|
MÙA BÔNG G̉N
Đang giữa mùa hạ, nhưng thời tiết luôn se lạnh như vừa chớm thu suốt mấy hôm tôi lang thang ở thành phố này. Nơi nào quanh mấy dốc đường quen cũng lăng đăng bay những đốm bông mong manh, bàng bạc như cả vùng đồi đang lúc tan sương. Muôn ngàn sợi tơ mầu tro bạc huyền hoặc, to nhỏ đủ h́nh dạng, lơ lửng chao bay miên man, vương vất suốt đoạn đường dẫn đến cổng nghĩa trang. Có lẽ đă hơn hai năm rồi, cội g̣n duy nhất c̣n sót lại ở dốc rừng ven đường, mới lại miệt mài thả bông nhiều như thế. Trong nghĩa trang, tơ bông bay như những cánh hoa mây khói được liên tục rải rơi suốt quăng hành hương qua các ngă phù vân.
Tưởng cũng ra đi giữa mùa hạ, năm ấy mùa đến muộn nên lúc xe đưa Tưởng qua đoạn đường đồi đó, cây g̣n cũng đang thả bông. Vài tuần sau, mùa hạ như đột ngột dứt, mưa dầm, phố ẩm ướt, hàng maple sau nhà xanh xao vàng vọt, lá rơi rụng khắp vườn. Cây cối quanh phố càng lúc càng xơ xác, tàn tạ hơn. Đâu đâu cũng áo năo ảm đạm, không gian luôn mờ trong màn mưa đục. Thời gian thừa thăi vô tận trong căn nhà rỗng không, u uất. Tôi héo hắt cằn cỗi theo từng ngày dài khô lạnh, lẻ loi. Bàn ghế trong nhà lúc nào cũng mơ hồ nhập nḥa các bóng h́nh quen nhưng không c̣n âm thanh rộn ră của những ngày quây quần hạnh phúc cũ. Tất cả đă vời vợi xa xăm. Cái lạnh xa người bây giờ tôi mới biết[1]. Đâu đó ngoài thềm như luôn có tơ bông vẩn vơ bay, la đà, lơ lửng; vẫn cùng tôi bềnh bồng hiện hữu, chưa bị cuốn hẳn vào vũng cô đơn thẳm sâu của mảng đời đen bạc. Ở một khoảnh khắc nào đó, tôi từng nhận thức cuộc sống và cái chết cũng mông lung như nhau, đă có lúc thấm thía khi suy diễn ư nghĩa thâm sâu của câu viết đă được lập lại hai lần trong tác phẩm văn chương Le Boujoum “(L’homme) en tant que fragile objet, retenu au-dessus d’une gouffre, par les fils abstraits de l’espérance”[2]. Phải chăng những sợi tơ trừu tượng tiềm ẩn hy vọng, luôn huyền bí cứu vớt các trầm luân của con người trong kiếp nhân sinh bẩy nổi ba ch́m? Gió vẫn reo vô thường trên những ṿm cây maple đă long lanh sắc vàng thu.
Thời gian đầu, tôi rất sợ ở nhà một ḿnh. Dường như trong
nhà thỉnh thoảng vẫn c̣n tiếng lao xao của nhóm y tá, tạp vụ tới lui nhiều
lần trong ngày. Âm thanh hỗn độn đó đôi khi c̣n vang rơ hơn vào đêm khuya
khi tôi chập chờn ngủ. Tiếng nói chuyện, tiếng khua động lách cách của những
lọ thuốc, ống chích chạm vào nhau. Các câu hỏi đều đều phải lập đi lập lại
v́ người bệnh quá mệt mỏi, không tha thiết trả lời hay đă quá mụ mị không
c̣n tinh tường để đàm thoại. Những lúc ấy, tâm trí tôi lại mồn một h́nh ảnh
Tưởng ngồi giữa mọi người nhưng luôn ủ rũ cúi mặt hay chỉ lặng lẽ nh́n vô
hồn vào một khoảng không nào đó, không để ư đến ai. Đă bao lần tôi kiên
nhẫn, nhẹ nhàng nắm tay chàng, từ từ nhắc lại những câu hỏi của họ bằng
tiếng Việt. Chỉ lúc đó, đôi mắt lạc thần của Tưởng mới chậm răi quay nh́n
tôi rất lâu, như để định thần, trước khi từ từ yếu ớt trả lời ngắn gọn, vừa
đầy đủ ư nghĩa, vài câu hỏi giản dị.
Đoạn đời khốn khổ, đau buồn mấy năm vừa qua, bỗng chốc
lại quay nhanh qua kư ức tôi.
