vơ công liêm


VĂN CHƯƠNG

DƯỚI MẮT Của NIỀM TIN

 


 

          Khởi từ khi có văn tự là có văn chương. Văn chương đă t́m thấy trên núi đá qua h́nh vẽ người và thú hoặc có khi chạm trổ hoa văn, khắc đục chữ trên đá, gỗ hay sắp xếp h́nh dáng vật thể theo trí tưởng để tạo ‘con chữ’. Ngữ ngôn của văn chương có từ cổ Ai Cập và dạng chữ biểu hiện qua lối tạo h́nh để thành văn ở Trung Hoa vào những thế kỷ đầu và các nước cận đông; từ nhịp thở đó ngữ ngôn văn chương sống dậy qua trí năng để phát biểu những sự lư cuộc đời hay c̣n gọi là lư thuyết thuộc về văn chương (theoretical) với những sáng tạo để có một ngữ văn độc lập phù hợp với tiếng nói mà từ xưa coi như một thứ ngữ ngôn chết (dead-language) một thứ ngữ ngôn không nói ra được, tức bất thành văn, trái lại; ngày nay coi như là một ngữ ngôn sống (living-language) trong đời thường của con người. Thành ra ngữ ngôn văn chương mỗi lúc thêm phong phú và đa dạng mang lại tính sáng tạo và đả thông tư tưởng giữa người viết và người đọc. Nói đến văn chương là nói đến một tổng hợp rộng lớn, bao hàm những ǵ tri nhận nơi con người, là ‘biển chữ’ nó bao la vi diệu, chứa đựng một tư duy trong sáng và phát huy, nó tiềm tàng trong một trí tuệ siêu việt để thành h́nh cho một ngữ ngôn văn chương (The Language of Literature). V́ vậy; văn chương không thể đứng riêng một cơi của ḿnh mà là một truyền thông đại chúng; hợp t́nh hợp lư để thừa nhận cho một văn phong đúng đắn. Văn chương không buộc phải nêu ra mà tự nó đă được nêu ra và t́m thấy. Chữ nghĩa là phát tiết của tư duy, nhưng phải biết vận dụng ngữ ngôn để không lệch hướng, nghĩa là nghĩ một đằng viết một nẻo làm cho văn chương có một sự giả thiết hơn là chứng thực. Đó là lư do t́m thấy ở tŕnh độ kiến thức nhận biết đă phản ảnh qua ngữ ngôn. Văn chương là tiếng nói xác định bản vị của con người là sáng tạo và hiện thân (Creation and Incanation). Bởi; văn tức là người ngay cả thi ca, hội họa hay kịch dù là trường phái hay khuynh hướng khác nhau đi nữa nó vẫn chứa một ‘hồn thiêng’ trong đó; ở dạng này nó trở nên đông cứng và cục bộ (concreted) trong năo thức, có thể là bẩm sinh, có thể là thói tính du nhập vào hồn; kết tụ trong tế bào máu mà sinh ra biến chứng khó thanh tẩy (brain-wash). Nói ra có tính phân tích thuộc tâm sinh lư học, nhưng; thực tế nó là một tồn tại cố hữu; có thể do từ chủ quan hay do từ cái ‘ta’ mà phát sinh những luồng tư tưởng cố vị. Điều này không lấy làm lạ cho những ai mượn tiếng văn chương để phô diễn hơn là mô tả dù là chuyện kể cho một kư sự, thậm chí viết hồi kư hay tùy bút không chuộng vào ngữ văn mà chuộng vào sự hiện diện cá thể cho một bản ngă tự tại; th́ đó đâu phải là văn chương chứng thực mà đưa văn chương vào ngơ cụt. Văn chương là khai sáng từ tâm thức của con người, mở đường cho một triết lư nhân sinh gần như giáo điều tôn chỉ có qui cách hướng tới luân lư đạo đức hơn là dựa vào văn chương để trở nên ‘đạo văn’. Cơ bản của văn chương là đi vào mắt để có niềm tin trung thực của nó –Literature Through the Eyes of Faith; đấy là văn chương chân chính của người viết và người đọc. Không thể nghĩ khác hơn mà làm suy thoái nền văn học hiện đại hay là mượn chữ nghĩa để công kích văn chương (?).

