Phàm
ít ai nói ‘nghe tranh’. Thế
nhưng Du Tử Lê* làm được điều
này. Để giải hóa cho một tư duy
có tính chủ quan và cục bộ. Mượn
ư của nhà thơ Lê Đạt
(1929-2008): ‘Nếu không ít kẻ
xem tranh bằng tai th́ cũng
thiếu ǵ kẻ nghe nhạc bằng mắt’
(Trong tập “Hèn Đại Nhân” NXB
Tuổi Xanh 2000). Nếu cảm nhận
được câu nói trên tức chúng ta
cảm nhận được những ǵ mà Du Tử
Lê muốn nói trong tranh. Thực
thế; những năm gần đây tôi đă
t́m thấy tranh du-tử-lê chứa
chất liệu đó. Với định kiến; Du
Tử Lê là nhà thơ duy nhất có
trước và sau là điểm sáng nhưng
trong Du Tử Lê lại có nguồn sáng
khác trội hẳn hơn những ǵ ḿnh
nghĩ. Có lẽ; do bẩm sinh thiên
phú hay tài năng phát tiết bất
ngờ. Người đời đều có những ngón
sở trường hay sở đoản như thế
chẳng phải riêng ai, nhưng; cái
khó ở chỗ là làm nên hay không
làm nên mới là điều đáng quan
tâm. Thẩm mỹ hội họa (aesthetic
art) là tạo cái riêng của chính
ḿnh, là một sáng tạo độc điạ
kết tinh bằng tất cả giác quan
và ư thức, khêu gợi trong tâm
thức bằng những h́nh ảnh khoái
cảm thuộc ‘tiền kiếp’, một cơi
đă mất. Du Tử Lê sống trong
trạng huống đó để h́nh thành cho
một sáng tạo nghệ thuật; nghĩa
là người nghệ sĩ phải đối diện
với cái “đẹp” và biết thưởng
thức cái đẹp : trước cảnh quang
như thế họ vất bỏ tất cả những
khái niệm khô khan, những tư duy
mưu đồ ‘xâm lược’ bởi dục vọng,
không c̣n suy luận, không c̣n
phán đoán mà tập trung tinh thần
vào đối tượng, quên ḿnh để ḥa
nhập vào hiện thể, h́nh tướng
không c̣n ở đó. Quên hết! Du Tử
Lê quên hết trên mọi hiện thể
của ngoại giới, du vào thế giới
‘mê hồn trận’ của ‘vật ngă đồng
nhất’ để làm sao ḥa vào đó một
tiếng động của vô-thể mà hữu-thể;
đó là trạng huống tâm lư thuần
trực.Tranh du-tử-lê mằm trong
lănh điạ đó.
Tôi khâm phục sự tĩnh lặng của
người nghệ sĩ. Cái tĩnh lặng vô
biên trong đáy tâm hồn thi họa.
Du Tử Lê kiêm nhiệm trên hai
lănh vực đó, bởi; ‘trong thơ có
họa, trong họa có thơ’ nói cách
khác là ‘văn nhân họa’ đây là
một ngữ ngôn nói về họa phái của
giới văn nhân thi sĩ. Thi họa
chỉ là biểu lộ tinh thần nội tâm:
Du Tử Lê và Mễ Phất (1051-1107
đời nhà Tống). Lừng lẫy hơn có
Vương Duy Cật (701-7610) Tổ sư
Nam Tông họa phái. Tài t́nh của
Vương là nét thủy mặc và thiền
thơ đan vào nhau là thuộc trường
phái biểu hiện (từ tâm và thiên
nhiên). Cả ba thi họa nhân trầm
ḿnh trong một tư duy rung động
cùng ḥa nhập vào vũ trụ giới
của con người để thành h́nh tác
phẩm. Đó là nói và nh́n trên
b́nh diện của nghệ thuật ‘nghe’
và ‘thấy’. Cho nên chi đứng
trước một họa phẩm không c̣n là
việc trầm tư cho việc thưởng lăm
hay xem để t́m thấy giá trị của
nó. Mà; phải t́m thấy ở đó một
tâm thức phản ảnh của họa nhân
trong một chuyển động h́nh thành
tác phẩm… đặc biệt ở Du Tử Lê là
vận hành tư tưởng, dung thông
trong một trí tuệ ‘prajnă/bát
