VĂN THƠ QUA CẤU TRÚC, NGÔN NGỮ
Và HỌC TẬP Về VĂN CHƯƠNG
Nói đến văn và
thơ là một thứ văn chương đầy năng lực –Literary Competence. Nó có một hấp dẫn
lạ kỳ ngay cả việc chuyển dịch ngữ ngôn về hai lănh vực này. Phải thấu đáo và
sâu sắc để lănh hội ư và t́nh của tác giả th́ việc đó mới đạt yêu cầu; bằng
không chỉ là công việc lư giải theo công thức hoặc hóa giải nó như một thứ hóa
trị (chemotherapy) để điều trị chớ không nói rơ tinh hoa cô đọng trong văn thơ
mà tác giả muốn nói tới cho một chủ đề nêu ra và ở đó c̣n là một phạm trù của
văn chương. Cho nên chi việc dịch hay dẫn giải không thể suôn và cũng
không thể sát, không chừng làm sai cả ư lẫn lời. Ngay thi ca cổ điển của
Trung Hoa đă vượt thời gian quá dài với một cấu trúc gần kề với thi ca Việt Nam
mà vẫn chưa đả thông tư tưởng một cách rốt ráo, huống là văn chương nước ngoài;
dẫu đă dày công tu tập ngoại ngữ, kể cả ở trong ḷng ‘đất địch’ chữ nghĩa bao la
vô tầng số. Thời tất sự đó khó mà đạt trọn vẹn, chưa nói tới hồn thi văn nhân,
dẫu cho cùng ngữ ngôn cũng c̣n bế tắc bởi ngữ ngôn đa dạng, đa h́nh huống là một
thứ thi ca hay văn chương ẩn tàng trong dạng siêu h́nh thời khó chuyển vận một
cách sáng tỏ hay chuyển hóa một cách trung thực qua từng con chữ. Muốn thông
thoát cần có một trí tuệ tinh tế và hài ḥa giữa tác giả và người đọc là đ̣i hỏi
thoát (nghĩa và chữ) là trung ḥa (media) cho phương tiện truyền thông giữa tư
tưởng với tư tưởng. Muốn thoát cần phải tỉnh ngộ (meditation) thời mới bắt chụp
ư và hồn của tác giả, c̣n dịch theo từng con chữ th́ việc đó gọi là vọc-chữ:
‘không sao đâu / no star where’ th́ có khác chi ‘nồi một đ̣i úp vung mười’ mà
coi đó là h́nh dung từ của mỗi con chữ cho hợp cảnh tự trào; đó là thứ ngữ ngôn
của ‘thuộc điạ mới’; đồng thời lập lại cái bí tỉ không lối thoát, để rồi rơi vào
t́nh trạng hết sức tồi tệ (down the plughole), làm cho mạch thở độc đáo của thi
nhân hay văn nhân đứng lại một cách bất ngờ. Ngần ấy cũng đủ để nhận thức về nó;
mà việc này đă cuốn hút từ mấy thế kỷ qua và cho đến nay nó trở thành ‘trường
phái’ thi văn thời thượng. Georg Baselitz (1938- ) họa sĩ Đức nói: ‘The work of
art becomes real in the mind of the artist; and it stays in the mind of the
artist’ (Tác phẩm nghệ thuật trở nên thực trong trí của người nghệ sĩ và nó nằm
trong trí người nghệ sĩ) Một câu nói khác của Luwig Wittgenstein (1889-1951)
triết gia Anh nói: ‘To understand a sentence means to understand a language. To
understand a language means to be master of a technique’ (Hiểu được một câu văn
nghĩa là hiểu được một ngữ ngôn. Hiểu được một ngữ ngôn có nghĩa là làm chủ một
kỷ thuật).Vậy th́; công việc trước tác của văn chương cũng như cơi phi của thi
ca là một vận dụng trí tuệ để đưa ngữ ngôn của văn chương vào cơi riêng vừa có
tính đặc thù vừa có tính đa dạng. Nhiệm vụ của dịch thuật là nắm vững nồng cốt
mà tác giả muốn mô tả, là một phản ảnh nội tâm muốn bừng dậy trong một khà năng
vượt thoát. Dịch giả phải thoát mới làm chủ kỷ thuật dịch cả ư lẫn lời.
