vơ công liêm


NGHỆ THUẬT Và LUÂN LƯ

 

vcl - Rỗng

 

Lần đầu tôi gặp Z , tôi nghĩ rằng trong anh có một sự bất trắc hay tuyệt vọng điều ǵ, dáng dấp đó đă lộ hẳn trên gương mặt thê thảm với nụ cười héo hon dưới đôi mắt trĩu nặng cho một h́nh hài gầy g̣, ốm yếu, nhưng; không phải v́ thế mà đánh giá về anh một cách lớn lao; cho dù thấy rơ ở đó một sự bi thảm và sầu muộn. Thực ra đó là nỗi đau thâm căn cố đế (chronic pain) trong người anh; ở tuổi mười-sáu anh đă thấy và đă nhận thức sự bi thương mà cuộc đời trút vào gia đ́nh Z. Nhưng; đó là cái nh́n chủ quan nhưng đứng ở góc cạnh khách quan để nhận định: Z có một tài năng thiên phú, một đam mê đầy hứa hẹn cho sự nghiệp và muốn để lại cái danh thơm về sau; thế nhưng Z không toát ra được một tiềm năng bộc phát như mong muốn, bởi; tiềm năng đó phải là ‘kinh lược sứ’ mới làm nên; dù Z cố gắng hết ḿnh, một lẽ khác; sở học của Z chưa đạt yêu cầu cho nên chi đường đời gặp nhiều chông gai và tŕ hoăn qua từng giai đoạn khác nhau. Z biết điều ấy như một định hệ đă sắp xếp, vẽ lên gương mặt sầu bi muôn thuở. Phải biết thêm rằng Z đă bị tê liệt trước đường t́nh bởi nằm dưới gọng kềm một cách cực độ của việc quyết định, cái đó là do từ mọi chọn lựa khác nhau, ngập tràn trong anh với bao khắc khoải –cho dù thay đổi đời sống hay thiên di từ chỗ này sang chỗ khác để rồi đi tới một nơi chốn xa lạ với đôi bàn tay trắng…Anh phấn đấu để vượt qua mọi thử thách đến nỗi sanh ra khờ khạo (dull) làm ăn, mất hứng (uninspiring) sáng tác bởi công việc thường ngày. Z cảm thấy cô độc, sự đó đă đánh mất khả năng nhận biết ngay cả t́nh bạn, t́nh yêu và t́nh đời, cố gắng khác là hài ḥa vào đó những ǵ mất mát, thiệt tḥi mà phận số đă định. Cuối cùng Z nhận lấy sự thảm khốc để bước vào đời từ thuở thiếu thời cho tới tuổi thất thập cổ lai hy. Tuổi cần ‘bồi dưỡng ’xác và hồn, nhưng Z lấy đam mê để bồi bổ tinh thần, nhưng; độ tuổi không c̣n lực để phát tiết.

Chúng tôi trao đổi với nhau thân mật hơn. Tôi hỏi Z những ǵ như tôi đă biết liệu có gây cho anh phẫn nộ? Z. trả lời một cách vắn tắt: -‘Tôi không bao giờ cảm thấy hờn dỗi về bất cứ điều ǵ’. Có nghĩa rằng Z đă nhận ra ḿnh trong thế thủ hơn thế động, bởi; so ra ḿnh chưa phải là ‘sáng danh’ giữa đời này. Thế thụ động (passive) của Z đă tác hại phần nào trong sự nghiệp văn chương cũng như trong đường t́nh. Cuối cùng Z nhận ra lănh đạm, thờ ơ, thụ động là đưa tới tính xấu của đố kỵ, của tranh chấp qua từng đối tượng.