Bệnh hoạn như định mệnh cay nghiệt, vừa bất ngờ được phát
hiện đă dứt khoát khẳng định t́nh trạng vô phương cứu chữa. Vài năm trước,
Tưởng t́nh cờ biết bị ung thư tuyến tụy, giai đoạn cuối, sau khi trải qua
cuộc giải phẫu tương đối khá phổ biến ở người cao tuổi để đặt ureteral
stents[3]. Chao đảo trong tột cùng lo sợ nên ngay sau khi rời văn pḥng bác
sĩ, tôi đă lên mạng t́m thông tin về bệnh của Tưởng và đọc khá nhiều tài
liệu; nhưng chỉ c̣n nhớ đại khái các điểm quan trọng như: ung thư tuyến tụy
di căn nhanh khi bệnh được phát hiện, thường vào lúc t́nh trạng đă đến giai
đoạn cuối; Và cũng luôn gây nhiều đau đớn hơn các loại ung thư khác khi bệnh
nặng, đă di căn ra các mô hay bộ phận lân cận.
Từ đó, cuộc sống của chúng tôi đă tràn như cơn lũ, lúc
nào cũng dồn dập các biến động căng thẳng, nên tâm trí chúng tôi luôn trong
t́nh trạng hốt hoảng, sợ hăi, bất an. Bác sĩ chăm sóc sức khỏe của Tưởng lúc
bấy giờ là một người gốc Việt, bác sĩ Tŕnh, từng là sinh viên y khoa ở quê
nhà trước khi đến Mỹ khoảng đầu năm 1980. Ông ta được giới thiệu, qua người
thân của Tưởng, là một người chu đáo, sẵn sàng thỏa măn các yêu cầu của bệnh
nhân khi kê toa thuốc và luôn sốt sắng viết giấy giới thiệu đi khám bác sĩ
chuyên khoa hay chụp h́nh quang tuyến ở những nơi ông ta quen biết. Bác sĩ
Tŕnh cũng là vị bác sĩ đồng hương duy nhất của Tưởng từ khi chúng tôi nhập
cư vào đất nước này hơn 20 năm trước. Tưởng thường kể, sau mỗi lần khám bệnh
bác sĩ Tŕnh có thói quen hoặc chỉ giải thích qua loa vài chỉ số tiêu biểu
trong bảng kết quả thử máu, hoặc tóm tắt t́nh trạng sức khỏe tổng quát của
Tưởng bằng vài ba chữ ngắn gọn; nhưng luôn cà kê tỉ mỉ hỏi thăm về cuộc
sống, gia đ́nh, hay các mối quan hệ xă hội riêng tư của bệnh nhân.
Khi biết Tưởng bị ung thư, bác sĩ Tŕnh với vai tṛ là
người điều phối trị liệu, đă lập một nhóm bác sĩ thuộc các chuyên khoa hóa
trị, xạ trị, phẫu thuật, và điều ḥa dinh dưỡng. Phần lớn các bác sĩ này đều
là người di dân đến Mỹ từ vài nước Á châu hay vùng Địa Trung hải, và từng là
bạn học khi c̣n là sinh viên y khoa nhiều năm trước đây. Họ bàn luận, tự
động sắp xếp các cuộc hẹn để Tưởng phải đến gặp từng người trong nhóm. Chúng
tôi sấp ngửa chạy đua với thời gian hạn hẹp để hoàn tất chương tŕnh gặp bác
sĩ, thử máu, chụp quang tuyến, đến nhà thương để bác sĩ đặt port-a-cath (gọi
giản dị là port) trên ngực của Tưởng; Thiết bị này được gắn vào một ống
thông rất nhỏ luồn qua một tĩnh mạch lớn ở phía trên bên phải của tim. Theo
họ hoạch định, port sẽ được dùng để truyền hóa chất vào cơ thể Tưởng ở giai
đoạn hóa trị.
Thêm vào đó, chúng tôi phải giải đáp thắc mắc cũng như
xác nhận các trị liệu khi hăng bảo hiểm sức khỏe gọi để kiểm định trước khi
họ đồng ư thông qua một số toa thuốc của các bác sĩ trong nhóm. Chúng tôi
luôn được chỉ định, nhắc nhở là Tưởng chỉ được chụp PET/CT Scan[4] tại chi
nhánh bảo trợ bởi hệ thống bảo hiểm cách xa nhà gần 70 dặm dù bệnh viện lớn
gần nhà có khoa chụp quang tuyến và cắt lớp hiện đại nhất county. Bận rộn,
buồn bă, và quá lo sợ làm chúng tôi không c̣n tỉnh trí để suy nghĩ thấu đáo
và có thời gian t́m hiểu cặn kẽ thêm về bệnh trạng của Tưởng. Chúng tôi đă
trải qua những ngày tột cùng căng thẳng, tâm can bấn loạn, và tinh thần vô
cùng khủng hoảng khi được cho biết cuộc sống của Tưởng chỉ c̣n được năm, sáu
tháng nếu không lập tức loại bỏ khối u. Và đă nghe lời họ, vội vă thu xếp
chuẩn bị để Tưởng được giải phẫu ngay. Những ngày đó, Tưởng ủ rũ tàn tạ, tâm
trí luôn ngập ch́m trong trạng thái chán chường, lo nghĩ. Nỗi buồn xâu xé đă
bào ṃn Tưởng, tinh thần chàng bị suy sụp nặng, và thân thể dần héo rộc đi
từng ngày, nh́n vô cùng xót xa.