 

Rứa th́ văn chương là cái chi? -Trong văn chương; con người là một trải nghiệm qua ư nghĩ –In literature; people try out ideas. Có một vài câu hỏi đưa ra để nhận thấy những ǵ có trong văn chương? Những ǵ mà người đọc cảm nhận được trong đường lối của văn chương. Hay đây là viễn cảnh cuộc đời mang một ư nghĩa thâm hậu của cuộc sống? Hay chỉ là ngữ ngôn hấp dẫn, đẹp đẽ, gợi ư mà tác giả sắp đặc vào nhau như một định hướng? Rứa th́ răng ! -Khi đọc một văn bản chính yếu là đưa chúng ta vào một thế giới hiện thực –Reading bring us into the real world. Ngữ ngôn đó thuộc về văn chương sáng tác có văn bản không tùy thuộc vào độc quyền cố vị để đưa đến một lănh vực không sống thực. Mà ở đây đ̣i hỏi một ư nghĩa trọn vẹn và chứng thực. Là những lúc; chúng ta đọc để t́m thấy một sự ǵ đặc biệt trong cuộc đời như chúng ta nhận biết qua cấu trúc, thiết kế, dàn dựng của lối hành văn, một giao thông chuyển tải qua lối diễn giải (interpret) với một kinh nghiệm truyền thông những ǵ chân lư của sự thật. Văn bản thuộc về văn chương là không đơn thuần chỉ vào một sự sáng tạo trong hư cấu, nhưng; ở đó cũng được coi là phương tiện, một điều động vào nhau của ngữ ngôn, cái mà chúng ta thường được dùng để thực hiện như một tác động cụ thể và tích cực: khi đưa ra vấn đề xă hội, vấn đề luân lư hoặc từng cảm nhận nơi con người. Bài viết là một công cụ cho tác động –A piece of writing is a tool for action, Và; chính trong tác động (của người viết) đă đem lại những suy nghĩ khác biệt về đời sống, có thể giữa tác giả và độc giả. Thành ra viết văn là phản ảnh và đi đúng đường lối chủ nghĩa của ngữ ngôn văn chương.Phải thực mới vực được đạo c̣n bằng không chỉ là đùa với chữ, chẳng để lại ǵ cho văn chương.
 

Nói thực th́ mất ḷng, bởi; tư duy chủ quan, phát tiết hỗn độn, nghĩ sao viết vậy theo lối ăn chắc mặc bền mà vẫn cho đó là văn, thứ văn đó là dạng thức của hùm-bà-lằn, bầu cua cá cọp, ta bà thế giới; tạo thêm g̣ đống ngổn ngang thời không thực để vực được đạo. Nguy hiểm và thương tổn đến văn chương. Xưa nay đều thế; văn có niêm luật như thơ, nghĩa là có phẩm trật của nó, có đầu có đuôi, có mệnh đề (tức nhập đề, thân bài và kết luận) chuẩn mực mới thành văn. Văn chương ngày nay theo lối phóng tác hơn là sáng tác. Nghĩa là dựa vào sự kiện để diễn giải qua một ngôn từ không có ‘bản lề’, thậm chí pha tục hay xử dụng từ điển cố, điển tích không đúng chỗ làm mất duyên cho câu văn. Thời nay gọi văn hoa hơn: ‘văn-chương-vi-tính’ ư gián tiếp nói đến văn chương thời đại hay c̣n gọi là văn chương mới (nouveau litérature); nghĩ sao viết vậy để tạo hiện tượng chữ nghĩa cho nên chi lên xuống bất thường không tạo nên cảm thức giữa người viết và người đọc.Vi tính có cái lợi ích của nó nhưng đừng lạm dụng để bẻ cong ‘ng̣i bút’ hùa nhau để ‘gơ’ cho kịp thời sự và nhai lại những ngữ ngôn phường chèo, không thấy đâu là lư thuyết văn chương mà chẳng thấy đâu là lư sự vấn đề, để rồi bế môn tỏa cảng, lạc lối về, lung tung chi điạ. Bất quá; quên luôn cả chính tả hay văn phạm; đến nổi những bản văn như: kư sự, ghi chép, truyện kể, dịch văn trật cả ngày tháng và chủ đề muốn nêu ra; thế mà văn chương vẫn chấp nạp. Vi tính có cái bất lợi ở chỗ đó. Răng rứa? -V́; đón nhận dễ dàng hay phong tỏa bởi một hoàn cảnh nào đó. Để rồi đưa tới lạm phát tư tưởng, ngữ ngôn và văn phong. Văn chương là con đường đi tới thực chứng, một thực chứng dành cho lịch sử là vai tṛ đại diện rốt ráo nền văn học hôm nay và mai sau. Người ta dựa vào văn chương như một chứng tích để xác thực sự hiện diện của tồn lưu nhân thế, tồn lại thế gian và tồn lập muôn thuở. Đánh giá văn chương không phải là giá trị sản lượng mà giá trị thành phẩm, tức nói lên cái cốt tủy chân lư của nó. Do đó; người viết văn hay người làm thơ chưa hẳn đó là một xác định chân lư cho một lư thuyết nêu ra mà phải kinh qua một kinh nghiệm dài lâu mới mong xác nhận đó là văn gia hay thi gia. Chớ ngang xương mà cho ḿnh là nhà văn, nhà thơ th́ quả là hàm hồ, vô căn cớ không đúng chủ trương đường lối xă hội chủ nghĩa văn chương mà đi ngược trào lưu nhân thế. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ lớn trên thế giới ít khi nhận ḿnh là văn sĩ, thi sĩ; mà chỉ có đời tuyên dương họ, thời đó là lư tưởng và nghĩa vụ làm nên sự nghiệp cho ḿnh; dù chỉ một tác phẩm mà thôi!
 

