợ cơm
Kỳ kư là bậc tài hoa mà không biết dụng vơ, lăng quên như đồ bỏ. Chí tang bồng hồ thỉ th́ lại dùng vào chuyện áo cơm. Cao Chu Thần manh nha từ đó để ngạo mạn. Cái đối đăi ơn sủng, mưa móc của nhà vua là nặng nhẹ trong h́nh phạt. Cao Chu Thần hiểu rơ điều đó hơn ai. Thiệu Trị,Tự Đức sủng ái, bổ nhiệm, khoan hồng, ân huệ v́; Cao Bá Quát có tài về văn, chữ lại giỏi, thông tuệ chính trị; như đă một lần quân sư th́ đó không phải người thường. Song le; chất ngạo ở con người Cao là một khinh mạn có lư, có t́nh, một cung cách phản kháng thâm hậu mỗi khi đáp lễ vua quan; tàng ẩn một sự so sánh giữa vua tôi:
‘Thiên tải nhất ngộ, hữu thị quân hữu thị thần’ (Ngh́n năm gặp được một lần, có vua đó có tôi đây)
Cái lối cưỡng kháng mà vua quan đành ḷng thừa nhận bản chất cố hữu của con người ngạo mạn, một biểu thị ngang ngửa, khát vọng là đ̣i hỏi chung. Suy ra lời lẽ đối thoại không phải là lời nói tao nhă của kẻ sĩ mà đó là ư chí quyết thắng, đánh đổ để dồn đối tượng vào ngơ cụt mới thấy được người được ta. Thế mạnh của Cao Bá Quát là ở chỗ ‘văn chương nết đất thông minh tính trời’(ND) điều đó hẳn nhiên đă rơ. Cho nên đứng trước vua quan Mẫn Hiên không nh́n là đối tượng tôn kính mà bằng một bản thể tự tại mới xuất thần thành thơ, một lối thơ ‘mới’ đối đáp có văn tự. Qua tư duy triết học giữa vua tôi là hiện thể của hai là một ‘un être-à-deux’ th́ không c̣n phẩm trật hay đẳng cấp mà cả hai cùng chung một tế bào nhạy cảm, vướng vít vào nhau đưa đến một đối thoại rộng răi; như gặp nhau, như đang sống cùng một tương thức lồ lộ –révélation de ‘toi’ pour ‘moi’ như Merleau- Ponty đă nói. Trở lại bài thơ đọc trước vua quan của Cao tiên sinh như sau:
‘Bảo mă tây phương huếch hoắc lai Huênh hoang nhân tự thác đề hồi Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ Dă ngoại đào hoa lấm tấm khai Xuân nhật bất văn sương lộp bộp Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài Khù khờ thi tứ đa nhân thức Khệnh khạng tương lai vấn tú tài’.
(Ngựa qúy từ phương tây huếch-hoắc lại Người huênh-hoang nhờ cậy d́u về Trong vườn chim oanh khề-khà hót Ngoài đồng hoa đà lấm-tấm nở Ngày xuân chẳng nghe tiếng sương lộp-bộp Trời thu chỉ thấy mưa bài-nhài Thi tứ khù-khờ mà nhiều người biết Khệnh-khạng mang đến hỏi ông tú tài.)
Những chữ, những câu có tính súc tích hàm chứa nghe như biền ngẫu nhưng đầy phong thái chân như của người thơ yêu nước. Ngẫm mới thấy cái tài dụng văn, cái nghịch lư của thơ là đưa Nôm vào Hán của Cao tiên sinh, diễn tả trọn vẹn cơi thời gian là yếu tố, cơ sở, sinh, diệt và chính con người dự cuộc với trần gian như giấc mơ, nhưng nh́n lại th́ một thoắt. Vua Tự Đức người uyên bác ít nhiều hiểu được: thời gian là cuộc đời. Cao Bá Quát hiểu được: thời gian là qui tŕnh; v́ thế thời gian in dấu trong thơ, bởi; cuộc đời trôi chảy không thể vượt được thời gian, cho nên chi vạn vật song hành với thời gian để rồi đưa tới biến dịch, đổi thay và dần dà đi vào hư vô dưới ánh mặt trời:
‘Dưới thiều-quang thấp thoáng bóng Nam-San Ngoảnh mặt lại cửu-hoàn coi cũng nhỏ’ (Uống Rượu Tiêu Sầu.CBQ)
Thời kỳ đi làm giáo thụ Quốc Oai, Sơn Tây. Ông tự thấy ḿnh thừa giữa cuộc đời, một lưu đày tại thế. Biến Cao Chu Thần ở trạng thái lỡ thời. Cao Bá Quát tuyệt vọng, con đường hoạn lộ coi như vùi dập ; cái lối ‘đăi ngộ’ của đám vua quan là trị tội; v́ cho rằng Cao Chu Thần vạch mặt chỉ tên những kẻ ph́ gia, hả hê trong đau khổ. Đau đớn thay phận làm người. Ông từ quan cáo bệnh để xa cái cảnh trói người, đày người rồi buộc tội :
Nhà nát ba gian, một thầy một cô một chó cái Học tṛ dăm đứa, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi
Cái đau nhói của thi nhân là bị ‘nhốt’ và đă ở hoàn cảnh đó th́ thực trạng con người trước nhất có lẽ là thời gian, v́ ; thời gian là bao hàm quản thúc sự sống ; nỗi tuyệt vọng đó đă giết chết nguồn thơ biếm đời ngay cả nguồn thơ tức cảnh để sinh t́nh của Cao thi nhân. Hiện tượng đó nói lên cái siêu lư của Cao Chu Thần ; đó là cảnh u hoài, bi đát đưa đến một nội quan phản kháng. Do đó cái ngạo của Cao Bá Quát không c̣n tính cách biếm đời mà ngạo để lật đổ tàn tích cố cựu, để làm mới xă hội : mục nát giữa người và ngợm !