Tôi vẫn không quên được cảm giác hoang mang, bỡ ngỡ khi
được hỏi về tín ngưỡng gia đ́nh lúc đưa Tưởng nhập viện để giải phẫu. Và rồi
đau đớn nhận biết chỉ ở những bệnh viện chuyên khoa này mới có nhiều am
thiền nhỏ luôn lung linh ánh nến và ngày đêm thanh thoảng hương hoa nguyện
dâng. Khi chiều buông phủ, âm vang thánh ca từ chapel nhỏ trong nhà thương
đều đặn vọng sâu suốt không gian trầm mặc, u hoài cả hành lang khu bệnh nhân
nằm điều trị. Và tôi cũng đă thấm thía nỗi ngậm ngùi, sợ hăi khi t́nh cờ
thấy bóng tu sĩ vội vă, nhập nhoà theo ánh nến đâu đó trên hành lang ngoài
giờ thăm nguyện thường lệ.
Cuộc giải phẫu với mục đích cắt bỏ khối u đă hiển lộ trên
các phim ảnh từ PET/CT Scan, cũng là trị liệu đầu tiên, diễn ra 8 ngày sau
khi có kết quả biopsy của các mẫu được xét nghiệm. Nhưng chua xót thất vọng
làm sao v́ ngay sau khi mở vết cắt h́nh cán dù cong dài hơn 23 centimets từ
ngực xuống quá rốn Tưởng, đội ngũ bác sĩ giải phẫu không dám chạm vào khối u
tàn độc nằm ngặt nghèo chèn giữa dạ dầy và tuyến tụy, nên đă quyết định may
ngay vết cắt lại.
Sau này, khi b́nh tâm suy ngẫm, chúng tôi không thể loại
trừ ư nghĩ cuộc giải phẫu vô bổ có thể đă được sắp đặt, tính toán để nhóm
bác sĩ cùng cộng hưởng lợi ích kinh tế. Hoặc nếu không hoàn toàn như vậy,
th́ cuộc giải phẫu vô lư đó là kết quả của các quyết đoán bừa băi, vô lương
tâm của vài người yếu kém khả năng chuyên môn và quá thiếu sót kinh nghiệm.
Họ rao giảng cách khống chế bệnh hiệu quả nhất là ngay lập tức cắt bỏ khối u
rồi làm hóa trị để diệt mọi lây lan. Họ quyết định tiến hành giải phẫu, mổ
xẻ bừa băi, vô ư thức, rồi ráp ngay vết cắt lại sau khi nh́n thấy vị trí của
mầm bệnh; mặc dù đă từng cùng nhau xem xét các phim ảnh chụp rất chi tiết về
khối u và tất cả vùng mô lân cận. Họ hành xử như cơ thể Tưởng là một xác ướp
của pḥng thí nghiệm y khoa để họ thực tập một cách máy móc. Sau cuộc mổ, họ
b́nh thản cùng nhau “make the rounds”[5] suốt mấy ngày Tưởng ở nhà thương,
ghé vào hỏi qua loa một hai câu xă giao nhạt nhẽo, và kư đơn làm thủ tục báo
cáo công việc thăm viếng với hăng bảo hiểm.
Thất vọng và mất tin tưởng khi nghe họ trao đổi hời hợt,
vô trách nhiệm; và cũng quá lo sợ về thái độ thiếu quan tâm đến t́nh trạng
bi đát, tuyệt vọng của Tưởng đă khiến chúng tôi suy nghĩ, cân nhắc việc thay
đổi bác sĩ. Khi được phép xuất viện, chúng tôi đă đem các phim chụp đến một
bác sĩ chuyên khoa khác, hoàn toàn không biết về tiền sử trị liệu của Tưởng,
và đă được cho biết ngay tức khắc là t́nh trạng hoàn toàn không thể giải
phẫu khi vị trí của khối u vừa khuất hiểm vừa chèn lên một động mạch chính,
như đă hiển hiện rất rơ trong các phim chụp từ 27 góc cạnh khác nhau. Thật
là một lầm lỗi thảm hại khi đă tin tưởng vào các rao giảng hợp xướng cùng âm
giọng của nhóm bác sĩ điều động bởi bác sĩ Tŕnh. Nhân gian khổ ải nổi trôi
v́ cuộc sống c̣n lẫn lộn sự hiện hữu của những người vô tâm, dựa dẫm t́nh
thế để mưu đồ tư lợi vị kỷ. Họ có thể tận dụng các kẽ hở, mà họ nhận biết
qua kiến thức nghề nghiệp, để thực hiện ư đồ không quang chính, không quan
tâm đến t́nh cảnh thảm thương, cùng đường của đồng loại.