Chúng ta sẽ suy lư ra rằng viết và đọc của văn chương là thể thức tác động về con người, như vậy th́; nó có một khả năng nói lên những ǵ tốt và xấu trong mọi tác động của chúng ta. Văn chương, nghệ thuật, âm nhạc lớn lao, vĩ đại điều đó chưa hẳn phải bảo đảm cho một xác định mà đó là những ǵ người ta chiêm nghiệm để đánh giá và có thể cho đó là một tác động làm nên; dù cho xưa nay đă được đề cao hay xưng tụng. Ở đây; chúng ta vận dụng vào tiềm năng nơi con người để khám phá giá trị của nó cũng như những ǵ có lợi ích, thích thú đập vào mắt người đọc do từ tư duy vận động của người viết. Nhưng; chúng ta cũng không thỉnh cầu văn chương biểu hiện vẻ đẹp thẩm mỹ và ḷng khoan nhượng vị tha trong cái sự độc hữu đưa tới ở chính nó (unto itself). Tác phẩm của văn chương là một dự phần của lịch sử. –Like all human action; words of literature are a part of history. Tất cả là tác động con người đều được ghi nhận như lịch sử tính; đưa tới những chuyện thê thảm và hăi hùng khốc liệt mà đó là sự thật được kể lại một cách đẹp đẽ và hào hứng. Từ chỗ đó vai tṛ của văn chương là chứng nhân (dù là hư cấu) phải thực như ư tưởng, nghĩa là để lại dưới mắt người đọc một sự lư thuần nhất dựa vào lịch sử mà tạo thành. Văn chương tự nó đă có lịch sử, qua tư duy về những ǵ biến động, thảm họa hay bi thương của từng thế kỷ; không thể cho văn chương chỉ để viết thành văn qua diễn tả sự t́nh hay hư cấu sự t́nh và định nghĩa một cách đơn thuần mà trong mọi suy diễn đều đưa tới một chứng thực của con người qua từng đối tượng cũng như thời gian là tư liệu để xây dựng cho một cấu trúc thành văn giữa người và vật. Khi nêu ra như thế tức đặc câu hỏi trước vấn đề. Rứa th́; văn chương là cái chi? và tại sao phải để mắt vào viết và đọc? Bởi; có những biến đổi khác nhau qua thời gian không thể bỏ qua được mà phải lấy văn chương để nói nên lời và phải hiểu một vài điều của lịch sử, của những ư nghĩ hiện đại về nó –ought to understand something of the history of modern ideas about it. Đấy là sự cớ đặc biệt quan trọng cho những khi thảo luận, đối chất giữa viết và đọc mà như thể là h́nh thức tác động của con người. Lư lẽ này có đưa chúng ta đến gần với văn chương? Hay đây chỉ là vấn đề đặc ra? Sự thật của văn chương là ở thế pḥng thủ (Literature on the Defensive). Bởi; trong lịch sử văn chương mới đây thường bắt gặp ở tự nó một sự đối kháng đến khoa học mà phải có một thẩm quan hiện đại văn chương là những ǵ chúng ta phải thừa nhận để chế ngự những ǵ của khoa học nằm trong văn hóa của chúng ta. Nói như rứa có vơ đoán cho một dự phóng giữa văn chương và khoa học? Không! nền khoa học tiến bộ gần như áp đảo vào một nền văn hóa không có tính thực tiển; khoa học đặc vào đó một tiêu chuẩn của sự thật trên căn bản của khoa học kỹ thuật hơn những ǵ thuộc văn hóa dự tưởng là những ǵ không c̣n là siêu lư quan trọng cho xă hội hiện đại. Hiện diện của khoa học hiện đại có từ tk. thứ mười bảy và tk. mười tám. Cái đó là cái nh́n thực thể hiện đại chớ thực ra nền văn hóa (văn chương) đă hiện đại hóa trong quá tŕnh dài lâu; có văn hóa mới có khoa học chớ không phải khoa học tạo tác ra văn hóa. Văn chương nói chung là đương nhiệm của sự thật. Giả tưởng của J. Verne là một dự phóng vào tương lai. Thi ca Nguyễn Du là phản ảnh trung thực có tính khách quan của khoa học nhân văn là lư thuyết chính đáng. Không thể cho đó là tư duy giả tưởng. Đó là thứ văn chương ẩn dụ; một siêu h́nh của ngữ ngôn văn chương. Nhớ cho!