Chưa thỏa mộng lại triệu về cung làm những điều không phải mộng mà đứng lại để nhận cái bi thương xă hội ; bởi những kư sinh trùng thời đại biến minh quân trở nên u quân. V́ thế đời ra sức dźm kẻ có tài đó là luật thường t́nh. Cao tiên sinh học giỏi lại hay chữ, cốt cách uyên thâm của gịng dơi để lại, một trí tuệ vượt bực khi ở tuổi thiếu thời th́ đủ thấy được cái chất hào khí ngang tàng, ngỗ nghịch của một con người thấy được cuộc đời giữa hư và thực, giữa mộng và ảo th́ làm sao kẻ sĩ nguôi ngoai với t́nh huống. Ngạo mạn là lư do uẩn khúc trước thời cuộc. Chí th́ lớn mà đôi tay th́ yếu… Cũng nhờ về đất Thuận Hóa làm kinh sử bên cạnh vua mới thấy được mộng là mộng, chân là thực :
‘Đem mộng sự đọ với chân thân th́ cũng hệt’
Vị chi trạng thái tâm thần của Cao Bá Quát trở nên bị động trước hoàn cảnh đến bây giờ ngoảnh đầu th́ xa vời với thực tại. Phải hiểu hoàn cảnh ở đây cho Cao tiên sinh ; dù đối đầu qua nhiều trạng huống khác nhau nhưng hoài vọng nhà Chu vẫn một mực dấy động, làm bầy tôi nhà Nguyễn, hào khí bất khuất đó không thể dập tắc được. Dù rằng ; về mặt tinh thần lễ giáo, đạo đức, gia phong có kiềm tỏa, quân với tôi là nghĩa cử nhưng yếu tố đó khiến cho con người ray rứt trước hoàn cảnh, trước bản chất, trước thời gian tất đưa tới khổ lụy. Đó là sự cớ đẩy Cao Bá Quát vào một tư duy phóng ngoại như để xoa dịu nỗi đau trước hoàn cảnh xă hội, trước hoàn cảnh cố hữu của thần và quân như trói buộc. T́nh thế đó ; dẫu là ǵ con người một đôi khi phải trở-về cho chính ḿnh, một cái ǵ xao xuyến tương thức giữa đời và người, một nhân sinh quan tương hợp hóa ‘rationlisation’. Nói một cách lư thuyết th́ đó là hiện hữu cho ḿnh –être-pour-soi mà vẫn chứa một cơ cấu hiện hữu cho người khác –être-pour-autrui. Th́ đó là một liên tŕnh của Cao Bá Quát :
‘Thế sự thăng trầm quân mạc vấn Yên ba thâm xứ hữu ngư châu’ (Việc đời thăng trầm chất vấn làm chi Trong khói sóng mịt mờ có chiếc thuyền câu)
Phải biết rằng ; Cao Bá Quát là đấng tài hoa quán thế, tài không dụng, chí không phát mà gặp phận số long đong. Sinh ḷng mà lui về một góc trời riêng, mượn chén men say :
‘Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười Thôi công đâu mà chuốc lấy sự đời Tiêu khiển một vài chung lếu láo’ (Uống Rượu Tiêu Sầu. CBQ)
Gia nhập vào Mạc Vân Thi Xă là duyên trùng phùng với cái
nghiệp thi ca. Ở đây Cao tiên sinh thả thơ, b́nh thơ với những tay thi bá tiếng
tăm cố đô văn vật, một tao ngộ kỳ phùng bởi chỉ có ngôn ngữ thơ mới nói lên sách
lược của ḿnh. Cao thủ như Mẫn Hiên mới thách đố được những bậc công hầu khanh
tướng như thủ lănh thi đàn Miên Thẩm. Càng thâm sâu càng thấy cái dở, càng đào sâu mới thấy đất nhiều hơn vàng hơn bạc. Ngao ngán phải thốt nên lời miệt thị, khinh khi đám sĩ tử. Mặc dù Tự Đức đăi cho mấy chữ ngợi ca :
‘Văn như Siêu Quát vô tiền Hán Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường’
Nhưng Cao Chu Thần không lấy đó làm tự măn. Bởi Cao là một nhà thơ. Một nhà thơ chân chính và biệt tài. Th́ dẫu có sánh hơn cả Hán hay Đường chỉ là lời ngợi ca khí tiết, trấn an một nội tại phản kháng. Phản kháng ngay trong ḷng địch :
‘Ngán thay cái mũi vô duyên Câu thơ thi xă con thuyền Nghệ An’
Có cần lư giải cái thảm cảnh sầu bi này không ? Giải làm chi một vùng đất mắm tôm dưa muối suốt đời th́ hay ho ǵ mà phân bua bày biện. Thói đời là thế. Cứ thấy ḿnh là hay !