Điều đó như thể là nguyên nhân không hiện hữu cho những ǵ đă nói về nó –There seemed to be no existential cause for it. Sở dĩ lồng vào một ngữ văn khác là lối nói cách hóa cốt dẫn chứng đích thực sự kiện muốn nêu ra. Và coi đó như chuyện có thật / true story. Từ chỗ đó ta mới thấy bên trong (inner) của Z hơn là cái bên ngoài (outer) của Z . Để t́m thấy một thứ nghệ thuật đích thực chứa đựng trong văn phong cũng như phẩm chất luân lư ở nơi con người Z. Có thể là cường điệu cho một lư luận thuộc bộ môn triết học, cũng có thể là ngữ ngôn sáo ṃn không chứng thực, nhưng; sự đó không gây đau buồn hay làm cho khó chịu dù đó là một quá khứ đen; thời tất nó không hẳn là điều sửng sốt, choáng váng mặt mày (shocks) gây ra thương tích tuyệt vọng (disappointments) hay làm mất hứng vỡ mộng thi nhân (frustrations). Hẳn nhiên đây là một sự lănh đạm thờ ơ của hắn dẫn đến con người mà hắn không những cảm thấy được mà c̣n muốn mọi thứ cho được dài lâu (là ước vọng) –Yet his frozen impersonality suggested a man who neither felt nor wanted anything any longer. Hắn (Z) giống như một thứ sương khói bạc mầu phủ đầy bụi bám, sự đó không bao giờ là ngọn lửa bực sáng, bởi; nó xoáy trong những ǵ ngập ngừng như muốn nói gián tiếp về ḿnh mà sợ đời lăng quên(?) nó xoáy trong phương hướng của chủ nghĩa lập lại. Thứ chủ nghĩa của tàn tích cổ lỗ sĩ, gieo họa vào cái xưa cũ, không gieo vào cái mới trong những ǵ mầu mỡ của văn minh hiện đại. Hắn đứng riêng một vùng trời không ai thấy mà chỉ thấy ở đó bóng mờ của hôm qua và hôm nay. Hắn mù quáng trước những hiện tượng đổi thay, không nhập cuộc mà đứng ngoài cuộc của tk. hai mươi mốt đang phát triển. Chủ nghĩa lập lại hiện đang bành trướng, một căn bệnh tha hóa cho văn chương ngày nay. Nó tồn tại bởi nó cùng quan điểm của Z ; đó là những ǵ bi thảm của cuộc đời (tragedy).

Chúng tôi đề cập những trào lưu, trường phái khác nhau qua nghệ thuật cũng như trong văn chương, đặc biệt là văn chương Việt nam; hắn sơ bộ một cách khái quát chớ chưa hẳn phải là ư niệm sâu xa khi đặt vấn đề nhân bản và vai tṛ lư tưởng của con người trong nghệ thuật và luân lư, hắn lăng mạn hóa ngữ ngôn như để đả thông tư duy mới, tuồng như hắn chỉ thấy một nửa của nghệ thuật lăng mạn- he had seen a certain semi-Romantic. Hắn cảm kích đến nỗi không thể giải thích được cảm hứng đến từ đâu mà chỉ trả lời chức năng, vai tṛ quản trị đang phát triển và mở mang –response to the character of an industrialist. Hắn không đặt nặng vấn đề nghệ thuật, mà cho nghệ thuật đă chuyển hướng và nền luân lư suy đồi. Cố gắng của hắn là không ra khỏi lập trường cố hữu mà quên đi một điều ‘văn chương là nghệ thuật / literature is the art’. Mr. Z đă nói rời rạc vấn đề nhưng vẫn cho đó là sáng tỏ, là những ǵ thu tập từ kinh nghiệm để đạt được: ‘nó là cảm thức của nhận biết một sự khác biệt của vũ trụ / it was the sense of seeing a different kind of universe’. Tư duy của hắn đă đánh đổ phần nào lập trường cố hữu mà xưa nay hắn duy tŕ như một thứ điển cố. Hắn cảm kích để chứng tỏ: ‘ấy là những ǵ tôi muốn cuộc đời là thế / it was what I want life to be’. Đó là thái độ của một con người chưa từng trải, một thái độ ngụy biện trước hoàn cảnh bi đát mà hắn đang dấn thân, sự vượt thoát đó chỉ để lại cho hắn một chân tướng ‘lấy vải thưa che mắt thánh’ nhưng; hắn vẫn đuổi cho đạt tới kỳ vọng mong muốn; để rồi hắn tự quay lưng mà nhận ra rằng rượt đuổi cái hoài vọng đó măi măi không tới đích, hắn không nhận ra trong bản thể tự tại hắn đă chứa cái bất ổn của quá khứ, hiện tại và vị lai. Tàn tích đó do từ sự phát sinh của chủ nghĩa lập lại. Khi tôi nhận ra sự thật con người hắn qua hành động và việc làm giữa đời kể cả sự nghiệp văn nghệ xưa nay hoàn toàn không gắn liền vào nhau một cách thực tế mà hầu như có một sự che lấp hoặc huyền thoại hóa vấn đề để trở nên thực. Sự kiện dẫu đă nửa tk. qua ít nhiều cũng phôi pha cho nên thay vào đó những bài thơ như ‘chứng nhân’. Hắn nh́n tôi không nói, tôi đọc trên đôi mắt hắn như một hối tiếc…Thật ḷng hắn không nhận ra, bởi; cái nh́n chủ quan trước cuộc đời là thế, nhưng; cuộc đời không phải là thế / life is not like that… dẫu là ǵ căn nguyên vấn đề của hắn; th́ đây mới là câu trả lời: sự cố đó là triệu chứng (symptom) chớ không phải là thứ không đạo lư (amorality) nhưng đúng nghĩa của nó là phản luân lư (moral treason) gọi chung là phi nghĩa. Hắn đă đuổi theo con tàu không người lái cho nên con tàu chạy không định hướng: cái đáng nhớ hắn lại quên, cái đáng quên hắn lại nhớ cho nên chi phản ảnh vào trong văn thơ như một ám thị tư tưởng muôn đời không vượt thoát là ở chỗ đó. Thành ra kéo theo những nạn nhân ṿng vo tam quốc chí diễn nghĩa, không đổi mới tư duy mà ôm đầm vào người cái phương án cổ lỗ sĩ là đi lui những ǵ chưa sáng tỏ, ngược trào lưu văn chương đương đại của thế kỷ. Suy rộng ra Mr Z là con người chịu đựng trước mọi hoàn cảnh đắng cay chỉ c̣n lại trong hắn một sức khoẻ thuộc tâm lư (psychological health); một thứ tâm lư của chủ nghĩa lập lại của những ǵ đă sống, đồng thời giải phóng linh hồn ra khỏi những bức xúc, ruồng răy, cũng chính v́ thế mà tạo nên tính khí thụ động nơi hắn, bởi; hắn thấy người thấy ta để rồi ngày nay hắn thắng trong cuộc chiến mà hắn đang theo đuổi. Tựu chung chỉ c̣n lại cái hoài niệm vô bổ. Hắn vẫn c̣n nỗ lực để đạt nguyện vọng cho một vài thứ c̣n sót lại của những ǵ nhầm lẫn đă qua –He is still struggling with some remnants of his past errors. Nói cho cùng; những ǵ hắn đưa ra là những hạng thứ không đáng kể như chính bản thân hắn: đồng sàn, đồng hội, đồng thuyền cho một cảm thông hài ḥa với chính thân phận ḿnh. Nhưng; vẫn cho đó là hành tŕnh dấn thân qua từng đối tượng hay từng tác nhân. Hắn không thấy hắn đang xổ óa vào hành vi của mỗi tác nhân, hắn lặt tiả từng ngọn lá để t́m trong lá đặc chất diệp lục tố, không thấy mà chỉ thấy sắc tố ngưng đọng của đất rắn để hóa ra úa vàng, hắn phơi mở những thứ xâm phạm qua từng cá nhân; chính lư lẽ đó gây nên tội ác (criminal) giữa chủ thể và khách thể một cách trầm trọng. Hắn cắm đầu chạy như con vụ quay trên sàn gỗ, một con vụ không có cảm tính.