Tưởng đă quả kém may mắn khi gặp phải bác sĩ Tŕnh ở khúc
quanh hệ trọng của cuộc đời. Sau nhiều thủ tục giấy tờ vất vả và vài cuộc
tranh luận với một số nhân viên hành chánh của hăng bảo hiểm, cuối cùng
Tưởng cũng thoát khỏi sự kềm chế, điều khiển của bác sĩ Tŕnh và các cộng sự
viên của ông ta. Chúng tôi cay đắng quyết định rời xa luôn thành phố ấm áp
ấy để về lại vùng Đông Bắc Mỹ, nơi chúng tôi đă định cư b́nh yên nhiều năm,
dù trước đây Tưởng đă đôi lần tỏ ư ngán ngẩm khí hậu giá lạnh của những mùa
đông dài mà chúng tôi đă từng phải chịu đựng. Nếu ở lại, chúng tôi sẽ luôn
bất an v́ phải tiếp tục sống trong địa bàn làm việc và dưới tầm tai mắt dọ
xét của nhóm bác sĩ Tŕnh. Mối lo ngại này và t́nh trạng sức khỏe của Tưởng
đă thôi thúc chúng tôi gấp rút thu xếp đi để tránh mọi bất trắc có thể gây
thêm khó khăn cho việc chữa bệnh của Tưởng. Về lại Đông Bắc Mỹ, chúng tôi hy
vọng t́m được các bác sĩ có nhiều kinh nghiệm và đáng tin cậy hơn trong việc
trị liệu cho Tưởng.
Hai oncologists (bác sĩ chuyên trị ung thư) mới quyết
định Tưởng phải làm hóa trị để ngăn chận sự lây lan và cũng để hủy hoại dần
các tế bào của khối u trước khi có thể làm xạ trị hay giải phẫu cắt bỏ hẳn.
Hai loại hóa chất chính được dùng là Irinotecan và Fluorouracil (5-FU). Các
thuốc này được truyền mỗi hai tuần, và truyền liên tục 12 lần trong khoảng
thời gian gần sáu tháng. Trước mỗi lần truyền thuốc, Tưởng phải thử máu và
chỉ sau khi các chỉ số quan trọng như lượng bạch huyết cầu, các số đo biểu
hiệu t́nh trạng hoạt động của gan, thận đều trong biên độ định sẵn của bác
sĩ th́ hai loại hóa chất trên mới được pha chế, rồi truyền ngay. Tưởng luôn
bắt đầu ca hóa trị bằng một liều thuốc viên Atropine để giúp kềm hăm bớt các
phản ứng phụ của hóa chất. Tiếp đó, Irinotecan ở trạng thái lỏng như dung
dịch nước biển được truyền từ từ trong khoảng hơn 2 giở ở nhà thương. Sau
cùng, thuốc Fluorouracil ở dạng sệt đặc, được truyền thật chậm qua một máy
bơm tự động (automatic portable pump) nối qua port-a-cath trên ngực Tưởng.
Máy bơm liên tục truyền từng lượng rất nhỏ Fluorouracil vào cơ thể Tưởng
trong ṿng 30 giờ tại nhà. Tiến tŕnh dự định là sau 12 lần truyền hai loại
thuốc, Tưởng sẽ chụp PET/CT để kiểm điểm t́nh trạng bệnh và tác dụng của hóa
chất.
Mọi xếp đặt nghe mạch lạc chặt chẽ như lời giải của một
bài toán. Những con số về liều lượng hóa chất chính xác đến hàng đơn vị thể
tích rất nhỏ; Chỉ số của các thành phần hóa học chọn lọc của máu được tŕnh
bầy chi li, rơ ràng như các bảng thống kê với đầy đủ ngày tháng lấy mẫu;
Hàng trăm phim ảnh về vị trí, h́nh dạng, và kích thước của khối u đă được
chụp. Nh́n tổng thể, bệnh trạng như dần được khống chế theo các diễn tiến dự
tính của chương tŕnh hóa trị. Kế hoạch pḥng thủ, ngăn chận mầm mống di căn
được dự đoán có xác suất thành công khả quan.
