vơ công liêm

 

 NGHỆ THUẬT VÔ THỂ
gởi: thân trọng minh . lê thánh thư . phan minh huệ.

 

Sắc diện / Figure ( Võ Công Liêm )

 

          Là thứ nghệ thuật không ra dáng, không thể cách được miêu tả là một thể loại mới của nghệ thuật; nó dấy lên ở Ba-lê (Pháp) vào năm 1940 –Art informel [unformed or formless art] describes a new type of art that emerged in Paris (France) in the 1940’s. Tên gọi ‘vô thể’ là tạo ra của từ ngữ informel. Sao không gọi giản đơn là thứ nghệ thuật không hợp thức informal cho trọn nghĩa, trọn t́nh văn chương b́nh dân học vụ mà là informel: bởi nó là đặc thù, năng khiếu và nhận biết về sự mới lạ. Số là như thế này: nhà văn, phê b́nh Pháp Jean Paulhan (1884-1968) đă t́m thấy trong một số tác phẩm nghệ thuật thời bấy giờ đă vượt ra những ǵ lập lại, những ǵ tàn tích cổ lỗ sĩ ngồi khâu vá những ‘văn bản’ cũ làm cho sáng tạo cứ cũ măi mà không đổi mới tư duy…(cho dẫu có một vài họa phẩm cũng như văn phẩm chưa hẳn phải để đời, có những thứ không để lại mà đời vẫn c̣n nhắc măi). Với nghệ thuật đương đại người ta t́m thấy ở đây một sở năng độc đáo, khai thác tột độ nhất là hội họa vô thể; một thứ nghệ thuật cách riêng, của thể loại khác (art autre / art of another kind). Tượng trưng nghệ sĩ Jean Dubuffet (1901-1985) Pháp và nghệ sĩ Wols (1913-1951) Đức. Đă thay đổi ngữ ngôn hội họa từ đó nảy sinh từ ngữ ‘vô thể/informel’ cho hợp phong cách qua lối vẽ mà cả hai đă tạo ra cái dáng điệu (gestural) biểu lộ một hàm ư về giá trị nghệ thuật mới, quên đi một thứ bố cục nghệ thuật h́nh học trừu tượng. Nghệ thuật vô thể có một sự khác biệt lớn lao giữa những ǵ nghiêm túc cứng nhắc và những ǵ trí thức giáo điều. Vô thể không đứng vào hàng ngũ đó mà đứng riêng cái riêng của ḿnh và dựng vào đó một trường phái khác.

 

Những họa sĩ vẽ về vô thể xử dụng lối vẽ ngây ngô, ngớ ngẩn của trẻ con; nhưng trong dáng vẽ tợ như có cái sự lộn xộn tự nhiên, chưa một lần học hỏi hay qua kinh nghiệm, trông man dại, không biểu tượng; gần như bẩm sinh. Thứ nghệ thuật vô thể có lẽ do từ những hoàn cành xă hội hay do từ chiến tranh để lại mà đôi phần ‘nhũng lạm’ tư tưởng của người nghệ sĩ, nhưng với họa nhân theo trường phái phá thể họ có cái nh́n khác biệt của người b́nh thường, dưới góc cạnh khám phá, có thể h́nh thái đó do bản chất, có thể do từ một nội tại bức xúc hoặc đi từ một say đắm tột độ dưới h́nh ảnh của trí tuệ. Sự lư này tuồng như nhạy cảm tinh nguyên của sức ép thuộc cảm tính (catharsis), nhất là họa phái vô thể. Dựa trên khoa tâm lư th́ đây là một sự khuây khỏa làm nhẹ đi nỗi bức xúc, phức tạp đă đem lại cho nhận thức để biểu lộ; một h́nh ảnh tinh anh và sáng tỏ chảy ra từ cảm nhận ‘hồn nhiên’. Nó thực sự thoát ra từ mọi khuôn phép hay vượt ra khỏi sự ràng buộc của tư duy. Vô thể giờ đây thường được coi như thế lực bao che cho sự phân hóa của nó về những ǵ thuộc hiện thực trừu tượng (Abstract Expressionism) và kể cả thi họa trừu tượng (Lyrical Abstraction) là một tổng hợp chất liệu cho lối vẽ ‘phá thể’. Một sự cuồng nhiệt như trường hợp của J. Pollock, W. de Kooning, M. Rothko, K.Appel…thuộc phái siêu thực (Surrealism).