nhă’ của thơ và tranh; cả hai vị
trí này không thấy chi là ‘ngă
vị’ mà một ḥa đồng ‘nhất thể’
chan chứa t́nh người, một thiết
tha không nguôi, là; cốt tủy mà
thi họa Du Tử Lê cuộn vào đó để
thành h́nh cho một tác phẩm
thuộc phạm trù của phép
nhị-nguyên. Nhị nguyên xử dụng ở
đây là phép không-phân-biệt có
tính nhà Phật cho hai trường
phái thi ca và hội họa. Du Tử Lê
cảm thông được và sắc son được
là một biến thể thuộc tư tưởng
ẩn dụ ‘metaphore’ không có nghĩa
rằng tranh du-tử-lê nặng khuynh
hướng cho một ‘metamorphosis’
như của F. Kafka. Cái sự biến
thể của Kafka là dữ kiện thuộc
tính văn học lịch sử với tranh
Du Tử Lê là bởi nghệ thuật của
chính ông –The metamorphosis of
history literature by Kafka,
with of paintings Du Tu Le by
his art. Cả hai văn nhân thuộc
trường phái chuyển động lăng mạn
(romantic movement) dù đi trước
hay sau nó đă trở thành thời
thượng đương đại. V́ vậy có
người ngắm tranh (enjoy) hay
thốt (spoke) vào tranh du-tử-lê
cho rằng nó thuộc trường phái
hủy-tạo (deconstruction) hay
phá-thể (demolish);với cái nh́n
như thế là không hay biết ǵ về
họa phái. Răng rứa? Xin nhớ cho
hủy tạo hay phá thể không biến
họa phẩm thành những mảng tách
rời mà xây dựng lại trong một
h́nh thái khác những ǵ họa nhân
phá hủy. Nó tái tạo khi nó phá
hủy –It does again as it undoes!
Bởi; nghệ thuật là một ẩn dụ
‘hóa thân’ của sáng tạo –Art is
a metaphor ‘metamorphosis’ of
the creation. Phép ẩn dụ trong
tranh du-tử-lê có hơi hướng đôi
phần của hai danh họa Antonio
Tápies (1923-?) và Jackson
Pollock (1912-1956); một ẩn tàng
cho một hoang đường (đă mất).
Nói như thế có tính chất buộc
phải, một xác quyết có tính chất
vơ đoán sự hiện hữu trong tranh
du-tử-lê? Không! đó là khiá cạnh
khách quan trước cái nh́n xuyên
thủng vào nội tâm của người họa
sĩ, nh́n vào thâm cung bí sử cho
một vật thể hiện hữu (họa phẩm).
Ở đó; chứa những ǵ và tác động
những ǵ. Rời khỏi tư duy này để
t́m thấy nội lực thâm hậu của nó
thời tất chúng ta không c̣n nghi
ngờ mỗi khi bất thần khám phá
trong đó một cái ǵ vang vọng.
Miêu tả của hội họa khác miêu tả
của văn chương. Mỗi màu sắc là
mỗi âm thanh, cái khó của họa
nhân là biết vận chuyển, uốn éo
(gesture) làm sao để màu sắc
thay lời nói và cũng có thể vận
dụng vào đó mà làm lạc hướng đi
của hội họa(?). Do đó người ta
gọi ‘nghe’ là trường phái dành
cho hội họa là thế. Thí dụ: Ở
Pollock với bức ‘Năm Dậm Sâu Đáy
Biển / Full Fathom Five’ được
dựng trước thềm Viện Bảo Tàng
Nghệ Thuật Hiện Đại ở New York
là nhấn mạnh cho một nghệ thuật
đương đại thuộc trường phái ‘hội
họa nghe, thấy’ là chứng cớ một
kỷ nguyên thời đại, đổi mới tư
duy không c̣n đi lui hằng thế kỷ
trước mà khởi sự cho một sáng
tạo là làm nên một cuộc cách
mạng văn hóa toàn diện; trong đó
hội họa là kẻ tiên phong
(avant-garde) dẫn đường đưa lối.