Trong thời gian ấy, Tưởng buồn bă thu ḿnh trong nỗi cô
đơn của bệnh hoạn, tâm trạng ủ ê chán nản khi người thân đến thăm, thái độ
dè dặt ngần ngại khi phải đàm thoại với bác sĩ; Và thường xuyên ngập ch́m
trong những khoảng lặng mệt mỏi, trầm cảm, và buông xuôi. Thỉnh thoảng,
Tưởng c̣n thờ thẫn tiếc nuối khi nhớ đến những việc đă dự định làm khi về
hưu hẳn vào đầu năm sau. Tôi bận rộn với các đơn từ phải khai, những cuộc
điện thoại, ngày hẹn chở Tưởng đến nhà thương, việc chăm chút Tưởng, các ch́
chiết từ gia đ́nh người bà con có mối thâm giao ở những canh bạc cuối tuần
với bác sĩ Tŕnh; Và luôn phải gượng gạo tươi tỉnh tṛ chuyện vui vẻ b́nh
thường để Tưởng bớt lo sợ, đỡ bị dằn vặt với ư nghĩ đă làm tôi quá bận rộn.
Tất bật, nhưng lúc nào tôi cũng mơ hồ lo sợ v́ linh cảm ngày tháng của chúng
tôi đang trôi bất trắc như một cỗ máy cũ, gần hỏng, mà vẫn phải khó nhọc cố
gắng vận hành.
Nhiều hôm trong khoảng thời gian năm, sáu giờ chờ Tưởng
làm hóa trị ở Department of Medical Oncology, tôi đă đến thăm khu trẻ trị
bệnh trong nhà thương. Các em nhỏ gầy g̣, yếu đuối vẫn láu táu chuyện tṛ,
ôm giữ đồ chơi, tay cầm bút tô xanh vẽ đỏ rất phong phú các thiên thần nhân
ái, vẫn say mê hóng chuyện lúc có khách vào thăm. Khi không bị quàng quấn
bởi những ống dây nhằng nhện, nặng mùi tử khí quanh giường, có em dù héo hắt
tiều tụy trong chiếc áo bệnh nhân nhầu úa vẫn nô đùa rất thơ dại. Những hạt
nước mắt tận cùng đau khổ của người mẹ, người cha đă thấm đẫm tâm hồn tôi
bao ngày sau đó.
Tưởng trải qua chín lần truyền thuốc, và chỉ duy nhất lần
thứ nh́ đă được thực hiện đúng theo lịch tŕnh của bác sĩ ấn định là ngày
thứ 14 sau lần truyền thuốc đầu. Từ lần thứ ba, thời gian cách quăng đă dần
lên đến 21, 28, rồi 35 ngày mới lại được truyền tiếp v́ mức độ của các thành
phần hóa học quan trọng trong máu Tưởng không đạt biên độ tối thiểu để bảo
đảm cơ thể có thể nhận thêm thuốc mà không bị nguy hại nghiêm trọng. Truyền
được ba lần, Tưởng mất sức nhiều, không ăn uống được, không chịu nổi sự
hoành hành dữ dội của các phản ứng phụ; Có lần đă gần như bị sốc thuốc, hơi
mê man một lúc, nên bác sĩ quyết định thay cả hai loại hóa chất bằng các
thuốc Gemzar và Abraxane. Tuy có phần dễ chịu hơn Irinotecan và
Fluorouracil, nhưng liều lượng thuốc Gemzar và Abraxane cũng đă phải giảm
bớt và tốc độ truyền cũng chậm hơn trong năm lần truyền thuốc cuối cùng của
Tưởng.
Trong thời gian truyền hóa chất, các bác sĩ phối hợp với
khoa Palliative Care (Chăm Sóc Đặc Biệt) để Tưởng được theo dơi, trị liệu
thêm bởi bác sĩ chuyên về các loại thuốc giảm đau, và được phép dùng những
loại thuốc giảm đau loại mạnh, bán với số lượng hạn chế chỉ đủ dùng từng
tuần theo luật phân phối nghiêm ngặt; Mỗi lần mua thuốc, ngoài toa bác sĩ,
tôi phải tŕnh cả bằng lái xe[6] và giấy chứng nhận là người chăm sóc hợp
pháp của Tưởng. Từ đó, hai cô nurse practitioners, dưới sự điều hành và
hướng dẫn của một bác sĩ chuyên môn, đă thay phiên đến thăm Tưởng hàng tuần.
Họ theo dơi t́nh trạng sức khỏe của Tưởng, kê toa, và hoạch định cách phối
hợp các loại thuốc uống để giúp Tưởng được thoải mái, đỡ phải chịu đựng
nhiều đau đớn do sự tàn hoại của căn bệnh đă dần trở nặng; Và kềm chế bớt
các phản ứng phụ phức tạp của thuốc chemo, các loại thuốc viên dùng hàng
ngày. Chỉ riêng thuốc giảm đau, Tưởng phải dùng ba loại khác nhau: thuốc
giúp bớt đau ở các mô thịt, dải cơ (tissues) vùng bụng nơi bị khối u hoành
hành, thuốc giảm sự nặng nề tê cứng ở chân do một số dây thần kinh không c̣n
chức năng hoạt động b́nh thường, và thuốc giúp xương các vùng lân cận khối u
đỡ nhức đau, nhói buốt. Thêm vào đó, Tưởng c̣n dùng thuốc tránh nôn mửa,
ngừa chóng mặt, điều ḥa tiêu hóa, giúp dễ ngủ, chống t́nh trạng cơ thể quá
hiếu động, và cả steroids để đưa tâm trí vào trạng thái hoang tưởng ngộ nhận
như đang được khỏe hơn, có sức hơn, tránh bớt các suy nghĩ tiêu cực hay các
ám ảnh tâm lư chán chường.