Có vô số trường hợp giản đơn như thế; ở đây là điều rất hiếm cho những con người ở dạng nửa vời, với hắn đặc biệt hơn, có một điều ǵ đă thấm thấu trong ‘ngũ tạng’ mới phát sinh ra đặc chất của kịch tính (dramatically) trong mọi hoàn cảnh để cầu khẩn sự bi thảm mà hầu như hắn phải gánh chịu. Một con người thường tạo ra dáng lạ như có tầm cỡ -a man of unusual stature-. H́nh thức đó dành cho những mặc hàng giả hiệu. Thứ đó biểu lộ một sự bi thảm để lôi cuốn thị hiếu, thứ thị hiếu ngây ngô, khờ khạo bị kịch tính lừa đảo tưởng chừng như vàng thau là một (bé cái nhầm) mà bấy lâu nay trở thành triệu chứng của thói đời, bởi; nó tợ như ẩn vào đó một sự hù hập vào tinh thần của con người hay sự im lặng bởi lănh cảm. Hạng người đó; nói chung là nương theo chiều gió, hoạt đầu văn chương không c̣n chính nghĩa là đẩy con người trở nên nạn nhân và đẩy con người trở nên thủ đoạn không c̣n thực với đời thường; chắc chắn điều đó đă thâm nhập ít nhiều giữa cơi đời này. Trong nghệ thuật cũng như văn chương hắn là thứ siêu vi không c̣n tính chất nghệ thuật luân lư và không để lại một cảm thức nào của cuộc đời mà hắn đang sống.