Thời điểm 1951 nhà văn Michel Tapié (1909-1987) qui tụ một số nghệ sĩ triển lăm dưới nhăn hiệu: ‘ư nghĩa của vô thể /Signfiants de l’Informel’ ở Ba-lê với Dubuffet, Jean Fautrier, G. Mathieu. Một vài năm sau Tapié triển lăm với danh xưng: ‘Một thứ nghệ thuật khác lạ / Un Art Autre’ đă gây tiếng vang và nghiễm nhiên trở nên trường phái vô thể / informelism; song hành cùng trường phái trừu tượng và siêu thực đă lôi cuốn một số thành viên thuộc phái vô thể khắp nơi. Đáng kể hơn hết J. Dubuffet đă mở đường tiên phong thay đổi bộ mặt hội họa vô thể, một chất liệu nhàu nát, nhuyễn ‘haute pâte / pulp’ trong tranh như bức họa phẩm; ‘Léautaud , Redskin-Sorcerer / Léautaud Phù thủy Mặt đ̣’ (1946); tạo thêm chất liệu của dầu hắc, than, sạn vụn, cát, rơm khô, gây cho bề mặt thô, cứng, tợ như quệt quẹt trên vách tường (graffiti); hầu hết ở tranh của Dubuffet đă tiếp giáp vào thứ nghệ thuật cục súc chưa tới nơi, tới chốn (Art Brut / Raw-art) của một người mất trí hay tâm bịnh (có thể họ đă dựa vào đó của những người ở nhà thương điên hoặc những người khuyết tật). Những đường vẽ lộn xộn, gồ ghề qua h́nh ảnh con người vô vọng, lạnh lẽo với những dằn vặt, đau đớn khác –The roughly outlined human image is both bleak and distressing. Từ những dồn dập đó đă tạo cho họ một thế giới riêng biệt và lạ đời của vô thể / imformel. Vô thể thực sự dấn thân vào đời như một nghệ thuật tiên phong và mới lạ.

 


( Jean Dubuffet: ‘Léautaud, Redskin-Sorcerer’ 1946.

Oil on canvas with pebbles and gravel 92.1 x 73 cm.

Museum of Modern Art. New York City, NY. USA).


Khởi từ 1940 đến 1950 trong ṿng mười năm có nhiều hệ phái khác nhau ra đời nhưng chung chung đều là thứ nghệ thuật ma quái: nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi, đôi khi như ma-cà-rồng, thứ chết chưa chôn, bùng lên như nghệ thuật đương đại. Họ thực sự phá rào qua tấm thân trần truồng, không e lệ, không xấu hổ mà phơi mở một sự thật của nghệ thuật. Vô thể trở thành phá cách để đi vào cơi riêng, là cơi phi của nghệ thuật. Do đó; người xem tranh hay vẽ tranh cốt ‘dưỡng mục’ cho đă, cho sướng chớ chưa t́m thấy đích thực ‘linh hồn’ của nghệ thuật; phải hy sinh như thích khách mới có cái gọi là nghệ thuật vị nghệ thuật; c̣n bằng không th́ chưa biết chi mô răng rứa nghệ thuật có từ đâu và đến từ đâu. Đấy là cái khó đề có con mắt nh́n vào nghệ thuật của trừu tượng, siêu thực và vô thể. Thế nhưng; vô thể ngày nay có chỗ đứng vững chắc với một giá trị tuyệt đối ở những ṭa nhà tháp cao như một số họa phẩm của Jean-Michel Basquiat (1960 -1988). Nó trở thành ‘hàng hiệu’. Và; thế giới giựt ḿnh từ đó.