Vất vả khó nhọc theo đủ các trị liệu của bác sĩ, nhưng
thể trạng Tưởng càng ngày càng tiêu điều xơ xác hơn, mặt hóp sâu, tóc rụng
từng mảng, người gầy rạc, mắt nhập nḥa như bị phủ sương, chân bước liêu
xiêu không vững, đôi khi tâm trí c̣n lẫn lộn như bị mờ ảo cả nhận thức. Ngậm
ngùi làm sao khi hồi tưởng lại h́nh ảnh Tưởng năng động, cường tráng, tràn
trề sức lực ở suốt thời trai trẻ và nhiều năm khi đă vào tuổi trung niên.
Tưởng đă luôn rất nhanh nhẹn, tinh anh khi ở vị trí thủ môn phải giải quyết
các t́nh thế khó khăn trong bao cuộc chơi bóng hào hứng trên khuôn viên đại
học ngày nào; Và đă vô số lần tạo lợi thế cho đội nhà bằng các thao tác giữ
bóng ngoạn mục, những đường chuyền tinh xảo làm đồng đội lẫn khán giả vô
cùng thích thú, mến mộ. Thế mà chỉ mấy tháng ngắn ngủi, bệnh hoạn và thuốc
men đă tàn phá, hủy hoại Tưởng quá nghiệt ngă; không c̣n chút dấu vết của bộ
điệu tự tin, thể h́nh chắc khỏe, tinh thần lạc quan của cầu thủ Tưởng rạng
rỡ ngày nào nữa. Đă có lần tôi thầm lặng cầu xin bác sĩ không viết thêm toa
thuốc nào cho Tưởng nữa. Có thể đến một lúc nào đó tác dụng tổng hợp từ hóa
chất trị bệnh và các loại thuốc phụ kèm c̣n đáng sợ hơn là để cơ thể Tưởng
tự nhiên kháng cự, chống chọi với các biến chứng của bệnh tật. Thật đau xót
khi bất chợt bắt gặp ư nghĩ tiêu cực này lẩn quẩn trong tâm trí.
Những khi không phải đương đầu với các cơn đau, tôi nhận
thấy Tưởng cũng có lúc b́nh tĩnh để ư đến cuộc sống của người thân quanh
ḿnh, thỉnh thoảng vẫn hỏi thăm tin tức bạn bè hay những người hàng xóm.
Nhưng đôi khi qua ánh mắt Tưởng, tôi bất chợt thấy vẻ xót xa, nét tư lự, nỗi
hoang mang, niềm tiếc nuối, và cả sự ái ngại khi câu chuyện vô t́nh dẫn đến
những ǵ có thể sẽ đến với Tưởng, với gia đ́nh chúng tôi. Có lúc tôi đă rùng
ḿnh sợ hăi v́ nh́n Tưởng khác lạ hẳn, khuôn mặt có nét oán hờn sự khe khắt
của định mệnh, có nỗi khổ đau của sự thua cuộc, có sự cô đơn của tuyệt vọng,
và phảng phất cả nét thuần phục chấp nhận số phận như một t́nh huống hiển
nhiên trong các thay đổi, thăng trầm của kiếp nhân sinh. Những ánh mắt lênh
đênh ră rời, ngập tràn đau xót, vô bờ ám ảnh đó vẫn mơ hồ đeo đẳng tôi mấy
năm vừa qua.
Kết quả PET/CT Scan sau lần truyền thuốc thứ chín cho
thấy kích thước khối u không suy suyển đáng kể, nhưng điều bất hạnh thê thảm
hơn là bệnh đă di căn, đă lác đác có đốm bệnh trên gan, dạ dầy, màng bụng,
và vùng quanh khớp xương chậu của Tưởng. Hôm đó, sau khi cùng xem các phim
ảnh, hai vị bác sĩ và chúng tôi đều yên lặng khá lâu, không gian nặng nề phủ
trùm khắp văn pḥng của họ. Chiều chập choạng rơi bên ngoài khung cửa sổ,
h́nh như có chiếc lá hờ hững bay. Mắt Tưởng thờ thẫn, khuôn mặt đầy bóng tối
nhọc nhằn có tiềm ẩn vẻ rệu ră, tàn phai. Tôi nghe như ghềnh thác đổ giữa
ngày lũ dữ, nước tràn vỡ long sông lở bờ, và tiếng mưa quay cuồng đảo lộn
đất trời.