Cũng chẳng phải vin vào thể cách
đó để định nghĩa cho tranh du-tử-lê
mà đó chỉ là nhận định đơn
phương cho một tư duy trong một
tư duy khác. Nhưng qua hằng loạt
tranh của Du Tử Lê ít nhiều cho
thấy cái sự phá thể, ít nhiều
đượm chất cho một triết lư nhân
sinh thoát tục. Họ Lê hoàn thành
sứ mệnh đó là để ḥa nhập với
đời, một cuộc đời mang nhiều màu
sắc siêu h́nh, trừu tượng và ẩn
dụ; trạng huống đó cư ngụ trong
tiềm thức con người nhất là
những văn nhân nghệ sĩ…Với tranh
du-tử-lê gần như là hiện tượng
thuộc kiểu ngây ngô, khờ khạo
(naïve) nhưng thực hữu của
‘innocent’ là một khai sáng ban
sơ, mở đường đi vào hội họa. Mỹ
thuật (fine Art) nước ta tràn
ngập những thể loại như thế
nhưng để lại dấu tích với đời
quả là hiếm. Thành ra h́nh ảnh
trong tranh du-tử-lê là cả nghi
vấn cho những ai mới bắt đầu xem
tranh. Với tôi; thi họa của Du
Tử Lê là một sáng tạo của chữ
nghĩa và màu sắc, v́ thế một đôi
khi bắt gặp tranh du-tử-lê không
có tựa không làm ngạc nhiên, bởi;
trong thơ có họa, trong họa có
thơ; sự cớ này dần dà không c̣n
là kẻ xa lạ trước cuộc đời trong
một tâm thức phản kháng của màu
sắc, thi tứ. Phản kháng trong
tranh du-tử-lê là phản kháng
ngầm cho một biểu lộ. Nhưng phải
có cái nh́n tuyệt đối trong
đường nét hội họa; có thể trong
cái xấu là cái đẹp (tiềm ẩn)
nhưng đ̣i cho có cái đẹp thời
không bao giờ có trong tác phẩm
nghệ thuật –Le laid peut etre
beau, le joli jamais (P.
Gauguin). Du Tử Lê không mấy tha
thiết nhu cầu đó; mà đ̣i hỏi có
được tiếng động trong đó.
Vậy đứng trước tranh du-tử-lê để
ngắm hay để nghe? Như đă lư giải
một phần ở trên. Nếu hỏi cho
bằng được cái lư sự ‘nghe’ và
‘thấy’ th́ quả chúng ta lạc
đường trần của thế giới nghệ
thuật hội họa. Lư như rứa là
ṿng vo tam quốc chớ không c̣n
chi là lư luận cho một thứ triết
học nghệ thuật (hội họa). Trong
mọi lănh vực nghệ thuật cái đ̣i
hỏi xuất thần cho một đột hứng
(spontaneous) bất ngờ giữa trạng
thái tâm linh của hồn và xác,
một giao động thuộc dạng tâm
sinh lư để phát sinh sáng tạo.
Đứng đơ, đông cứng là ngoài ṿng
cương tỏa của nghệ thuật, bởi
nghệ thuật là bừng dậy qua ư
thức thức tĩnh, nhất là ư thức
nghệ thuật, là quay về (rêver
à), là mơ cái đă mất (dreaming
day). Với Du Tử Lê bắt chụp được
cái bẩm sinh để trở thành năng
khiếu.Trong tranh du-tử-lê đầy
rẫy họa phẩm thuộc hiện thực
trừu tượng / abstract
expressionist tất ông đă nghĩ
đến cái mới, cái đẹp, đầy đủ
chưa từng có và hoàn thành cho
một dự ước vô biên. Nói cho ngay;
Du Tử Lê ảnh hưởng sâu đậm như
một phẩn nộ (furious) táo bạo
trộn lẫn giữa trường phái ấn
tượng phương Tây (Westwern
Impressionism) và trừu tượng
phương Đông (Oriental
Abstraction). Nhưng Du Tử Lê
không dừng ở đây để cho tranh đi
vào thế giới trầm mặc. Ông tiêm
nhiễm qua những đam mê khác để
ḥa vào thế giới hội họa, là;
cái cần thiết của những nghệ sĩ
đi trước và dựa vào đó để thể
hiện một thứ ngữ ngôn mới cho
hội họa, xây đắp vào đó một thế
giới riêng tư. Pollock nói: ‘Chỉ
có cái dáng dấp uốn éo, lả lướt
tự chính nó tạo nên một ẩn dụ
hoang đường / Only the gesture
itself remained as a mythic
metaphor’. Đó là những đường
‘cọ’ mà Du Tử Lê đă xử dụng
trong tranh như lời bi suất.