Vậy th́ họa nhân muốn nói cái ǵ trong tranh? Họ nói sự thực của cuộc đời, họ không mị nghệ thuật mà họ mô tả chất liệu ‘ngũ tạng’ trong con người. Thực ra họ b́nh thường như mọi người b́nh thường khác, nhưng; cảm thức của họ vượt ra khỏi tri nhận để được sống trong một thế giới như ư, trong một nhận thức đúng đắng (consiousness) chớ không phải dạng vô thức (unconsiousness). Có thể họ thực hiện cái ‘hoài bảo’ để không c̣n gông cùm tư tưởng hay nô lệ của ngữ ngôn. Nghệ thuật phải thoát tục để thấy ‘chân lư tánh không’của nó. Thời tất làm nên nghệ thuật sáng tạo, mới là để đời như cọp để da vậy.


Nghệ thuật cho tất cả là thứ nghệ thuật lănh hội, c̣n tránh né theo dạng ‘yểu điệu thục nữ’ là không thực tế cho một thứ nghệ thuật đương đại, bởi; ở đó không khai phá và t́m kiếm cái mới của nghệ thuật, vô h́nh chung đưa vào thư viện tàng cổ nghệ thuật…Từ chỗ ấu thời cho tới khi trưởng thành ḍng chảy của nghệ thuật đi qua nhiều trường phái, nhiều trào lưu nghệ thuật (art movements) khác nhau. Nhất là nghệ thuật hội họa không thể đứng lại mà đ̣i hỏi khám phá không ngừng (từ thể điệu (gesture) màu sắc (colors) chất liệu ( matter/matière). Đại diện thể chất này phải nhắc đến họa sĩ Tây Ban Nha Antonio Tàpies (1923-2012) đầu đàn của họa phái vật chất (matter painting).Từ chỗ nhỏ đến chỗ lớn của vô thể là làm sao đạt tới yêu cầu của tri nhận, bởi; nó chẳng mang sang, nó chẳng tham vọng mà là một tổng thể toàn triệt như nhiên (naturalness) là cơi riêng ḿnh, là phương cách thoát khỏi cơi đời. Không ù ĺ !


Nói tới hội họa vô thể cho ta một liên tưởng khác của thi họa trừu tượng. Lyrical Abstraction (là ngữ điệu dành cho âm nhạc và thi ca, ngữ ngôn trữ t́nh say mê). Nghe lạ hơn bao giờ. Họa cũng có cái trữ t́nh thi điệu của nó; nếu nh́n xuyên với đôi mắt trong của nghệ thuật. Đúng ra nó là thi-thể-trừu-tượng tự do của hội họa –Lyrical Abstraction; a free form painting. Dẫn như thế nó thiết thực và bài bản, c̣n không; tưởng như là trừu tượng hóa để biến giả thành thực có tác hại mai sau; là một phản đề của h́nh học trừu tượng –the opposite of geometric abstraction. Nó xuất hiện cao điểm ở thời hậu chiến, sau khi giải phóng Ba-lê (Pháp) vào những năm 1945/1956. Nó nằm trong cơ phận của nghệ thuật trừu tượng, nằm dưới cọng dù của nghệ thuật vô thể ở Âu châu và hiện thực trừu tượng ở Mỹ châu. Thi-thể-trừu-tượng (Lyrical Abstraction) thành h́nh bởi hai họa sĩ trong phái vô thể là Camille Bryen (1907-1977) và Georges Mathieu (1921-2012) mà họ đă giải thích nghệ thuật của họ là thứ abtraction lyrique . Thời kỳ nóng bỏng của trừu tượng ‘abstraction chaud / hot abstraction’ được coi như phản đề vào h́nh học lạnh lẽo trừu tượng ‘abstraction froide / cold abstraction’. Hai họa sĩ nói trên mở ra một buổi triển lăm với chủ đề: ‘H́nh ảnh / L’Imaginaire’ với một số họa sĩ biểu trưng: Hans Hartung, Hans Arp, Jean-Paul Riopelle và Wols. Mathieu giải thích thêm về phương cách của họa phái vô thể và thi họa trừu tượng mà trong đó bao gồm một tinh thần hội họa tự do như thơ tự do, thơ phá thể, thơ tân h́nh thức nó không ‘ra đế’ cho tư tưởng thi ca, nhưng; ‘có đế’ cho thi họa trừu tượng, một trào lưu của hội họa: bung lên, bắn ra, chảy dăi ngang dọc như mửa trên bố vẽ với một âm tiết phá cách của vũ điệu –the free movement of paint: splashed, dripped and spread across the canvas with the rhythm of a dance. Ở Mỹ trường phái ‘thi thể trừu tượng có Helen Frankenthaler (1928-2011) và sau đó có Jackson Pollock đă khai mở lối vẽ này theo cách riêng của họ (không tráng sơn, hay sơn lót đi thẳng vào bố vẽ). Hoạ phẩm của Frankenthaler: ‘Sơn Hải / Mountains and the Sea’ (1952) đă xử dụng kỹ thuật là để lại vết dơ một cách bừa băi không hợp cách của màu sắc, gây ra bố cục rời. Frankenthaler nói về hoạ phẩm của ḿnh:‘Chỉ có qui tắc mà ở đó không có những ǵ là qui tắc / The only rule is that there are no rules’. Phá thể th́ đâu c̣n phán xét!.