Từ đó, Tưởng không c̣n hứng thú quan tâm đến bất cứ việc
ǵ nữa, kể cả các phương cách cầm giữ bớt sự thao túng của ác bệnh. Từng
ngày, Tưởng hoạt động ít dần đi, chậm hẳn lại, và dường như cũng lơ là dần
các nhận định, quan tâm về sinh hoạt của cuộc sống chung quanh. Có lẽ tư duy
cũng đang bị dừng lại hay có thể Tưởng tự khước từ mọi suy nghĩ, dự định,
toan tính v́ tinh thần luôn bị áp đảo bởi những cơn đau tàn độc, không thể
tập trung suy nghĩ được nữa.
Hóa trị phải ngưng v́ liều lượng thuốc mà cơ thể Tưởng
chịu đựng được không đủ hiệu lực để kềm chế bệnh, Tưởng cũng không c̣n sức
lực nữa nên chúng tôi không c̣n lựa chọn nào khác ngoài chương tŕnh chăm
sóc người bệnh rất nặng ở giai đoạn cuối đời (hospice care). Nhân viên
hospice care đến nhà thăm Tưởng thường xuyên. Họ tăng thuốc giảm đau cho
Tưởng gần như hàng tuần, và chỉ trong 6 tuần liều lượng đă gần gấp đôi phần
Tưởng vẫn dùng khi c̣n truyền hóa chất.
Thời gian này, ban ngày Tưởng ngủ nhiều và nếu có thức
cũng luôn ngầy ngật say thuốc, không hoàn toàn tỉnh. Ban đêm, Tưởng rất ít
khi nằm yên được hai, ba giờ. Những lúc thao thức, Tưởng đi lại quanh nhà và
nói huyên thuyên. Điều rất buồn là phần lớn những câu chuyện Tưởng kể lể chỉ
bao gồm các suy nghĩ trong vô thức hay các hồi tưởng về cuộc sống xă hội của
Tưởng nhiều năm tháng trước khi lâm bệnh. Tưởng cũng chẳng bao giờ nhớ đă
nói những chuyện ǵ nếu ngày hôm sau tôi t́nh cờ nhắc lại các diễn biến đêm
trước đó. Những khi ở trạng thái vô thức như vậy, dáng vẻ Tưởng lại khá b́nh
thường, nhanh nhẹn, và hồn nhiên. Dường như khi ấy bệnh tật không c̣n làm
Tưởng khổ sở hay đau đớn nữa. Dường như khi ấy Tưởng đă trút được gánh đời
trĩu nặng, chẳng c̣n quan tâm đến những khát vọng, sở thích hay các bực bội,
bất măn vẫn luôn ám ảnh khi c̣n vất vả bươn chải với cuộc sống. Chúng tôi đă
cùng nhau trải qua những đêm dài miên man, nhưng tư duy ở khác chiều, nên
không gian chung cũng toàn mê mị, mập mờ hư ảo.
Đến tuần lễ thứ bẩy sau ngày ngưng hóa trị, Tưởng bị
những cơn đau thắt quặn kéo dài liên tiếp mấy ngày. Đau đến nỗi đă có đôi
lần chân tay Tưởng run rẩy không kềm chế được, mặt tái xanh, trán lấm tấm
rịn mồ hôi, nhưng tay chân cứng và lạnh buốt như đá. Liên tiếp gần ba hôm,
cơn đau hoành hành cuồng loạn làm Tưởng không c̣n điềm tĩnh, giữ được tự chủ
để kềm chế các phản ứng nông nổi của bản thân. Ngay cả khi vừa uống một liều
thuốc giảm đau, Tưởng cũng chỉ hơi thiếp đi được độ 15 phút, rồi lại rên
siết trong đau đớn hay oán thoán kêu than đ̣i thuốc. Thân thể Tưởng phờ
phạc, ánh mắt dại đi, đôi khi c̣n hoảng loạn quăng ném bất cứ vật ǵ nhặt
được ở gần tầm tay. Khi b́nh tĩnh lại, Tưởng kể cơn đau hành hạ xối xả như
nhiều nơi khắp vùng bụng bên trong bị đâm ngang, khoét dọc bằng vật nhọn,
theo cường độ dữ dằn, điên loạn, và dồn dập liên tục, chưa bao giờ từng bị
trước đó. Giọng kể của Tưởng lạc dần trong nỗi kích động như tinh thần vẫn
c̣n bị bấn loạn bởi các ám ảnh kinh hoàng.