Trở lại ‘cái rứa th́’ của văn chương? -Là viễn cảnh cuộc đời có ư nghĩa cho đời người với những tuyệt tác để đời trong khi người viết đă đưa vào đó một đường lối cụ thể chân chính và mang lại một tri nhận sâu xa giữa con người với con người, giữa tác phẩm và tác giả. Viết là miêu tả sự thật dù là hư cấu nhưng phải chứng thực và đặc vào đó một thế giới trung thực hơn là ảo tưởng. Dưới con mắt người đọc nh́n nhận hư cấu không c̣n là hư cấu mà chính sự thật là do hư cấu làm nên. Ngọn bút phóng khoáng hay không là do tâm địa của người viết. Định hướng của văn chương là phơi mở và chứng nhân sự thật.


Ở phần trên chúng ta có nói đến ‘Ngữ ngôn của Văn chương’ là phát biểu bởi tư duy, là tiếng nói của tâm thức qua văn chương. Sự lư này nghe ra mơ hồ trừu tượng. Nhưng thực tế những tác phẩm liên can tới văn chương là thái độ tùy nghi được diễn giải theo ư ḿnh với những dữ kiện khác nhau, xuyên qua những ǵ mà tác giả dùng như phép ẩn dụ hoặc một kiểu cách phóng túng về lối diễn tả. Ở thi ca và tiểu thuyết hay kịch; người viết tuồng như nhận thấy với chữ nghĩa có vài điều khó tránh được mà cho đó là lối hành văn của chữ nghĩa tạo thành và không thể làm ǵ hơn trong ngữ cảnh (contexts) mà cốt hành văn cho thêm phần trong sáng. Ngữ ngôn văn chương dính dáng tới óc tưởng tượng thường được coi đó ngôn ngữ của dự phóng, một ẩn dụ do cảm nhận cho một đặc quyền ở thể loại ngữ ngôn này –The imagination use of a language of metaphor and feeling and has special rights to this kind of lanuage. Nhưng tất cả những ǵ đều được vẽ lên trong văn chương bởi những ǵ xác nhận là có dính chùm trong một ngữ ngôn đặc thù. Ngữ ngôn văn chương tuồng như một thứ bí truyền (esoteric) và không thích nghi (irrelevant) trong đời sống. Đôi khi cảm nhận của người viết khác cảm nhận của người đọc là lẽ thường.Thí dụ: Người đàn bà có cái bớt nơi mặt thường cho là người đàn bà xấu (v́ cái bớt đă chế ngự toàn thể cái đẹp) ngược lại nhờ cái bớt mà làm cho người đàn bà đẹp và thêm duyên. Đây là sự phân biệt giữa thích hợp và h́nh ảnh ngữ ngôn; cái đó cũng là giả thiết hoặc sau đó có nhiều lư lẽ khác nhau để cho chúng ta đặc niềm tin về những ǵ tự nhiên của ngữ ngôn văn chương. Quan trọng ở chỗ là phải thực mới vực được đạo; c̣n bày đặc, kê khai những điều không thực hoặc lư giải vớ vẩn, đặc điều hoàn cảnh xă hội hay nhân t́nh thế thái vào trạng huống bi thảm, pha tính đùa cợt những thứ đó phải xét lại một cách chỉnh đốn mới thành văn, chớ hô sảng cho đó là truyện ngắn, truyện dài, kư với tản làm mất danh dự cho văn chương. Điều này đă thấy trên một số báo mạng và giấy (hay tại văn-chương-vi-tính lấn áp) mà một số văn nhân trẻ ngày nay thường xử sự lối viết như thế một cách vô tư. Sự cớ đó đẩy văn chương vào vũng tối thuộc lănh vực văn hóa. Nhưng; không thể tránh được dưới con mắt của người đọc, bởi; văn tức là người nó hiện nguyên h́nh nhân cách của người viết. Thí dụ khác: Anh A học hành chưa tới nơi nhảy ngang qua học vẽ, học vời. Anh B lỡ ông, lỡ thằng, lắm bon chen như anh A, đâm ra viết văn làm thơ: thơ th́ ù ĺ, văn th́ ba chớp. Đọc những đoạn kư sự nửa như kể lể nửa như b́nh giải (thơ) lung tung chi điạ; cả hai anh không đi đúng qui tŕnh