Con người là một hiện hữu thực thể có tâm hồn. Một tâm hồn chính nghĩa không phi nghĩa và cũng không phản nghĩa là thức thời trước cuộc đời hiện thực. Z ch́m trong ư thức đó để nảy sinh ra một thứ chủ nghĩa lập lại, là a ṭng để đuổi kịp trào lưu, nhưng; cái chính là năm tháng của cuộc đời hắn -tuổi ấu thời và tuổi thành niên- nghệ thuật lăng mạn đă chiếm cứ lấy hắn; nhưng hai chữ romantic chưa rốt ráo đối với hắn để rồi dựng nên những chủ đề sai nghĩa lư trong tác phẩm của hắn. Quên đi rằng nguồn gốc luân lư là cảm thức của cuộc đời –a moral sense of life (Nghệ thuật lăng mạn thường bày tỏ qua kinh nghiệm về cuộc đời). Nhưng ; nhớ cho rằng nghệ thuật lăng mạn như hắn nghĩ chỉ là thứ nghệ thuật và luân lư phản động (Art and Moral Treason) khác với luân lư cảm thức của cuộc đời (A moral sense of Life) Không những Z mà hầu như một số người khác rập khuôn thứ văn phong của chủ nghĩa lập lại (Repeatenism). Nhất là trên lănh vực văn hóa ngày nay cũng đă hành động và phổ biến những ǵ như trường hợp của Z đă làm.

Cảm thức của cuộc đời là một dự tưởng gần như siêu h́nh là xúc tác dưới dạng tiềm thức liên đới vào nhau để đánh giá về những ǵ của con người và những ǵ của hiện hữu tồn lưu. Luân lư đạo đức (morality) là trừu tượng, dấu hiệu ư niệm nhận thức về giá trị và thiết yếu –Morality is an abstract, conceptual code of values and priciples là cốt tủy cho việc đánh giá và nhận thức tiềm năng. Viễn cảnh của cuộc đời là giải bày và kiềm tỏa bởi giá trị đích thực của nó. Trong những ǵ mà con người chọn lấy có thể thiết thực, hiệu năng và quyết định quan trọng –cái đó mới gọi là cảm thức của cuộc đời / a moral sense of life đang sống.

Đặt nặng vấn đề cốt nhận ra rằng: cuộc đời là một cảm thức mà trong đó chứa một thứ luân lư chính nghĩa để đưa vào nghệ thuật và văn chương. Trong lúc ấy hắn (Z) đă tiếp thu và học tập một nền luân lư của bi thảm và đau khổ, ám ảnh đó cứ đuổi theo trên một hành tŕnh đầy gian lao và bi lụy; gian lao cho đời và bi lụy cho t́nh. Hắn cố gạt ra nhưng lại trở về. Lắm khi hắn than thân trách phận để rồi hắn tự măn bằng những đam mê khác để trở nên hài ḷng / pleasure hơn là chức năng phục vụ. Hắn cho đó là tinh thần trung thực và thực hiện như một khám phá mới có tính sáng tạo và t́nh người qua từng nhân vật như ‘tôi đă biết’; liệu điều đó có phản ảnh một tấm ḷng chân hay mượn lời thay tiếng; nếu không nói là phi nghĩa.

Có hai yếu tố cơ bản của linh hồn: một của hiểu biết (cognitive) một của chuẩn mực (normative) có thể khai triễn vào nhau trong một tác phong an nhiên tự tại, ḥa âm điền dă với tư thế chính đáng để h́nh thành những ǵ ḿnh muốn tạo nên cho một hành tŕnh lư tưởng giữa người và vật một cách điều ḥa…

Hắn là con người thức thời biết nương thân và biết danh dự; dẫu có dự mưu hay toan tính nhưng có biết cho rằng nghĩa cử đó là chủ quan / subjective là phong cách của tùy tiện, đ̣i hỏi là một tỏ bày mù quáng như năn nỉ, như khẩn cầu là hành vi suy nhược của con người trí thức trước thời cuộc. Hắn nhận thức việc làm sai trái giờ đây hắn cảm nhận ra một thứ hợp chất nằm trong dạng tiềm thức; đó là giá trị của chọn lựa đến từ yếu tố vô thức trong lư trí và cũng là sự việc phiêu lưu hiểm nghèo có từ trong người của hắn mà ra, không c̣n phân biệt đâu tà, đâu chính, không phân định giữa bạn với thù. Ấy là điều phi nghĩa lư.

Ư thức của hắn là một quyết định tối hậu để đạt tới mục đích. Trong vô thức của tiềm thức gợi cho hắn những ǵ cần có và những ǵ không cần có. Nhu cầu đ̣i hỏi nơi con người là phẩm hạnh luân lư đạo đức là điều cần thiết dù là một sự nghiệp lớn lao đi chăng nếu việc làm không chính nghĩa là không có giá trị.

Nhưng; hắn quên rằng trên đời không lưu lại một dấu tích nào hơn ngoài cát bụi; tất cả đều là hư vô ./.
 

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . 9/9/2019)

 

trang vơ công liêm

art2all.net