C̣n nói dịch là dịch th́ khác chi nói mắm là mắm là nửa vời chưa tới đích của
dịch thuật. Kiểu thức đó chưa hẳn phải là dịch giả cho một tác phẩm dù tác phẩm
đó ít ai biết tới. Rởm!
Mỗi khi người phát ngôn thành tiếng th́ tiếng nói đó nghe như có tiếng sóng
trong ḷng, một âm vang kéo dài triền miên –When a speaker of a language hears a
phonetic sequence; là điều mà người ta có thể cho nó một ư nghĩa, bởi; nó mang
lại hành động của việc truyền thông, một diễn tŕnh của ư thức và vô ư thức hiểu
biết. Là một sự thành thạo của những ǵ thuộc ngữ âm học: cú pháp (syntactic) và
những ǵ thuộc chữ nghĩa ngôn ngữ (semantic); đó là hệ thống thuộc ngôn ngữ có
thể người ta chuyển đổi âm thanh trong một cách riêng biệt và đồng hóa cho một
cấu trúc được miêu tả và một nghĩa lư đưa tới việc hành văn của từng câu văn . Ở
đây không nói tới sự ẩn tàng của hiểu biết mà ở đây nói đến quốc tế hóa của ngữ
pháp, thời cái đó được coi là cấu trúc –To speak of the structure of a sentence
is necessarily to imply an internalized grammar that gives it that structure.
Nói về cấu trúc của câu văn là cần thiết đưa tới ngụ ư trong một ngữ pháp quốc
tế hóa, đặc vào đó một cấu trúc đồng bộ hợp lư và vững chắc, là chuỗi liên tŕnh
giữa văn và người đều hiện nguyên h́nh dưới con chữ. Đọc một văn bản như văn
chương là không làm cho trí tuệ của ta trở nên thứ lớp hay đi qua từng chương
mục mà đọc để thấy ở đó một nội dung chất chứa t́nh và lư như một định đề lư
luận, vậy th́; bố cục câu chuyện là dàn dựng cho một họa đồ kiến trúc chữ nghĩa…
trong những câu văn ngắn dài đều lồng vào đó một sự ẩn tàng ư tưởng mà tác giả
muốn nói tới, thành ra dịch một tác phẩm ‘thành danh’ là điều nghiêng chiều sâu
ư tứ của tác giả, dẫu có thoát đi chăng nhưng sát với ư văn là nhu
cầu đ̣i hỏi người dịch phải thực hiện đúng nguyên văn (sic), thời gọi là đả
thông tư tưởng mà trong đó cảnh trí và nhân vật hợp với tập quán dân tộc; ấy là
thuật ngữ văn chương (literary terminology); là điều người ta mang đến một sự
hiểu biết ẩn tàng không làm cho độc giả nghi ngờ, ngay cả những ǵ thảo luận về
văn chương, đồng thời nói cho người ta những ǵ đang t́m kiếm. Nhưng; t́m kiếm ở
đây là học tập (study of literature) về văn chương; đấy là cơ bản để dựng truyện
hay dịch truyện thêm phần sống thực giữa tác giả và người đọc. Nói cho ngay ;
dịch th́ ai dịch cũng được, kể cả những bài thơ cổ hay kinh kệ cũng chừng đó chữ
và nghĩa nhưng trúng ư thơ và truyện là chuyện không dễ tiếp nhận và tạo hứng
thú là việc khó cho vấn đề chuyển ngữ, bởi; quá cứng nhắc trong con chữ không
linh động để ‘điều ḥa không khí’ vô h́nh chung tạo ra bầu khí quyển ngột ngạt
(ná thở); linh động ở chỗ biết thần thông biến hóa con chữ cho hợp phong thổ là
cần; nói con-chữ cho đúng nghĩa là dáng-thơ (figure of poetry) hay c̣n gọi là
điệu-thơ (gesture of poetics) là cả một tập hợp sâu sắc, thâm hậu giữa ư và lời
một vận dụng trí tuệ để đưa thơ văn siêu thoát và vượt ra cơi ngoài (beyond) tức
cơi-không của thi văn nhân. Ấy là chuyện phải đạt tới.