Đúng! bởi bi suất chính là tiếng
than trầm thống, một phản kháng
nội tại, là phản kháng của con
dế, con giun, con bói cá hay bầy
sẻ nhỏ…Răng lạ rứa? Đó là bí
truyền của thi họa Du Tử Lê v́
họ Lê đă t́m thấy một cái ǵ
thoát tục từ những ǵ đông cứng,
chắc nịch, ngổn ngang, g̣ đống
là những ǵ thường được đem ra
phê nhận cái ǵ thuộc về thi ca
của họa nhân. Đi vào thế giới
thi ca cũng như đi vào thế giới
hội họa của Du Tử Lê là đưa ta
vào một vũ trụ của ảo giác thuộc
trừu tượng biến thể (metamorphic
abtraction) Là; những ǵ tuồng
như quan trọng đă nhận ra được
đối tượng của vấn đề qua vô thức
(unconscious) để đi tới hữu thức
(consciousness) mà Du Tử Lê nhận
ra sự tương quan giữa thi và họa.
Đó là biểu tượng hiện hữu trong
dạng thi họa ngẫu hứng để tạo
cho ḿnh một thế đứng riêng biệt
(self-poised) mà Du Tử Lê nhắm
tới.Tiếp cận thi họa của Du Tử
Lê đưa tôi đến gần hơn giữa
triết học và hội họa, bởi; biểu
hiện trừu tượng là của hội họa,
c̣n chủ nghĩa hiện sinh là của
triết học. Môi giới đó làm cho
tôi sống thực những ǵ trong
triết học và những ǵ trong hội
họa để lại; đặc biệt trong tranh
du-tử-lê là một biện chứng cụ
thể.
Tôi không biết Du Tử Lê dấn thân
vào con đường hội họa vào hồi
nào của năm tháng qua, nhưng;
được biết một cách chắc chắn thi
họa họ Lê đă lên đường cho một
hành tŕnh dài từ Tây sang Đông
cho tới cận Nam trên đất nước
Hoa kỳ của những buổi triển lăm
cá nhân (năm 2013). Những dặm
trường như thế Du Tử Lê để lại
nhiều ấn tượng mới cho người
thưởng lăm bằng một ư thức hào
phóng cho nghệ thuật hội họa;
tuy không phát động ào ạt cho
những lần triển lăm nhưng được
cái là tạo được một pḥng tranh
chỉnh đốn đón tiếp văn nhân mặc
khách; họ là những người khách
có mắt và tai nghệ thuật trước
những họa phẩm đương đại mà họ
t́m thấy giữa bản thân ḿnh và
chủ nhân như một ‘hoà âm điền dă’,
bởi; trong tranh du-tử-lê nặng
màu sắc siêu h́nh và trừu tượng
nhưng hoàn toàn không biên giới,
không xa lạ mà đưa ta về với
hiện thực của vô-h́nh sang
hữu-h́nh, là v́; thấy được cái
giá trị chân thật trong tranh
du-tử-lê. Tác giả của họa phẩm
không mang một hoài băo nào khác
hơn ngoài mục đích duy nhất là
cống hiến những ǵ khám phá được
trong hội họa. Đam mê đó không
ngừng nghỉ cho tới bây giờ; ở
tuổi xế chiều.
