vơ công liêm

 

 Ư THỨC VŨ TRỤ II

 

Tranh Bửu Chỉ

 

           Đó là lối nh́n phóng ngoại vào như nhiên, một cái nh́n ở cơi ngoài của không gian vô biên. Gọichung là ư thức vũ trụ / cosmic consciousness. Hầu như gây nên một ấn tượng gợi cảm bao la hùng vĩ, một sự thể thuộc tinh thần của con người, trong trí tuệ, và; trong kinh nghiệm thi ca nó luôn luôn hiện hữu –The most impressive fact in man’s spiritual, intellectual, and; poetic experience has always been.

 

Thực ra sự đó chưa hẳn phải thỏa đáng để gọi tên cho kiểu thức của kinh nghiệm mà nó nằm trong phạm trù của không gian và coi đó như thể là một cái ǵ thuộc tính chất kỳ bí làm đảo lộn vào nhận biết của con người giữa một thế giới khác biệt hoặc một ư thức trừu tượng, mơ hồ của thượng đế và thiên thần. Mà gọi nó như h́nh thức thuộc tinh thần (spiritual) hoặc thuộc về siêu h́nh (metaphysical) th́ may ra hợp lẽ, bởi; nó chỉ là một sự gợi ư chớ nó cũng không phải là cụ thể cực điểm và thuộc về tâm sinh lư. Chính nghĩa lư của ‘ư thức vũ trụ’ ở tự nó không có chi là mùi vị của thi ca ngay cả ngữ ngôn ẩn dụ, nó là ‘tế bào’ gây ra từ trí tuệ để nhận thức nghĩa siêu lư về nó, giữa vũ trụ quan và con người đang đứng trước một sự ngạc nhiên, sững sờ đang lúc chiêm nghiệm cho một nhận thức thấu đáo. Nhưng đứng trên lăng kính của lịch sử và văn hóa, thời tất chúng ta được báo cáo đây là một điều có thể coi như là xa vời thực tế (mông lung, huyền ảo), c̣n đứng trên lập trường thị hiếu quần chúng th́ thừa nhận nó như một qui luật đă định, hoàn toàn ngẫu nhiên và ngoài ư muốn; từ những ǵ không hiểu thấu về ư nghĩa của nó. 

 

Vậy cho nên; độc đáo ở chỗ là khai mở để tỏ ra nó như một sanh khí sống động và bao trùm một cách chắc chắn. Đó là vũ trụ, một sự kết tủa chi li, chính xác và trong tất cả hành tinh liên kết, cục bộ, dính chùm vào nhau như một gắn bó hữu cơ của vũ trụ, không thiếu, không thừa cho một sáng tạo tinh anh. 

 