Dẫn ở đây lối dịch thơ tuy cổ điển nhưng chất chứa một ngữ ngôn trong sáng và đầy sáng tạo chữ nghĩa.
Bài thơ dưới đây của Francois Villon: ‘Ballade des Dames du
temps jadis / Bài hát Các bà thuở trước’. Bài thơ chia ra ba phân đoạn luận với
bốn câu cuối dưới tựa ‘Nhắn gởi / Envoi /Sending’:
… … …
Envoi
Prince, n’enquerez de sepmaine
Où elles sont, ne de cest an,
Que ce refrain ne vous remaine:
Mais où sont les neiges d’antan
Francois Villon (1431-1463)
Bản dịch Anh ngữ của thi sĩ Dant Gabriel Rossetti :
… … …
Không chỉ nơi đây / Nay / denial
Nay, never ask this week, fair lord,
Where they are gone, not yet this year,
Save with this for an overword –
But where are the snow of yesterday?
Dante Gabriel Rossetti .(1828-1882)
Bản dịch Việt ngữ của gs. Trần Ngọc Ninh
… … …
Gởi
Hỏi làm chi hỡi minh quân
Hoa tàn lá rụng mây vần gió bay
Tuyết xưa giáng xuống nơi này
Hương trời sắc nước tháng ngày phôi pha
Trần Ngọc Ninh (1923-)
Lấy đoạn thơ cuối của bài thơ ‘Bài hát của Các bà Thuở trước’ với ba tác giả để
phân tích cái sự chuẩn mực của dịch thơ; nó không cưỡng ép cung cầu; cả ba lối
dịch ḥa nhập vào hồn của thi nhân, ưng ư vô cùng; bởi dịch ‘trúng tim đen’ của
nhà thơ. Ở đây nó hàm chứa cốt tủy của từng con chữ ; ‘Mais où sont les neiges
d’antan’ (F.Villon) / But where are the snow of yesterday? (D.G. Rossetti) /
Hương trời sắc nước tháng ngày phôi pha’ (T.N. Ninh). Gió nơi đâu gượng mở xem?
(N.Trăi). Có cái ǵ bức xúc trong việc chuyển dịch ? có cái ǵ phải nắn nót con
chữ ? có cái ǵ sai với trái của lời thơ ?. Dịch như thế mới là dịch thơ. Thi sĩ
xử dụng chữ ‘mais’ vừa là liên từ vừa là giới từ như một nhấn mạnh vào cái hạn
hữu thiên nhiên, dĩ nhiên; mais là non một nghĩa khác là alors là thời gian chỉ
định cho nên chi Rossetti phải đặt dấu hỏi (question mark) là một nhấn mạnh của
hôm qua cho con chữ d’antan. Với giáo sư họ Trần th́ siêu lư hơn: ‘…tháng
ngày phôi pha’ th́ không xa với d’antan và of yesterday. Đáng
chú ư hơn bài thơ dịch của giáo sư họ Trần bằng thể 6/8 rất chuẩn của thể thơ
Đường luật. Nó chuẩn ở chỗ là đúng tựa đề đưa ra, miêu tả cảnh thiên nhiên sống
thực, đó là một dàn trải con chữ, một cấu trúc chữ nghĩa vững chải. Biết vận
dụng con chữ là ở chỗ đó; đó là ngữ ngôn thi ca, nó có một chất lượng sáng tỏ
vừa dung thông, vừa đả thông không c̣n chi phải vướng con chữ mà làm mất khí
tính của nhà thơ. Gần đây có một nhà thơ muốn dịch thơ sang Anh ngữ ư muốn phổ
biến rộng răi trên toàn cầu; trong lúc đó một số dịch giả đă dịch tựa đề nghe
như kiểu ‘no star where’ vật lộn con chữ một cách thê thảm. Rút cuộc vẫn chưa đả
thông với ‘khách nước ngoài’ huống hồ một tập thơ dày hơn 100 trang, thời làm
sao đi vào với toàn cầu. Rởm!