Là một đánh động thức tĩnh ư
thức về những ǵ thẩm định trước
đây cho hội họa. Rứa cho nên chi
vẽ không những chỉ cho vấn đề
của chủ đề (motif) hoặc cho việc
minh họa ngợi ca (iconography)
những thứ đó không đến với Du Tử
Lê. Họ Lê sống trong thơ tất
sống trong họa là một bày tỏ
đáng lưu ư ở những khoảnh khắc
phát tiết h́nh ảnh để sáng tạo
và điều kiện để đạt tới thành
quả. Vẽ c̣n hơn cả thông điệp
nhắn gởi v́ nó mắt cứng và phủ
đầy để trở nên một đối xứng của
người nghệ sĩ. Chuyển động trong
tranh du-tử-lê là chuyển động
của vũ khúc (the dancelike
movement) để cho tranh đi vào
tiến tŕnh bằng một sự mô tả
thông thường như thể là một kích
động đi tới tự do, thổi bậc ra
khỏi những h́nh ảnh vô thức và
cứ thế mà truyền đạt, đối thoại
cùng màu sắc với bố (canvas).
Nh́n dưới đây là một thể hiện cụ
thể:
Mở rộng tầm mắt; đưa lên viễn
vọng kính hay qua kính lúp để
t́m thấy đường cọ, sắc màu, chấm
phá, gạch nối ngược xuôi, những
chất liệu pha trộn thuần sắc,
phản sắc là tổng số cho biết họ
Lê không lấy cơ bản trường lớp
chỉ đạo để thành h́nh họa phẩm
hay ảnh hưởng những họa phái
khác hay tiếp thu bởi hoạ nhân
khác. Điều đó hoàn toàn không có
trong ư nghĩ tôi. Tranh du-tử-lê
sáng tác là thể thức độc lập,
một cơi riêng ḿnh. Để xuyên
thủng vào mạch tranh th́ dường
như tư duy đó có hơi hướng qua
từng vóc dáng, thủ thuật, điệu
nghệ của những danh họa và đă
‘lai’ vào trong dạng thể tranh
du-tử-lê. Một vài ‘bút pháp’ kỷ
hà có dạng thể của Joan Miró
(1893-1983) hoặc những mảng màu
đặc chất phá thể của Hans
Hofmann (1880-1966)… cho nên chi
tranh du-tử-lê dù ở đâu hay ở
gallery chắc chắn là ấn tượng
mạnh, bởi; đứng ở xa ta đă nghe
được tiếng ŕ rào của gió, một
đôi khi nghe như tiếng hú giữa
rừng sâu hay tiếng mưa đêm.
Người xem sẽ bải hoải, bàng
hoàng, kinh ngạc trước một tương
quan giữa ngưởi và vật thể (tranh);có
nghĩa rằng trong đó có một hệ
lụy bức xúc nghịch lư của con
người hờn căm (hostile person)
qua chiến tranh để lại, dẫu đă
phôi pha nhưng không ĺa xa để
rồi phản ảnh ít nhiều trong màu
sắc tranh du-tử-lê. Nói theo tâm
lư triết học thời đó là tinh
thần phản kháng nội tại, nảy nở
từ cảnh tượng phi lư trần gian
trước một trạng huống đổi thay
cuộc đời và xă hội (A. Camus
trong Le Mythe de Sisyphe). Tất
không thể nào không ch́m đắm
trong tranh nhà họ Lê. Đứng
trước định đề này Du Tử Lê đi
vào Cơi-Không. Đây là cơi không
của Bát Nhă, nằm sâu lắng trong
tạng thể của ‘metaphor’, một thứ
h́nh ảnh siêu h́nh trong thơ và
họa. Dặm trường của Du Tử Lê là
dặm trường của hành giả dẫn độ
tới ‘nẽo về của ư’, có thể;
trong tranh du-tử-lê là tiếng
khua động của ‘chiêng trống’
trên bước đường tùng lộ để thấy
ḿnh hiện hữu với đời, hiện hữu
với sinh tồn. Đấy là cái nghiệp
mà thi họa Du Tử Lê chấp nhận
như một Nữ Oa, như một kẻ lăn đá,
lăn hoài trên con đường cùng
(dead-end) đó là cái cơi
không-dứt-được (ksanikam) của
thời gian vô tận số. Muốn thoát
tục Du Tử Lê phải khóc như Tố
Như tiên sinh. Răng lạ rứa? Hỏi
Vicent van Gogh (1853-1890) tại
sao phải cắt tai hay tại v́ đam
mê. Bởi; cái hiện thực trừu
tượng (Abstract Expressonist)
đưa họ vào trong một ảo giác từ
tâm trí, nhập vào hồn là trạng
huống tâm lư thuần trực của
người nghệ sĩ. Từ đấy tranh trở
thành không hiện thực trong cảm
thức phản ảnh thế giới ngoại tại.