 


(Helen Frankenthaler: ‘Mountains and the Sea’ 1952. Oil on canvas . 220 x 297.8 cm)
 

Chủ nghĩa siêu thực và Thiền phái cả hai đă mang về trong nghệ thuật một thứ ‘chưng cách thủy’ hay c̣n gọi là hầm cho nhuyễn cái tinh chất để pha chế vào nghệ thuật hội họa; trong khi đó Dubuffet, Fautrier lại đắp vào một thứ ‘trộn’ nhuyễn / haut pâte / pulp’, một chất liệu để chuyên chở vào đó cảm thức của cơn lốc xoáy hoặc một cái sự ǵ dứt khoát. So ra Wols và Mathieu cùng một khuynh hướng với những nét riêng hay đặc điểm khác lạ. Theo lệ thường người nghệ sĩ lâm vào hoàn cảnh rối ren, phức tạp trước t́nh huống bất ổn, trạng huống đó ḥa nhập như cơ hội để tiến tŕnh tác phẩm để dựng thành một bố cục đầy đủ không vướng mắc. Trái lại; mục đích của vô thể không c̣n thể (formless) để tự do thả hồn vào tác phẩm, đổ vào đó một sự bất cần; tất cả bừa băi, vô trật tự và với bộ dáng kỳ quái là cốt cách nghệ thuật vô thể. Chủ đích làm cho xấu xí thêm hơn –To the point of ugliness. Jean Dubuffet thốt: “…Tôi giống kẻ cuồng trí. Tôi đón sự cuồng trí. Tôi cảm thấy cần cho tác phẩm nghệ thuật là đậy lên đó một sự ngạc nhiên, cho nó nhận nơi ḿnh một dáng điệu tỏ rơ, ấy là điều chưa nhận thấy trước đây… / I like madness, I am very taken by madness. I feel the need for a work of art to be shrouded in surprise; for it to assume a appearance that has never been seen before…” Như vậy; ư tưởng về sự thay đổi h́nh và ảnh, dần dà trở nên quen mắt và tạo được dáng ‘thẩm mỹ’ riêng tư ở tự nó, nhưng; trong đó như có một thứ biến thể của siêu h́nh hay của không gian làm thành những mảng thuộc tâm sinh lư của con người cho một tiến tŕnh có trước và sau ở bộ môm vô thể nghệ thuật. Nó độc lập trong dáng điệu của nó kể cả chất liệu và đường nét. Không tránh khỏi những con mắt đạo đức (giả) cho đó là một thứ nghệ thuật phi thể hơn là vô thể. Tiến tŕnh của con người không dừng lại trước thời hiện đại hóa của kỹ thuật; lại có cái nh́n khác hơn xưa; cái đó thuộc trạng thái tâm lư và thời gian. Con người luôn khám phá và t́m thấy cái lạ thiên nhiên cũng như cái lạ thuộc về nghệ thuật. Những ǵ của tk hai mươi (20) không thể là của tk hai mươi mốt (21) có nghĩa rằng; văn học nghệ thuật là trầm ḿnh trong tĩnh lặng để suy diễn hơn là phê nhận thiệt hơn, bởi; ở chính nó, có cái lư của chính nó; phê chỉ là người đứng ngoài cuộc, gia nhập ‘thị phi’ để b́nh luận, tất không sát sự thật dù pha chế, sao y chánh bản hay thế v́ khai sinh tợ như những chợ bán tranh mà thợ vẽ nhào nặng để được sống thực, nhưng; không sống thực. Khâu vá chỉ tổ cho cái sự rách nát mà thôi! Văn hay vẽ là cốt cách của sáng tạo dựng vào đó cái vô tận để đời, c̣n nhại lại là lập ngôn đẩy văn học nghệ thuật vào ngơ bí (no exit), lập ngôn là copy-cat trở thành lề thoái, không thoát với tư duy mà ‘từ chương, tích cú’ dẫn những cái lư vô bổ, vô tích sự và vô duyên. Sự đó trở nên vô thức khi phê b́nh hay b́nh giải về thi văn. Ngược lại; hội họa là đặc tố bất diệt chớ đừng nói là ‘đặc miệng’ vào. Sao vậy? -Bởi không thấy cái vô lư, vô ngă của nó huống là phê với phán. Rỗng! Màu sắc là thời gian không già hay đứng lại mà càng già càng dẻo càng dai. Sự thật của vô thể đă thể hiện được tính chất của nó. Nó đứng ở vị trí riêng biệt và độc lập khác với những trường phái xưa nay.