Thế nhưng họ vẫn làm cho đạt ư thật là lắm công phu cho việc
chuyển dịch. Cho thí dụ khác: Trên vai gánh vác sơn hà (sơn=núi, hà=sông) hay
trên vai nặng nợ núi sông, quá lắm th́ gọi là trách nhiệm non sông (shoulders)
nó rơ ràng như ban ngày, dễ dàng để điều tiết việc chuyển dịch; nếu được dịch
tựa đề tập thơ, thiết nghĩ phỏng như thế này: ‘On the shouder. Oh! our country’
thời nó dễ hiểu với mọi người; hà cớ ǵ phải đem lên bàn mỗ cho dài vấn đề. Nh́n
chung th́ cùng một dạng như nhau chả có ǵ là đặc thù ngôn ngữ cho tác phẩm thơ
mà tác giả kêu cứu như muốn giải thoát (enlightenment) nỗi uất ngẹn từ bấy lâu
nay. Thực ra chỉ là lời tha oán của loài chim cuốc, mỗi khi gáy nghe như ‘quốc
ơi’ đó thôi. Tiêu đề chưa hẳn nói lên ḷng yêu nước một cách chân chính, chẳng
qua chỉ là lời phủ dụ mượn tiếng thi ca…
Đọc thêm bài cổ thi của vua Trần Thánh Tôn. Một bài thơ t́nh rất thâm trầm, ư
vị:
Cung Vân Xuân nhật Ức cưu
Cung môn trần yếm kinh sinh đài
Bạch trú trầm trầm thiểu văng lai
Vạn tử thiên hồng không lạn mạn
Xuân hoa như hứa vị thùy khai
Trần Thánh Tôn (1240-1278)
Ngô Tất Tố dịch lại như sau:
Ngày xuân trong Vườn ngự nhớ Người cũ
Cửa ngơ lờ mờ dấu bụi rêu
Ch́m ch́m ngày bạc vẻ đ́u hiu
Đầy vườn rực rỡ hồng chen tía
Hoa khéo v́ ai vẫn nở nhiều ?
Ngô Tất Tố (1894-1954)
Bài cổ thi khác của thi nhân Trung Hoa Vương Duy; ‘Vị Thành Khúc’
Vị thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.
Vương Duy . (699 AD- 761 AD)
Bùi Giáng chuyển dịch như sau:
Vị Thành mưa sớm mù tăm
Cơi miền bụi ướt thấm đầm ngơ thuôn
Quán mờ liễu thắm xanh buông
Mời anh cạn chén rượu buồn tiễn chân
Tiền Tŕnh quan ải tây phân
Đèo truông ra khỏi cố nhân không c̣n.
Bùi Giáng . (1926-1998) Mùa xuân trong thi ca.
Hai bài thơ tượng trưng nêu trên của hai nhà thơ đă tạo nên một lối phóng bút an
nhiên tự tại, bày tỏ một thái độ độc lập của con chữ một cách phóng túng đưa
chúng ta về cội của ḍng tư tưởng thi ca Việt Nam; nó đạt tới cơi đạo vô ngần
của ngôn ngữ, so ra lối dịch đă vượt xa của những ǵ đă dịch trước đây. Nó phá
đi cái qui ước chuyển dịch để không c̣n thấy dịch, nó ăn khớp vào nhau để hợp
thành một cấu trúc không c̣n là của người khác mà ở ngay nơi ta. Dịch thơ vừa
chuyển hóa vừa chuyển thể để biến thơ thất ngôn hay lục bát trở thành thể thơ tự
do; phá cách để t́m thấy tự do cho hồn lẫn xác; là chân tướng, là khí phách, là
đồng cảm giữa người làm thơ và người dịch thơ; bởi nó đứng trong phương tŕnh
nhị nguyên nhưng một. Có lẽ trong cơi phi của thi ca họ đă t́m thấy một sự hài
ḥa cho nhau. Nhưng khó ở chỗ là vẽ lên một con đường nhất quán cho một thi sĩ
không tên tuổi để cảm nhận được sự khác biệt của nhận biết cho một thứ ngôn ngữ
của thi ca, nhưng; cái sự đó là việc chuyển dịch nó không là một thứ chủ đề tổng
hợp –but that translation is not a thematic synthesis. Mà hiệp thông cùng với
thơ là chủ yếu.