Đó là lư do làm cho người ta
thêm khó hiểu và nhận biết.
Nhưng; phải nh́n nhận tranh du-tử-lê
là lối tân-hiện-thực (New
Realism) là liên kết giữa nghệ
thuật và cuộc đời –the link
between art and life, là ḥa
nhập vào nhau để không c̣n xa lạ
giữa tranh và người mà tạo âm
thanh giữa người và tranh như
một hiện hữu; mới mong tồn lưu,
tồn lại, tồn tồn nhân thế và
cũng nhờ đó tranh truyền lưu qua
tiếng nói để trở về với hiện hữu
sống thực của tranh vẽ. Một biểu
đồng t́nh giữa màu sắc và hiện
thực do từ yếu tố của tâm sinh
lư (real physiology) mà ra.
Chỉ ngần ấy thôi cũng đủ thấy và
chứng tỏ được giá trị đích thực
của họa phái siêu h́nh trừu
tượng nhất là tranh du-tử-lê
chứa đựng hợp chất đó. Có nên mổ
xẻ ngọn ngành để xác định tiếng
nghe: của gió, của mây mưa trong
tranh du-tử-lê? Thiết nghĩ không
cần, bởi; chúng ta lănh hội,
tiếp thu đầy đủ thế nào là hội
họa, đặc biệt hội họa đương đại.
V́ vậy tôi không dàn trải điều
này. Răng rứa? –V́ nó đă có như
một hiện hữu sống thực. Nói làm
chi rứa! Càng nh́n kỹ mới cảm
thông được vai tṛ của người
nghệ sĩ. Cảm hóa được nó tất
hiểu được nó; c̣n lấy cái chuyện
‘nghe tranh’ để mà cảm hóa là
một vọng tưởng? Không! phải ư
thức về nó để có một nhận biết
về nó. Ngụy quá! Mô có; bởi
triết lư hội họa là tiềm ẩn
trong một trí tuệ siêu việt cách
riêng: phải tiêm nghiệm nó, ôm
ấp nó, vuốt ve nó, thục mạng vào
nó để nghe tiếng âm ỉ tận đáy
ḷng của cực lạc trong tranh. Cứ
thắc mắc, đ̣i hỏi tức c̣n vọng
động, lạc đường trần.Thí dụ:
nh́n tranh khoả thân mà không
thấy khỏa thân; ấy là đạo vậy.
C̣n cứ cho là khỏa thân thời
khác chi đang đứng giữa tịnh-độ
và uế-độ của cơi ta-bà thế giới
này. Không có ǵ trong cuộc đời
này là không triết lư. Tứ khoái
hay cái chết nó cũng có triết lư
của nó. Mà phải vi vu, tiết điệu
vần xoay để không c̣n vọng tưởng
mà hoà nhập. Một triết lư của
nghệ thuật hội họa như đă nói
hôm nay với thi họa Du Tử Lê là
thế đấy ./.
VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc
cuối 8/2015)
* Du Tử Lê: Tên thật Lê Cự Phách.
Sanh năm 1942, Vân Lâm, Kim Bảng,
Hà Nam (Bắc /VN). Thơ văn ông
khởi từ cuối thập niên 1950. Ông
để lại nhiều tác phẩm giá trị:
Thơ, Văn, Họa trên văn đàn trong
và ngoài nước. Ông hiện sống
cùng gia đ́nh ở Nam California,
Hoa Kỳ.
ĐỌC THÊM: ‘Ngôn Ngữ Hội Họa
qua Sắc Thái của Jackson Pollock’
trên một số báo mạng và giấy
trong/ngoài nước hoặc email về
vcl.