của văn chương th́ làm răng gọi là văn chương bác học. Anh C học có bằng cấp, chứng chỉ mà viết về văn chương b́nh dân vẫn chưa rành rọt và cường điệu đúng ngữ ngôn văn chương. Hai dẫn dụ trên là một chứng minh bi thảm cho trào lưu văn chương đương đại; nhưng giữa A B C có sự khác biệt về tư duy, một đằng do bẩm sinh hay thiên tính, một đằng ‘nói cho lắm tắm ở lỗ’ là chỗ đó. Thành ra đối với văn chương phải có con mắt xuyên thủng để đặc niềm tin. Phải rốt ráo trong cụm từ: tư-tưởng, ngữ-ngôn và văn-phong mới đánh giá được thế nào là văn chương và không văn chương. Qua nhận xét trên cho chúng ta một xác định cụ thể vai tṛ của văn chương phải có ‘phép tắc’, lề lối, một diễn tŕnh đưa tới thực chứng của lịch sử và nhân văn dù viết dưới dạng thức nào đều thể hiện được đặc chất của nó. Mà đây là một ư niệm phù hợp chung, giữa cái từ ‘đích thực, hợp lư/proper’ là một bày tỏ sự thật trong dạng thức sự kiện và cái từ ‘bóng bẩy, đỏm dáng/figurative’ là một bày tỏ cảm nhận riêng tư thay v́ phản ảnh đúng vị trí chức năng của ngữ ngôn văn chương. Giữa hai cái từ này đều là giả thiết cho một ngữ ngôn văn chương mà thôi. Như thế là hậu quả của những ǵ nhận xét bén nhạy, khác biệt giữa hai thể loại của ngữ ngôn –As a consequence of this sharp distinction between two types of language. Đó là những ǵ xẩy ra mà chúng ta đang sống trong thế giới hiện đại, một thế giới tân kỳ của từng bộ môn, nó không đóng khung trong một tư duy chật hẹp, vẩn đục hay cổ lỗ sĩ đề rồi đưa văn chương dậm chân tại chỗ không cải tổ hoặc không làm mới cho ngữ ngôn văn chương. H́nh thức đó là giết văn chương không gươm dao; chớ đừng nói: ‘v́ văn chương mà ‘tôi’ phải sưu tập, bảo tồn không thời bị lăng quên’. Nhận xét như thế là bi quan trước thời cuộc, đi ngược với thời gian hiện đại.Văn chương tự nó đă có và t́m thấy. Đấy là nguyên nhân đưa tới ‘văn-chương-vi-tính’ là điều không thể chịu đựng được cái tàn tích cố cựu mà buộc ḷng phải khởi nghĩa qua một ngữ ngôn ‘phóng đăng’ hơn. Rứa th́ thế giới văn chương hiện đại làm cái chi? -Làm cho tinh vi hơn, biểu lộ một thói quen thường tách xa những ǵ thuộc ngữ ngôn ẩn dụ (chính trong văn chương đă hiện ra điều này) và từ những cái đó chúng ta suy ngẫm ra sự thật của cuộc đời; mà coi đây là nghĩa cử của miêu tả hoặc lối đối xử đặc biệt đầy hiện thực của đời người. Ngược lại; cái thứ ngữ ngôn đỏm dáng chỉ giúp vào đó một sự thiếu khả năng thê thảm, tệ hại mà thôi –Figurative language is held to be woefully inadequate. Tuy nhiên; không vin vào đó để xác quyết thế nào là đích thực, thế nào là đỏm dáng. Văn chương đ̣i hỏi thực chứng cho dẫu là sự kiện trong hư cấu. Mà phải thực sự. Dĩ nhiên; văn chương là óc tưởng tượng phong phú không phải điều đặc biệt để dùng như một ẩn dụ và chúng ta có thể trắc nghiệm sự phát triển này có thể có ở những nhà thơ (việc ẩn dụ ngữ ngôn thường xẩy đến), nhưng khác với ngữ ngôn văn chương là khai phá vào đó để nhận biết về vai tṛ ẩn dụ trong văn chương; có thể chất chứa một sự ǵ sâu thẳm qua nhận thức của chúng ta về diện mạo của nó và chức năng trong tất cả thuật ngữ của ngữ ngôn văn chương. Những sự lư nêu trên biểu lộ sự trung thực của văn chương giữa viết và đọc.


