vơ công liêm

 

CHỦ NGHĨA VỊ THA


         Được coi là thứ chủ nghĩa tự nhiên so với những thứ chủ nghĩa khác. Ngay trong thời đại chúng ta đang sống là đối diện với bao thử thách, là một trong những vấn đề chính yếu hệ lụy vào; nói chung là đ̣i hỏi, yêu cầu về đời sống và t́m kiếm một thứ hạnh phúc thỏa đáng; sự đó là khiá cạnh thuộc môi trường an sinh là những ǵ thường bao bọc, vây quanh trong ta và tất cả những ǵ buộc phải là hoạt cảnh cuộc đời; đó là thử thách của ngày nay –The challenges of today. Và; trong tất cả những nhu cầu khác là thứ mà con người cảm thụ vào –And; those of all man is a sentient being. Bởi; như thế này: nó cũng là thước đo phù hợp vào những nhu cầu của sản phẩm là hiện ra một cách tức thời cho niềm vui hay u sầu, hạnh phúc hay đau khổ, cảm thức đó là sắc tố của hiện hữu và những quan hệ khác quanh ta hoặc người khác. Dâng hiến hay chối từ là ngoài ṿng cương tỏa của trí tuệ mà chỉ có cách khác là trong trí ta chuyển nhượng những tương quan đó với điều kiện đưa tới hạnh phúc hay đau khổ mà thôi.

Chủ nghĩa vị tha là ǵ? -What is Altruism?- Nói đến vị tha cho chúng ta một vài xác định cụ thể: là một động cơ thúc đẩy / a motivation, là trạng huống xẩy ra trong chốc lát nhưng tức thời cho một quyết định củng cố của trí tuệ, sự đó chính là cứu cánh ở một tâm thức trong sáng khi nh́n tới cái tốt đẹp của người khác hoặc phải là / have to, hoặc tâm tính / disposition là để ư tới sự chăm sóc cho người khác hoặc trong cách thức của tấm ḷng từ tâm (?). Nếu muốn bày tỏ ḷng vị tha chính đáng cho một hiện hữu giữa con người và xă hội thời sự đó là điều cần thiết đem lại một chức năng trong sáng (enlightenment) cho thân thế của ḿnh và đúng nghĩa của thời đại văn minh mà con người đang có mặt giữa cuộc đời này…

Từ ‘vị tha / altruism’ gốc của Latin là alter ‘other / khác hơn’ được dùng lần đầu tiên vào thế kỷ thứ mười chín bởi triết gia Auguste Comte (1798-1857)), cha đẻ của khoa xă hội học và sáng lập chủ thuyết ‘định vị’ (thuộc triết học thừa nhận như một sự kiện hạn hữu qua kinh nghiệm sống /positivism). Vị tha theo Comte ám chỉ vào cái điều cần loại bỏ từ những ǵ ham muốn ích kỹ (selfishness) và chú tâm vào vị kỷ (egocetricism), loại được thời đưa tới tốt đẹp như một hiến dâng trọn vẹn cho con người. Bên cạnh đó một số tư tưởng gia đă xác định: -vị tha c̣n có nghĩa là thương yêu / love th́ là th́ không có vị kỷ, là niềm vui sướng trong một hiện thể tốt đẹp của người khác và là lời hứa hẹn trong hành động; để tâm và phục vụ như một đặc ân, thời tất sự đó không có điều kiện cách mà phát sanh từ thiện tâm và chính t́nh yêu đó có tính chất nhân ái. Ḷng bác ái về t́nh yêu chính là ḷng vị tha mà con người cần có, là xoa dịu nỗi đau của người khác, là đem lại hạnh phúc, là cứu con người ra khỏi những bức xúc, ra khỏi những đau khổ của vật chất hay do đời sống đă tạo nên; chính những dữ kiện đó là nỗi khổ hạnh trong Phật giáo, nếu có chăng cũng là cái nghiệp (karma) là dàn trải của tất cả những ǵ cảm thụ hiện hữu nơi con người và nơi không-con-người –extend to all sentient beings, human and non-human. Vậy th́; well-being là cảm thức tốt đẹp, đem đến hạnh phúc một cách thăng hoa cho những đối tượng cần có; đồng thời góp phần phúc lợi cho xă hội. Đă gọi là vị tha th́ trong vị tha không mong đợi sự trả ơn hay được trả lại; bởi hành động của vị tha bắt nguồn ở thiện tâm thời không nhận một sự hài ḥa mà nhận niền hạnh phúc từ người khác; hạnh phúc đến với người khác tức hạnh phúc đến với chính ḿnh.