Kết hợp của vũ trụ, trong đó có con người và sự vật được coi là minh định hợp lư và hoàn toàn đúng như cần có để giải thích được nó hoặc biện minh cho sự cố là có thực, là những ǵ ở cơi ngoài hiện ra đầy đủ và tác động một cách linh diệu cho vấn đề được xem là hiện hữu tồn lưu. Từ hiện tượng vũ trụ đă du nhập vào trí năng (sinh ra sáng tạo), một trí tuệ được đánh động phi thường (wonder-struck) ở cái chỗ tự minh định (self-evident) và tự cho là (self-sufficient). Một sự thể thích nghi, xứng đáng như sự thể vốn có, bao gồm những ǵ cho là b́nh thường và suy ra nó có một giá trị vô hạn hữu. Đấy là điều không thể t́m thấy một lời lẽ ǵ để phủ nhận sức mạnh vô biên đủ để bày tỏ sự vi diệu và thiện mỹ của kinh nghiệm. Nó minh bạch đến nỗi cho ta cảm hóa vào sự ḱ diệu của thế giới dành riêng, chỗ chứa trí tuệ của văn thi nhân; cái sự đó đă lan tỏa, tràn ngập và là mệnh lệnh xâm nhập vào trí tuệ của thi ca. Nó trở nên một thứ văn chương thông suốt, nhưng; đúng hơn đó là ư thức thuộc cá thể tùy vào cảm thức trước vũ trụ như nhiên và hiện hữu để đón nhận bởi một vài điều có thể là vô lượng lớn lao hơn những ǵ đă có. Giữa những tận cùng suy tư vẫn cho đó là không đúng như kinh nghiệm đă trải qua, bởi; nó hiển nhiên như ‘đây là thế –this is it’ hoặc là ‘nhận ra –insight’ ; sự đó như trực nhận đến bây giờ, một cảm thức giải thoát nhạy bén –a sense of intense relief cho tự do và soi rọi, thường là những ǵ không hiểu thấu. Bởi; nó có một sự mê ly, quến rũ (ecstasy) là sự cần thiết một cách nhất thời đối kháng trong một giao động triền miên vào cảm thức nơi chúng ta, nhất là thi nhân đă nhập hồn vào như nhiên để sống thực, nhưng; thực của ư thức chính là ư thức vũ trụ, một điều kiện dễ dàng và thuận lợi để điều tiết cảm thức nhận biết trong một chiều hướng c̣n lưu lại giữa hôm nay / now. Chỉ đủ gọi ‘nó / it’ là không giống–trong khi chúng ta thường dùng từ ngữ để biểu thị sự tối thượng hoặc một tuyệt đối chính xác hoặc cao độ thực chứng hoặc những ǵ mà chúng ta luôn luôn t́m kiếm hay khám phá sự bí mật tuyệt đối giữa vũ trụ và con người. Sự này không phải là cảm thức vô tính, chỉ là vật thể hữu h́nh mà thôi, nhưng; đôi khi vẫn c̣n mang lại nhiều điều trong sự sống và những ǵ bao la cách xa con người. Đấy là tất cả những ǵ chúng ta thường nói một cách đơn giản ‘ông trời’, bởi; chúng ta không có từ nào cụ thể để minh xác.Thật là điều rất khó để t́m thấy đúng nghĩa chân lư về nó cho những ǵ qua kinh nghiệm bày tỏ trong ngữ điệu của văn hóa, tôn giáo và xă hội (con người). Cuối cùng; con người nh́n đến vũ trụ là đỉnh cao tối thượng thừa; nhất là lănh vực tôn giáo đi tới ‘tuyệt đối’ là giải thoát (enlightenment); đó là con ngườiđang trực diện với vũ trụ, khép ḿnh trong tư thế đón và nhận. Đón nhận là nghĩa cử của hy sinh(sacrifice) đối với người Cơ-Đốc giáo (Christian) và cho đó là bí truyền / mystic, đấy là điều mà con người luôn luôn ở trong trạng thái bị động nguy hiểm để rồi đâm ra đối kháng, đối kháng trong tư duy lấy chính thống giáo để bao che. Từ chỗ đó con người đă tập trung vào tọa độ của Thượng đế là đấng toàn năng và đâm ra sợ hăi giữa tội ác và vô tội. Giải cái sự cố này là vấn đề nhiêu khê giữa vũ trụ và con người. Con người đi tới tuyệt vọng, bởi; trong vũ trụ là cả bí mật siêu lư, cảm nhận được siêu lư đó chỉ có thi ca giải thoát và t́m thấy con đường sáng của vũ trụ. Văn chương chưa lột tả sự thật tuyệt đối của vũ trụ mà nằm trong một giới hạn riêng biệt của những ǵ ngoài giới hạn con người (thần thoại hay trong giả sử truyền kỳ). Thành ra ư thức vũ trụ một phần trong đó như khích lệ, tạo ra có thực và như cơi thiêng liêng ‘far-off divine event’ để tín ngưỡng, nhưng; với tiến tŕnh của chúng ta về thế giới bên ngoài tuồng như điều bất khả tri để chấp nhận nó là hiện thực –dù là hiện thực. Qua kinh nghiệm nhận thức th́ cho đó là kỳ diệu, tuyệt hảo cho một tương lai hào hứng và sống động của vũ trụ kỳ quan.

 