Trên thực tế con người sẳn sàng nhận ra những xu hướng độc hại của những kẻ ưa khoa trương ngày nay là những ǵ đă đi trước (avant-gardes); rất ít người thừa nhận và nh́n thấu suốt con đường chân lư của nghệ thuật hoặc có thể phớt lờ hay dửng dưng trước một sự kiện đáng được đề cao. Ngoại trừ nhà thơ Jean Cocteau và nhà văn Tristan Tzara xác định một cách minh bạch và cho đó là một thứ triết học hội họa / peintre philosophe, một thứ lư thuyết của người nghệ sĩ, là phong cách, tư thế, dáng điệu không thể trốn thoát trong bất cứ viễn cảnh nào của thế kỷ hôm nay, dĩ nhiên; những ǵ đă có và sẽ có là một đánh dấu giá trị của nó và không bao giờ quên rằng nó thuộc về năo thức (cerebral conceptual) đă đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật giữa tuyệt hảo và siêu phàm trong mọi tác phẩm để đời. Đấy là trọng tâm dành cho văn học nghệ thuật nói chung và hội họa nói riêng. Đó là đặc thù để làm nên sự nghiệp, bất luận dưới h́nh thức nào. Vậy th́; chúng ta đă vào nửa đường của sào huyệt nghệ thuật để có cái nh́n sắc bén, tinh vi, đúng đắn hơn phải nhắc đi nhở lại làm lệch cái giá trị vốn có; để rồi phải phê b́nh hay b́nh giải ./.

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. đầu tháng 6/2018).

*H́nh trong bài rút ra từ: ISMS Understanding Modern Art by Sam Phillips. Universe Publishing. New York. USA. 2012

ĐỌC THÊM: Chân Dung Tự Hoạ / Pablo Picasso / Salvador Dalí / Jackson Pollock / Jean-Michel Basquiat / Amedeo Modigliani


Những bài đọc của vơcôngliêm hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đă ghi.


 

trang vơ công liêm

art2all.net