vơ công liêm


THƠ TUYỂN

Của STÉPHANE MALLARMÉ

                                  gởi: gs. hoàng kim oanh.

Chân dung của S. Mallarmé / Portrait of Stéphane Mallarmé by Edouard Manet .

(Courtesy of the Louvre)

 

TỰA: Thơ tuyển là một biểu hiệu sẳn sàng cho một chọn lựa và một bày tỏ sự tôn vinh. Đó là niềm hy vọng trong tinh thần lạc quan và thể hiện tính trung thực qua cử chỉ và lời nói, được coi là việc làm lớn lao đối với văn thi nhân; điều này hết sức ngông cuồng tự nhiên. Dịch thơ là nguy hiểm táo bạo nhưng thực hiện được là chuyện khó đối với thi ca nói chung và của Mallarmé nói riêng. Nó vận chuyển vào đó một thứ đa ngữ, đa ngôn, đa nghĩa cho một hợp chất giữa ư và t́nh hài ḥa được là đạt yêu cầu, cần thiết là đả thông tư tưởng hơn tạo một sự rắc rối về ngữ điệu (gesture) để cho chất liệu của thơ không sa sút mà cô đọng trong một tư duy vượt thoát là thoát hồn để đi vào với thơ; trong lúc đó ta phải giữ lấy thể thức của tác giả cũng như ngữ điệu chọn lựa của Mallarmé nghĩa là không trong nguyên văn mà trong tư tưởng. Trái lại; ta phải hy sinh từng con chữ, từng giọng điệu là gọt giũa để có cái c̣n lại của nó. Thơ của Mallarmé là thể thơ chứa đựng một sự rối ren, phức tạp lồng trong ư và chữ thơ ; để đền bù vào đó những ǵ không thể tránh được, những ǵ chưa trọn ư của ngữ ngôn thi ca. Đấy là ư nghĩa sâu sắc của dịch thơ. Thi ca của Mallarmé là thoát tục dù là lời bày tỏ tri ân. Đa dạng của Mallarmé có thể là một phục vụ tốt nhứt bằng một trí tuệ sáng ngời với đôi tay biết ‘ḥa màu sắc’ cho thơ. Từ xưa đến nay người dịch các thể thơ khác nhau là vận vào đó tư cách xử lư đa dạng khả biến để cho thơ sống động và ḥa điệu một cách tự nhiên đúng tinh thần thơ mà không mất chất: -chính xác, rơ ràng, thể thức, ư nghĩa và thi tứ; kể cả thơ vần điệu hay thơ suông (prose). Trong tập ‘Thi tuyển và thơ suông’ của Mallarmé gồm có: -Thơ đầu tiên / Premiers poèmes. -Thời kỳ đương đại Parnasse / Du Parnasse contemporain. -Những bài thơ khác / Àutres poèmes. -Thơ mười bốn câu riêng biệt / Plusieurs Sonnets. -Tôn kính và Mồ mả / Hommages et tombeaux. Với những chương mục khác nhau bao gồm thơ và thơ suông. Tập thơ ‘Selected Poetry And Prose’ là giới thiệu sự quan tâm cần thiết của Mallarmé là cha đẻ thi ca Tượng trưng (Symbolists) nổi tiếng qua nhiều thể thức khác nhau.Thơ của Mallarmé đă chạm tới những ǵ của nghệ thuật. Những văn nghệ sĩ của ông thuở đó; ở (pháp) hay khắp nơi vẫn c̣n điếu mộ ông như một thần tượng của thi ca thời thượng. Stéphane Mallarné là nhà thơ Pháp sanh 1842 và chết 1898 ở Paris (P). Ông để lại vài tác phẩm nổi tiếng. Sinh thời ông qui tụ một số văn thi nhân tên tuổi cũng là thân hữu của ông: Edouard Manet, Paul Valéry, André Gide và thành lập nhóm tao đàn...Tôi chọn ba (3) bài thơ ngợi ca sự tôn kính của Stéphane Mallarmé cho mỗi tiêu đề chính hôm nay:

MỘ PHẦN Của EDGAR POE

Thiên thu bất tận đổi dời
Trở giấc c̣n tưởng ḿnh là người Thơ
Một trời tuyệt vọng nào hay
Buốt gươm vinh nhục thở dài vọng âm

Nỗi đau thắc ruột âm thầm
Cho nhau lời lẽ đ́u hiu bóng người
Tiếng trầm tiếng bổng ngà say
Thanh danh đâu nữa tan theo bọt bèo

Trời đất nghịch cảnh đời . thay!
Cho ta chạm nét h́nh hài thế gian
Nguy nga lộng lẫy nấm mồ họ Thơ

Đường ngăn bóng đổ âm u
Mộ bia làm dấu bên trời thiên thu
Đêm đen bất kể Thánh thần
Nát thân cho tới vùng trời mai sau.
(phỏng dịch bởi vcl. 2019)



LE TOMBEAU D’EDGAR POE

Tel qu’en Lui-même enfin l’éternité le change,
Le Poete suscite avec un glaive nu
Son siècle épouvanté de n’avoir pas connu
Que la mort triomphait dans cette voix étrange !