Phiá nhà Phật nh́n vũ trụ quan như con đường giải thoát: ‘ư thức có nghĩa rằng tôi đă bị ám ảnh bởi cuộc đời là miên viễn / consciousness that I possessed eternal life then’; người tu Phật thực hiện những ǵ mà trong đó : ‘tất cả mọi thứ là có trong cơi Niết-bàn có từ khi rất sớm / all things are in Nirvana from the very beginning’. Rốt ráo; của chính đạo là những ǵ cho đó là giải thoát (enlightenment) và thức tỉnh (awakening) th́ sự cớ đó chưa hẳn phải là / mà là ; cũng chẳng phải là nghi thức tụng niệm mới của vấn đề tu tập. Đạo Phật chủ trương ư thức tâm năo (consciousness and mind) để đi vào tánh không (nothingness) tức thuộc về vũ trụ như nhiên. Phật giáo truyền thừa tuyệt đối khai trừ giáo điều kinh điển (Bồ Đề Đạt Ma) mà phát huy tâm linh để đi vào triết lư chân-như tức ư thức vũ trụ, nhưng; thừa nhận về những ǵ luôn luôn hiện hữu –but; the recognition of what always is mà trong đó chúng ta đang giảo nghiệm. Siêu lư của tôn giáo không nói về đạo mà hiểu về đạo. Thí dụ: đi chùa hay đi nhà thờ chưa phải là yêu Chúa, kính Phật mà đ̣i hỏi cái tâm tự tại. Cho nên chi ư thức vũ trụ là thừa nhận một hiện hữu sống thực. Nhờ thế mà không ‘chấp trượt’, nhờ thế mà chúng ta tu tập để ngăn ngừa, không chấp nạp (screen-out) để đi tới thuần chất với cơi như-nhiên. Những ǵ đưa ra không phải là tùy nghi với qui luật của cuộc đời. Hẳn nhiên thị chúng (chúng sanh) gần như tổng quan của nhận thức. Sự đó rất chi là hạn chế của ư thức mà ư thức vũ trụ là góp phần trong đó sự vĩnh cửu. Nếu cho rằng kinh nghiệm về ‘ư thức vũ trụ’ là điều không thể nói được hay giải bày một cách chính xác; mà nó chỉ là một cố gắng ‘thốt’ ra những ǵ mà không nói được hoặc cho đó là biện chứng nằm trong cảm thức truyền đạt hoặc đề xuất vấn đề. Diễn tả là bày tỏ qua kinh nghiệm nhận biết nhiều hơn là quát tháo mà vấn đề chưa thấu triệt. Chỉ có một lối duy nhất diễn tả qua thi ca hơn là luân lư, dù cho không hẳn là thi ca trong cảm thức mà nêu ra những ǵ có tính chất luân lư, đạo đức. Con người sẽ nhận ra cảm thức của bản ngă hoặc tự kỉ ám thị gia tăng để trở nên một vũ trụ riêng ḿnh, trong khi đó những mong muốn khác sẽ cảm thấy như mất đi cái chính ḿnh và những ǵ c̣n lại cho một bản ngă riêng tư (ego) thời tất không hiện hữu với vũ trụ mà đi tới nhận thức trừu tượng (abstraction); từ chỗ đó những ǵ được gọi là nhận thức vũ trụ sẽ được miêu tả ở chính bản thể con người như một sự phong phú vô tận. Sự cố đó đă đẩy con người cách xa với vũ trụ loài người, ngay cả vũ trụ ngoại giới. Hiếm thấy sự kiện đó qua miêu tả sự thực hay qua kinh nghiệm mà không có chuyển hóa (metabolize) hay trao đổi phẩm chất; sự thể như thế có thể đưa tới lầm đường, lạc lối nếu đưa vào văn chương, bởi; ngữ cảnh của văn chương là ḥa nhập vào vũ trụ giới để thích nghi và sống thực giữa cảnh quang, nghĩa là ḥa nhập trọn vẹn trong tư duy giữa ngoại giới và nội giới bằng không biến văn chương trở nên phù phiếm, tách khỏi ư thức vũ trụ. Xem những sơ thảo của Bernard Berenson qua ‘Chân dung tự họa/Self-portrait’ đă để lại đó một thông điệp giản đơn và sáng tỏ. Bởi; tácgiả ḥa nhập giữa hồn và xác,‘giao lưu’ trong một vũ trụ dị biệt. Cũng như vô vàn nhà thơ khác đều dung thân trong một trạng thái bất biến để nhập vào vũ trụ quan mà thành h́nh ư và lời như trường hợp Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu hay những nhà thơ đương đại du thân vào vũ trụ quan để thấy ḿnh trong một ư thức mới của vũ trụ. Cái sự đó được coi một phần của thỏa đáng vô tận bằng mọi thứ. Tuồng như trong mọi cách nh́n là đến trong sự tiếp nhận đúng nghĩa của dữ kiện, xuyên vào một hiện hữu mong muốn không chừng sẽ là điều bất toàn như cơi người ta; được hay không được ‘to be or not tobe’(Shakespeare) tương tợ những ǵ trọn vẹn và không trọn ‘perfectly/ imperfect’ là lư sự của cuộc đời.