Hành động đơn phương không định nghĩa vị tha –Action alone does not define altruism. Hành động vị tha là hành động có mục đích đúng đắn, là mang lại hạnh phúc cho kẻ khác là tinh thần mă thượng của người quân tử nh́n xa hiểu rộng. Thành ra vị tha, vị kỷ là hai đường song song không bao giờ gặp nhau. Mà gặp nhau trong một lư lẽ đơn phương của chủ quan chủ nghĩa. Chủ quan chủ nghĩa thường là vấn đề cục bộ, cứng ngắc không c̣n linh động mà đặt vào đó trường hợp câu thúc chưa hẳn là lư lẽ vững chắc mà có thể là chấp thức, tức là nói đến ta (trong mạt-na-thức của Phât giáo) để tiêu diệt lẫn nhau. Vị tha là con đường giải thoát, một thiện tâm để đạt tới mục đích. Vị tha là trực diện với cuộc đời để hóa giải những uẩn khúc vốn tồn tại bấy lâu nay, là người được mệnh danh với ḷng từ dũ; đó là ngữ ngôn của vị tha. Vị kỷ là ‘hậu trường sân khấu’ đón nhận cái đau khổ tự tại, nó ẩn tàng trong một ư thức phản kháng không lối thoát (no exit) biến ḿnh như kẻ ‘nằm vùng’ để hoạt động những ǵ mà con người đang mưu cầu đến nó. Vị kỷ đưa tới thất bại hơn thành công, bởi người mắc bệnh vị kỷ thường đeo đuổi mộng ảo.

Thực ra mỗi khi hiện ra tấm ḷng ‘đại từ, đại bi, đại hạnh’ là ở đó không thể ao ước / undesirable và không c̣n ǵ phải lo lắng / unforeseen, kết quả đó không c̣n đặt trong vấn đề vị ngă tự nhiên mà là một thứ vị tha tự nhiên trong sạch cho một tác động tốt đẹp đến với tha nhân. Sự đó không c̣n trở ngại cho hành động mà vượt ra ngoài của sự kiểm soát nơi con người, nó không giảm ‘tốc độ’ ḷng vị tha tự nhiên do từ sự thúc đẩy nơi con người. Người có ḷng vị tha tất không đọng lại cái ǵ riêng ḿnh (egocentric).Cái ǵ gọi là thúc đẩy cái đó là chất màu (hue) huy hoàng lộng lẫy trong hành động nơi ta –It is motivation that colors our actions. Một trong hai điều đó, một bên có tấm ḷng từ thiện và một bên chứa chất xấu xa hoặc trung ḥa. Người ta không thể phân biệt đối đăi vị tha là có từ hành xử của vị kỷ. Điều đó chúng ta không thể đặc nó vào hành động ngay cả vị tha và vị kỷ là cơ bản để theo dơi và t́m thấy mới đánh giá sự thật.Thí dụ: nhà sư tỏ thiện tâm với tín hữu thời lấy ǵ để chứng minh sư có ḷng vị tha, bởi; dưới chiếc áo cà sa, chưa phải là sắc tố của hành động (color of action) có chăng chỉ là giáo điều th́ chưa phải là hành động cho vị tha; cho nên chi muốn thành Phật là phải cởi bỏ để trở về với hư không là thứ vị tha tự nhiên (the nature of altruism): không vướng, không đục là bản chất vốn tự tại của ḷng vị tha. Bởi; cụ thể của vị tha là không yêu cầu người ta phải hy sinh: nó có thể dủ mang lại lợi ích cho người ta, cung cấp cái đó là những ǵ có tính toán, việc này không làm nên mục đích tối hậu nơi cách hành xử của chúng ta. Nhưng; nhớ cho cái sự đó chỉ là kết quả thứ yếu về nó mà thôi –Remember ; are only secondary consequences of it. Bởi; tương phản nhau: một con người ích kỷ thường hay cân nhắc, xem chừng mọi thứ khác như phương sách phục vụ để đem lại lợi ích cho ḿnh, hành vi đó không thể so sánh với con người vị tha; đấy là phản đề luân lư, đạo đức và xă hội. Thí dụ khác: Người giàu thường phát tâm ‘cứu nhân độ thế’, xây chùa, lập đền, mở trường học, bệnh viện như một thái độ thương dân; trước làm việc nghĩa sau nữa có tiếng thơm để làm ăn cho tiếng tăm vang lừng bốn cơi trời; việc đó chỉ dành cho lợi danh chớ trong đó không có chi là ḷng vị tha thương người. Việc đó không ai gọi là sắc tố của hành động. Cho nên chi trong đời sống b́nh thường chúng ta thường nghe hai chữ nhân hậu của tha thứ, khoan dung, độ lượng (forgiveness) Nhưng; trong việc tha thứ là đứng trên lập trường của khách quan chủ nghĩa: không c̣n bận tâm, việc đó coi như thông qua, ‘chuyện nhỏ’. Đối tượng của vấn đề cho cả hai: một bên bị tội và một bên buộc tội thời việc đó chưa hài ḥa, thỏa đáng. Bởi bị là xong chuyện, buộc phải là không quên hẳn (forgetfulness). Cho nên chi giữa tha thứ và quên hằn tuy xa mà gần, bởi; cả hai đều cho /for cùng một âm hưởng gần kề nhưng xa vời vợi. Tại sao? -‘lưỡi không xương nhiều đường lắt léo’ -tha thứ nhưng không quên được- Nó đă hàm chứa một thứ ích kỷ của ‘selfishness’ tột đô. Theo sách nhà Phật là tâm c̣n chứa cái uẩn chưa diệt năm căn ngũ đế, bởi; tha mà c̣n chứa trong tâm cái không quên, thời không thể cho là xong mà c̣n chấp trượt thời chưa giải thoát. Hoàn toàn phản đề giữa đạo và đời, v́; quên và không quên là môi trường của hận thù, bởi; c̣n hận cho nên không quên, điều đó không thể phân loại đâu là vị-tha và đâu lả không-vị- tha (non-altruism). Mô Phật!