Eux, comme un vil sursaut d’hydre oyant jadis l’ange
Donner un sens plus pur aux mots de la tribu
Proclamèrent très haut le sortilege bu
Dans le flot sans honneur de quelque noir mélange.

Du sol et de la nue hostiles, ô grief !
Si notre idée avec ne sculpte un bas-relief
Don’t la tombe de Poe éblouisante s’orne,

Calme bloc ici-bas chu d’un désastre obscure,
Que ce granit du moins montre à jamais sa borne
Aux noirs vols du Blasphème épars dans le future.
(par Stephane Mallarmé (1876)



MỘ PHẦN Của CHARLES BAUDELAIRE

Khâu đêm chằng chịt miếu đền
Nực cười lăng mộ dẫy đầy ma trơi
Cho dù Thần chết tới nơi
Tiếng thơ bừng dậy với lời âm vang

Cho dù tối lửa tắt đèn cũng nên
Thỏa thê để dạ đớn đau một đời
Nhén lên ngọn lửa sáng ngời
Cho mắt môi bất tử . Cho tóc tha hồ bay

Lá chết bên đường vắng tiếng kinh
Đêm bám vào đêm thêm lung linh
Hư vô chạm phải đá hồng ‘Đẹp-duyên’

Voan khăn như đội tràng hoa
Xô xa bóng tối chập chờn đó đây
Che lấp độc dược bao quanh
Nhả hơi bất tử cho đời không quên.
(phỏng dịch bởi vcl. 2019)



LE TOMBEAU De CHARLES BAUDELAIRE

Le temple enseveli divulgue par la bouche
Sépulcrale d’égout bavant boue et rubis
Abominablement quelque idole Anubis
Tout le museau flambé comme un aboi farouche

Ou que le gaz recent torde la mèche louche
Essuyeuse on le sait des opprobres subis
Il allume haggard un immortel pubis
Don’t le vol selon le réverbère découche

Quel feuillage séché dans les cites sans soir
Votif pourra bénir comme elle se rasseoir
Contre le marbre vainement de Baudelaire

Au voile qui la ceint absente avec frissons
Celle son Ombre meme un poison tutélaire
Toujours à respirer si nous en périssons.
(par Stephane Mallarmé (1893)


MỘ PHẦN Của PAUL VERLAINE

Đá hờn gió cuốn tơi bời
Chấp tay khấn nguyện cho đời b́nh yên
Tợ hồ như thể niềm đau
Để cho vận số ban ơn một lần

Tiếng chim hót lạ nơi mô
Nặng vai trôi nổi t́nh đau một thời
Ṿng tay ôm lấy ngàn sao
Tương lai chín ổi một thời đă qua

Bạc mầu lấp lánh trên cao
T́m đâu ra mắt môi thơm
Hồn dă thú ngoài xa đó
Người giấu dưới cỏ hay nơi mồ Vơ-Len ?

Quá đổi thơ ngây em yêu
Miệng môi khô cạn thở hơi cuối đời
So ḍng suối không sâu . lại thêm sầu bêu rêu .
(phỏng dịch bởi vcl (2019)

TOMBEAU De PAUL VERLAINE

Le noir roc courroucé que la bise le roule
Ne s’arrêtera ni sous de pieuses mains
Tâtant sa ressemblace avec les maux humains
Comme pour en benir quelque funeste moule.

Ici Presque toujours si le ramier roucoule
Cet immaterial deuil opprime de maints
Nubiles plis l’astre muri des lendemains
Don’t un scintillement argentera la foule.

Qui cherche, parcourant le solitaire bond
Tantôt exterieur de notre vagabond –
Verlaine ? Il est caché parmi l’herbe, Verlaine

A ne surprendre que naivement d’accord
La lèvre sans y boire ou tarir son haleine
Un peu profound ruisseau calomnié la mort.
(par Stéphane Mallarmé (Janvier 1897)


VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Cuối 8/2019)

SÁCH ĐỌC: -Mallarmé’s Igitus by Robert Grêer Cohn. France / USA 1981.
-Sélection Poésie et Prose: Mallarmé, Stéphane. New Direction Book 1982.
 


 

trang vơ công liêm

art2all.net