 

Đi vào ‘ư thức vũ trụ’ là một tư duy tràn đầy ư và lời, đưa vào đó một tâm thức vô hạn hữu giữa cơi ngoài (beyond) và cơi trong (inmost) là một kết hợp cố hữu như hành tinh không gian. Con người dự cuộc trong ‘không gian’ để t́m thấy sự thật –the vision is true: một sự thật luôn luôn nằm trong cùng một phương diện –a truth is always in relation to a point of view. Cấu trúc của vũ trụ hiện ra có một tương quan hữu cơ (organ) gây ra cảm thức và năo bộ trong chúng ta. Một biến đổi khác sẽ cho chúng ta nhận ra sự trung thực của vũ trụ là xuất hiện ở đó một sự mờ ảo không thực dưới h́nh ảnh của ảo giác (schizophrenic) hoặc là trí tuệ bị hỏa mù dưới kỳ quan vĩ đại của vũ trụ bao la (?). Tuy nhiên; gần như không ít ngạc nhiên đặc thù qua kinh nghiệm là nhận ra rằng đây là bước khởi đầu không thể nói thế giới đó là ‘đúng’ mà có đúng chăng là sự khao khát b́nh thường trong chúng ta, nó trở nên một hiện hữu phi lư, nếu như con người nắm bắt được th́ sự thế khác hẳn ra; đ̣i hỏi duy nhất là nhận biết, cái đó gọi là tâm thức, ḥa nhập vào ư thức vũ trụ để thành h́nh trong tư duy của chúng ta…

 

Rút lại; Những ǵ đă đề cập có thể là tranh luận chống lại hoặc đồng t́nh cho một sự thật tuyệt đối của ‘vũ trụ’ kinh nghiệm. Đấy là dựa trên cơ bản như nhiên chớ không coi đó thuộc hệ thống của năng lực (energy) mà có thể cho đó là một tuyệt hảo tự kiểm soát (self-controlling) nhưng không thể ngưng chuyển động. Kiểm soát là cầm giữ và điều độ sự chuyển động, kiểm soát luôn luôn là mối tương quan giao cấu vào nhau để tạo nên một chuyển động b́nh thường và điều độ luôn vạn vật, ngay cả hành tinh trái đất. Với con người là một chuyển động có chừng mực là tương xứng vào những ǵ vốn đă hoài nghi, khước từ; sự thật của vũ trụ là cảm thức nơi con người hoặc cảm nhận trong sự khâm phục, có lẽ; sự đó là một biểu hiện cụ thể h́nh ảnh qua ảo giác của biến động vũ trụ (extreme catatonic). Mặc khác; nó điều ḥa giữa vũ trụ và con người để có niềm tin trong đó, của cái gọi là buộc phải con người thừa nhận cái ǵ ngoài kiểm soát và cái ǵ không biết rơ về vũ trụ; ‘niềm tin’ đó chính là cái siêu lư vũ trụ trong dạng thể vô cùng tận của những ǵ cho đó là xa vời không cần biết ở chính nó, mà phát hiện ở cuộc đời chỉ qua một niềm tin tự dưng; sự đó có thể t́m thấy nơi văn thi nhân một cách tương xứng của cái nh́n vào vũ trụ, tạo nên một ư thức vô biên mà trong hảo huyền là cái sống thực tâm hồn dưới mắt con người nghệ sĩ, không c̣n xem vũ trụ là xa lạ mà nó trở nên hợp lư cho một ư thức vô biên giữa con người và vũ trụ; thế nhưng sự hạn chế đó là b́nh thường qua ư thức bằng một cảm thức vị ngă (ego-feeling). Nhưng; nhớ cho tư duy đó không những chỉ mà luôn luôn, bởi; -it is subordinate to absence ofrestriction, to movement and faith; nó là phó sản dưới dạng vắng mặt của sự giới hạn. Một chuyển độngvà niềm tin. Không một nơi chốn nào tuyệt đối để cầm giữ nó hay lột tả tận cùng bí mật vô biên về nó. Chỉ đến trong một giới hạn của ảo tưởng mà thôi, tuy nhiên; đó là nhận thức trong một cảm quan giữa vũ trụ và con người: không dị biệt, không ngưng nghỉ một điều ǵ thông thường và vô tận ./.

 

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Cuối 9/2018)

 

 

ĐỌC THÊM: ‘Ư thức Vũ trụ I’ của vơcôngliêm hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo điạ chỉ


 

trang vơ công liêm

art2all.net