Trong buổi tiệc rượu của đám văn nhân Mạc Vân Thi Xă ; đó là lần cuối Cao Bá Quát lên đường ra Bắc. Trước khi đi có trao bài thơ xuân cho bạn chí thân Nguyễn Văn Siêu :
‘Khách nay chẳng thấy xuân xưa nữa Thổn thức xuân nay gặp khách xưa Nay hóa thành xưa nào mấy chốc Hư nh́n ra thực khỏi lầm chưa ? Bao phường danh lợi cơn mưa sáng Mấy bậc anh hùng đám bụi mờ Tục lụy cười ḿnh chưa dứt được Gần đây sách vở quá say sưa’ (Xuân Dạ Độc Thư / Đêm Xuân Đọc Sách. CBQ/ Nguyễn Văn Tú dịch nôm)
Đấy là bài thơ tả cảnh xuân. Miên Thẩm cho đây là tặng phẩm mùa xuân của Cao Chu Thần, xuống lịnh mở yến tiệc, tiễn đưa hiền hữu và cho lấy đàn Nam-Cầm dạo khúc tiêu tương. Dạo lên nghe như muôn sắc ngàn tiá của mùa xuân tươi sáng ; nhưng chính ở ḷng Mẫn Hiên là ước đời đổi thay sau những cơn mưa gió băo bùng.Ư thơ là vậy !
Tháng chạp năm 1854 Cao Bá Quát(*) bị bắt. Tự Đức ra lệnh chém đầu và tru di tam tộc. Người anh Cao Bá Đạt tự tử trên đường giải về Kinh. Cao Bá Nhạ con Đạt phanh phui nơi ẩn trốn bị bắt và đày lên sơn cước. Sau chết ở đó.
Thời gian Cao Bá Quát ở ngục thất chờ hành quyết có làm thơ và đối mang khẩu khí ngạo mạn của một tử tù nhưng lại là vua, được truyền tụng :
‘Một chiếc cùm lim chân có ĐẾ Ba ṿng xích sắt đứng (bước) th́ VƯƠNG’
Nghe đồn rằng khi thi sĩ Cao Chu Thần bước lên đoạn đầu đài, áo vải thô, cổ bị gông, trói tay ; dơng dạc, ung dung gục đầu cho người ta chém, miệng lẩm bẩm chưởi đời đôi câu như sau :
‘Ba hồi trống giục mồ cha kiếp Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời’
Đó là thời gian ngoại tại và chuyển vần. Cao Bá Quát chết để
thỏa ḷng vị kỷ của đám vua quan. Chết ở đâu cũng là cái chết qua thời gian. Thế
nhưng con người cứ tưởng khổ đau và những ǵ bi thảm có thể hết nhưng quên rằng
thời gian là chứng tích, lịch sử là văn bản, con người là hiện thể, ba thứ nêu
trên là sắc lệnh để đời. Nhưng ; chắc chắn điều nầy không thể vượt qua được. Tại
sao ? V́ ; sống có nghĩa là xoay vần, chuyển dịch có nghĩa là nghiệp chướng (theo
nhà Phật) biến thiên của vũ trụ mà thời gian là cái ǵ vây quanh đời người
‘thương hải biến vi tang điền, tan điền biến vi thương hải’. Mẫn Hiên Cao Bá
Quát chết theo thời gian . Thời gian của Người đứng lại nơi đây. Bởi ; thời gian
chuyển vần v́ thời gian là yếu tố sống c̣n và miên viễn như bao số phận khác…
Quan Án sát Nguyễn Văn Siêu những ngày sau đó không ngủ được,
nằm nghe đêm âm thầm trôi với hồi trống canh năm ở cổng thành xa đưa tới. Nguyễn
tiên sinh rùng ḿnh, khơi ngọn đèn dầu lạc trong sương sớm, động ḷng trắc ẩn
làm một bài thơ nhớ bạn tài hoa dũng khí ./.
VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab. cuối 6/2013) -------------
SÁCH ĐỌC : Thơ Văn Cao Bá Quát. NXB
Văn Học Hà Nội. 1984. Có thể do ḷng hận thù v́ lời ngạo mạn điểm mặt chỉ tên ;để bịt miệng dư luận. Phản trắc chống triều đ́nh vua Tự Đức hạ lệnh xử trảm và tru di tam tộc. Hoặc chết sau khi dấy động khởi nghĩa ở Mỹ Lương. Chặt đầu, bêu rêu sau đó bằm nát quẳng xuống sông về tội chống vua.(Rút từ Đại Nam Liệt truyện mục Nghịch thần).
|