Rốt ráo giữa hai phạm trù thuộc triết học và phạm trù thuộc Phật giáo không thể cho đó là người vị tha một cách ‘ṣng phẳng / even’, bởi; nó c̣n vọng dục giữa ḷng cuộc đời th́ khó đạt tới chân-như-phật (!).

Trạng huống bất khả kháng cho Vị tha –The necessity for Altruism. Đấy là điều nhất thiết mà chúng ta cần có một ư niệm hợp nhất. Vị tha ở đây được coi là ḍng tư tưởng chung, sẽ được diễn ra nơi chúng ta một cách hết sức tự nhiên; là điểm nối của hiện tại, quá khứ và tương lai là ba hiện tượng thời gian luôn vấn vương vào đời người mà trong mỗi chu kỳ của thời gian là một trực diện cuộc đời đang sống mà phải đương đầu trước mọi hoàn cảnh bi đát nhất. Thành ra con người không thể vượt thoát bởi sự vây quanh dù hữu h́nh hay vô h́nh trong cùng một hiện thể cần có và cần phải có. Nhận thức được chân lư đó chính là chúng ta chinh phục được cuộc đời một cách tự nhiên; đó là con đường đi tới giải thoát để đạt chân hạnh phúc, nghĩa là trợ lực vào nhau để tái tạo một thứ hạnh phúc chân chính và đúng nghĩa của hai bề mặt: hạnh phúc và đau khổ. Bởi; tấm ḷng vị tha thường phô bày như một thứ luân lư tối thượng có giá trong hai phương diện tôn giáo và thế tục xă hội Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có người không thừa nhận chủ nghĩa vị tha là một cả quyết tư tưởng như trường hợp nữ triết gia Mỹ Ayn Rand (1905-1982) đă có lần đứng lên chống lại thứ luân lư của vị tha mà họ nhận thức rằng nó như một yêu sách đ̣i hỏi cho một sự hy sinh và cho rằng sự đó là biện chứng nhân phẩm cho ḷng ích kỷ đưa ra.

Dù cho trong thế giới đương đại ngày nay, vị tha có nhiều điều cần thiết đối với con người hiểu biết và nhận thức giá trị làm người đúng nghĩa nhân sinh. Nó biểu lộ tính người một cách tự nhiên của ḷng tốt (kindness) v́ đó là t́nh người, mà trong cái t́nh đó ít nhiều vẫn có mặc cảm hơn thua và nhiều thứ lẫn lộn , thường có máu ghen tỵ; cho dẫu có ‘thánh thiện’ đi chăng vẫn xuyên vào đó một sự kiềm chế vào trí óc của chúng ta –motivation that run through and sometimes dominate our minds. Hơn nữa; kinh nghiệm ngàn năm qua của suy nghiệm thực hành trong nghĩa cử để chuyển từ xấu sang tốt, từ hận thù đến t́nh thương và biến thể (transformation) trong mọi t́nh huống nếu điều đó có thể thực hiện được

Có nghĩa rằng sự truyền thụ là một sắp xếp lại trong năo thức về chức năng, nhiệm vụ và mực độ của một cấu trúc xây dựng trí tuệ, là đi tới một quyết định hoàn thiện. Đây cũng là những ǵ xẩy ra giữa cuộc đời và con người, là một đánh giá hợp lư của việc hổ tương như một trong những nhiệm vụ khác, nó đem lại hai bề mặt của sự sống mà trong đó con người là tọa độ hướng tới như một hợp tác như nhiên (of cooperation in nature) Chúng ta sẽ t́m thấy thế nào là lợi ích mới của lư thuyết tiến hóa, dữ kiện đó là con người, là cơ bản nồng cốt được đánh giá nó như thể là ‘siêu hợp tác / super-cơoperator’.

Những ǵ xẩy ra ở đây, một lần nữa; là ḍng tư tưởng mở ra tính vị tha: t́nh yêu và ḷng xót thương ./.

 

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Stampede-day 7/2019)

SÁCH ĐỌC: ‘The Virtue of Selfishness’ by Ayn Rand. A Signet Book.Penguin Group. 1964.
ĐỌC THÊM: -‘Khách quan Chủ nghĩa’ (2019) / -‘Ư thức Vũ trụ’ (2018) –‘Thái độ của Vị kỷ I’ (2017) /-‘Thái độ của Vị kỷ II’ (2017)-Cuộc đời và Thời gian (2015) / -‘Bản tính Tự nhiên’(2014). Những bài đọc trên của vơcôngliêm. Hiện có ở một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đă ghi.
 

 

trang vơ công liêm

art2all.net