Nói rút lại chúng ta tiếp tục giữ ǵn văn chương trong một viễn cảnh, bởi; văn chương có một hạn hữu của nó –Literature has its limites and we need to keep its value in perspective. Là suy xét hai điều thật rơ rệt để hiểu được những dữ kiện nghịch lư trong đó. Thứ nhất; rất ít người đọc một cách thấu đáo tác phẩm đă dựng nên trong lư lẽ văn chương mà đọc như một tác động hạn chế, họ không đọc văn chương như một giảo nghiệm. Thứ hai; cho dù những nhà văn thơ lớn đă để lại những tác phẩm độc đáo người ta chỉ đọc trong sự thỏa măn hoặc đưa tới khoái cảm mà người ta đang sống hoặc coi đó như tác phẩm dành cho nghệ thuật. Trong lúc có một thứ văn hóa khác không thể viết thành văn những thứ đó chỉ có ở tác phẩm nghệ thuật (họa và điêu khắc…) những vật thể đó chỉ tùy vào ư niệm của ư nghĩa và sự giải bày –all cultures produce works of art that depend on the concepts of meaning and interpretation. Những tác phẩm như thế trú ngụ trong trí tuệ hay trong kư ức hơn là viết thành văn để sản xuất và tiêu dùng cho những ǵ thuộc ngữ cảnh của văn chương; mà là những ǵ thuộc hiện tượng vũ trụ. Hiểu được giá trị của văn chương và nhiều đường lối quan trọng khác th́ đó là điều tạo ra sự khác biệt trong đời sống của chúng ta và tiếp tục giữ trong trí tuệ của chúng ta về hai bề mặt nhận thức và hiểu biết cho một tổng thể phổ quát của văn chương (the universality of literature) là nơi ngự trị trong tâm hồn người viết và chắc chắn là thể loại để viết thành văn trong mọi hoàn cảnh, thời gian và nơi chốn qua các thời kỳ của tiền hiện đại văn chương hay hậu hiện đại văn chương. Đấy là niềm tin xuyên qua mắt người đọc ./.

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. đầu tháng 12/2016).
 

______


ĐỌC THÊM: -“Phân tích trong Văn chương”/ -“Viễn cảnh Hậu Hiện Đại”/ -“Ư thức mới trong VHNT”/ -“ Mạch văn Cấu trúc và Phân tích trong Ngữ ngôn Văn chương”/ -“Văn chương và Con người”. Những bài trên của vơcôngliêm hiện có ở một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc l/l theo điạ chỉ email.

 


 

art2all.net