Thơ văn là văn chương. Gérard Genette (1930-2018) Lư thuyết
gia và cấu trúc thi văn Pháp . Ông nói: ‘nó giống như mọi hoạt động khác của trí
tuệ là dựa trên qui tắc của những ǵ trong đó với một vài thứ ngoại lệ, khác
thường, nó không c̣n là cảm thức nhận biết’ –like any other activity of the min,
is based on conventions of which; with some exceptions, it is not aware (Trong
thi ca khác đời P.116/258 / On baroque poetry). Vậy th́ người ta có thể nghĩ về
những ǵ qui ước hay ước lệ không phải giản đơn như một thứ nhận thức mà nó có
dấu hiệu ẩn tàng trong văn thơ, chính trong cái sự ẩn tàng là một h́nh dung từ
không c̣n nghi ngờ, nhưng; cũng là ẩn ư sự hiểu biết của tác giả. Làm thơ hoặc
làm văn là lập tức gắn liền với thủ tục văn chương, một nghi thức không buộc
nhưng trở thành buộc cho qui cách của ngữ pháp, với thơ ở trường phái nào nó cần
có tác phong ngữ điệu của thơ để cho thơ thoát tục một cách hồn nhiên, với văn
th́ đ̣i hỏi một văn phong chuẩn mực, có đầu ḿnh và chân tay cho một dàn dựng
gọi là cấu trúc, có rường cột, có thủy chung và có hậu. Viết văn đứt-hậu hay
vô-hậu là thứ văn chương ‘bầu cua cá cọp’. Bởi; nó chẳng có cấu trúc để thành
văn, chẳng phải ‘lên lớp’ học tập, chẳng phải ngữ ngôn hợp cách để thành h́nh
văn chương; dạng đó gọi là đột hứng (spontaneous) một thứ ngữ ngôn va-ga-bông.
Chắc chắn; tất cả những qui ước đó, có thể xâm phạm vào và đưa tới suy yếu. Chọn
lựa con chữ (thơ), câu (văn), giữa những mô thức khác nhau như nhận định (b́nh),
như biện chứng lư luận (triết) thời tạo được căn bản cho mỗi bộ môn, tạo một chỗ
đứng cách riêng cho một thứ văn chương độc đáo là hiện đại hóa giữa kỷ nguyên
này. Gọi chung là thời thượng , thời của ánh sáng văn chương: có nghĩa rằng văn
chương đ̣i hỏi sáng tạo để đi từ cũ sang mới. Tất chúng ta thiết kế cho một cấu
trúc (structuralism), ngữ ngôn (linguistics) và tiếp thu về văn chương (study of
literature) là chúng ta thực hiện trọn bộ cho cuộc hành tŕnh đi vào với văn
chương ngày nay trong những bộ môn khác nhau. Người ta có thể t́m thấy cái rất
lạ về ư nghĩ của thi nhân –One would find very strange the notion of a poet
saying, chẳng hạn như bài thơ Vị Thành Khúc. Thi sĩ Bùi Giáng ‘chơi chữ’ một
cách siêu thần; ông dùng từ thuôn /buông/truông thay v́ Tây xuất Dương Quan mà
dùng Tiền Tŕnh. Từ ngữ như vậy không lạc qui cách dịch thơ mà thi sĩ đang sống
trước hoạt cảnh của thiên nhiên, nghĩa là không ‘tức cảnh’ mà ḥa nhập cùng với
thi nhân như đang lên tranh thủy thái họa, qua những chấm phá trên lụa, nḥa vào
đó cái sắc tố (hue/color) của thuôn, buông, truông; sự đó là nói bóng gió nhưng
cái thâm hậu khác của thơ là cảnh biệt ly giữa thời gian và không gian quyện vào
nhau là lúc tư duy đă vượt ra khỏi cơi ngoài của ngữ ngôn. Bất cứ kinh nghiệm
nào trong thi văn là sự hài ḥa nhuần nhuyễn, là tạo một thứ lớp của con chữ mà
người ta có thể t́m thấy ở thơ, văn như một qui cách thông thường. Bởi như thế
này; nhà thơ, triết gia P. Valéry(1871-1945)viết: ‘là một tác phẩm là có những
thứ bên cạnh đời một tác giả /is the work of many things besides an author’. Cho
nên chi thói tính của thi ca là thứ hợp thức của kư hiệu (the logic of symbols),
một cơ năng phát sinh ra thi ca; đó là thẩm quyền của nhà thơ nó không thuộc của
đọc giả, nhưng; đó là cơ bản của thể thức văn chương –but; the basics of
literary form. Tuy nhiên; vẫn c̣n có nhiều lư do khác nhau trong việc dựng
chuyện (truyện) hay tạo con chữ (thơ) cũng chưa hẳn phải là qui cách để thành
văn thơ mà chủ động để làm cho văn chương mới hơn.
Tóm lại cấu trúc là trở lại một nhận định sáng suốt có thể đưa tới nhiều mô thức
khác nhau của việc chuyển dịch (interpretation) là căn cứ vào thi ca và coi việc
chuyển dịch là một đường lối diễn giải cho một tác phẩm đă hoàn tất hoặc đă suy
tàn; phương cách c̣n lại nơi chúng ta là cảm hóa của mọi thứ để được trở về
trong nguyên lư của văn bản, nghĩa là ra khỏi những bức xúc, những trói buộc mà
thoát tục để thơ văn tự do hơn, không bị lối kéo bởi ngoại quan mà làm suy tàn
một tư duy sáng tạo. Sự ǵ gọi là trào lưu cấu trúc: -lư thuyết cấu trúc
(structuralism) là minh định và phân tích cơ bản trong tác động tâm lư và khoa
học và là một trở lại viễn tượng phê phán và những ǵ thuộc lư thuyết khuôn khổ
trong cùng sự phê phán hay khám phá những ǵ trong tác phẩm dựng lên; nhưng để
tŕnh bày lại định đề về thơ hay truyện đă được luận bàn là phương thức của
những ǵ đọc tới là nhân tố quyết định cho việc định hướng đường lối xây dựng
văn chương, đó là một năng lực (competence) được phục hồi trong thể cách cấu
trúc thơ văn. Chính yếu trong việc học tập về văn chương (the study of
literature) là khái niệm về cấu trúc (the notion of structure) nó có một vai tṛ
thuộc về mục đích lư luận (teleological): dựa trên ba cơ sở để có một xác định
cụ thể và sáng tỏ là thừa nhận như một định h́nh, định dạng mà những thứ đó là
một đóng góp , bổ sung vào con đường đi tới thứ văn chương mới, một thi ca vượt
thoát, đào thải những tàn tích cố cựu những ǵ c̣n ứ đọng, cổ lỗ sĩ không chịu
buông tha, cứng cựa để tạo một chân lư vĩnh cửu; vô bổ nó trở nên nhai lại sau
những năm tháng lao nhọc. Đây là thời kỳ ánh sáng của văn chương. Quên đi cái cũ
mà dựng vào cái mới; nó vừa giải thoát vừa là cách mệnh văn hóa đúng thời đại kỷ
nhuyên mới hôm nay.Vậy cấu trúc chủ nghĩa là bố cục lại để kiện toàn
-contributes to this end-, là gánh vác một phần ở giai đoạn nảy; không c̣n bí tỉ
việc dịch thuật, không c̣n e lệ với con chữ mà trung ḥa để bước vào thời thượng
./.
VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. giữa tháng 7/2019)
SÁCH ĐỌC:
- ‘Structuralist Poetics by Jonathan Culler. Cornell University Press USA 1975.
-‘On baroque Poetry’ by Gérard Genette.Seuil. Paris 1966. France.
- ‘Tuyết Xưa’ của Gs. Trần Ngọc Ninh. Khởi Hành Xuất Bản. CA. USA 2002.
ĐỌC THÊM: -‘Cái chết của văn chương và thi ca’ / -‘Văn chương vượt thoát’ –‘Ngôn
ngữ của thi ca’ / -‘Nhà thơ con người tâm bịnh hay là nghệ sĩ thoát tục’ / -‘Ca
dao và Thi ca’ / -‘Chân dung tự họa I / Chân dung tự hoạ ̀I’ / -‘Tính chất siêu
thực trong thi ca của Thanh Tâm Tuyền’… Những bài đọc trên hiện có trên một số
báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đă ghi.