Thật ra, không những liều lượng thuốc giảm đau đă được
gia tăng mau chóng mà các thứ thuốc này c̣n được dùng cùng các loại thuốc hổ
trợ giúp cho dễ hiệu quả; Các phối hợp chặt chẽ như vậy vẫn không giúp Tưởng
thoải mái hay dễ chịu hơn. Tôi đă gọi Emergency line của Hospice Care nhiều
lần những hôm ấy để xin ư kiến phải làm ǵ ngay thời điểm đảo điên đó để
giúp Tưởng dịu bớt cơn đau và luôn van nài họ đến nhà giúp Tưởng. Sau 3, 4
lần thay đổi liều lượng và tăng thuốc Oxycodone (thuốc giảm đau tổng thể,
biến chế từ nguyên liệu chính là opium) dùng xen kẽ cùng Gabapentin (thuốc
làm những dây thần kinh liên hệ bớt bị nhức buốt) Tưởng vẫn quằn quại kêu
la, có vẻ như hoàn toàn không cảm thấy dễ chịu hơn nên một bác sĩ đă đến nhà
thăm Tưởng. Sau đó, họ quyết định không cho Tưởng dán Fentanyl patch[7] nữa,
nhưng phải uống thêm thuốc giảm đau Methadone[8] xen lẫn cùng các thuốc
Oxycodone và Gabapentin vẫn dùng từ khi bắt đầu trị liệu.
Tưởng ngủ nhiều hơn và đỡ rên la được vài ngày, đến đêm
thứ năm Tưởng lại bị cơn đau đầy đọa đến co giật gần ngất xỉu. Gần 2 giờ đêm
một bà y tá đến khám bệnh lúc Tưởng gần như mất cả nhận thức. Cuối cùng, bà
quyết định mắc máy truyền Dilaudid[9] tự động từng quăng ba giờ liên tục vào
cơ thể Tưởng. Hai đêm liên tiếp sau đó, tôi đều hốt hoảng gọi cấp cứu khi mơ
màng giật ḿnh nghe tiếng Tưởng ồn ào, rất to. Không hiểu bằng cách nào mà
ống dây plastic rất dai chắc dùng truyền Dilaudid qua một cái kim to ghim
xuyên vào bắp tay và được cố định bằng mấy ṿng băng quanh cánh tay Tưởng,
đă bị giật tung. Máy điều chỉnh thuốc truyền tự động nằm lăn lóc trên sàn
nhà. Tưởng đi lại trong pḥng, thao thao giơng dạc như đang giảng bài hay
tŕnh bầy seminar, bằng tiếng Anh, rất rơ ràng mạch lạc. Dáng điệu b́nh
thường, giọng nói chắc khỏe như khi chưa từng bệnh hoạn. Tuy hơi nhếch nhác
trong bộ quần áo ngủ nhàu nhĩ, nhưng phong thái Tưởng điềm đạm, nghiêm
chỉnh, tao nhă như những lần lên giảng đường thời c̣n làm việc ở trường đại
học. Nhưng chỉ được độ hơn 10 phút th́ Tưởng ngă vật ra, đôi môi rung giật,
nằm sóng soài, lịm thiếp trên sàn nhà. Thân thể Tưởng đơ cứng khác thường.
Bằng hết sức lực tôi cũng không thể nào vực được Tưởng dậy. Tôi lay, gọi
trong vô vọng. Thảng thốt, kinh hoàng, mất tự chủ, tôi khóc v́ sợ Tưởng
không thể tỉnh lại. Hơn ba giờ sáng cô y tá đến, loay hoay vất vả một lúc
rồi chúng tôi cũng đưa được Tưởng về giường, nối lại máy bơm tiếp tục truyền
Dilaudid vào cơ thể Tưởng. Đêm dầy đặc nhọc nhằn, nước mắt trong mầu vàng
bệnh hoạn loang lổ của ánh đèn đường bi khựng yên trên khung cửa kính. Gió
thốc mạnh trong làn chớp đêm khi tôi đưa cô y tá ra cửa.
Những khi tỉnh táo hiếm hoi, có lúc Tưởng cũng ư thức
t́nh trạng mất sức đáng lo sợ sau các cơn đau khốn khổ lúc mê loạn vô thức.
Những ngày thê thảm ấy, buổi tối trước khi ngủ, Tưởng vẫn thích được xoa bóp
bằng dầu thảo dược[10] và nghe tôi rủ rỉ kể lại vài câu chuyện thời chúng
tôi quen rồi yêu nhau khi c̣n là sinh viên cùng trường. Có lẽ chuyện t́nh êm
ái thơ mộng đă làm trổi dậy bao giai điệu nồng thắm yêu thương, vang lại
những nốt nhạc thánh thót từ lâu lắng đọng trong ngăn kư ức đẹp nhất của
cuộc đời đă giúp tinh thần Tưởng được nhẹ nhàng, an nhiên hơn. Thêm hơi dầu
nóng thấm vào da thịt, Tưởng như được dịu bớt phần nào những đau đớn, khổ sở
của thể xác; Và hương thảo mộc miên man lan tỏa trong không gian pḥng đă
giúp Tưởng thoải mái dễ ch́m vào giấc ngủ một cách b́nh yên hơn. Tôi cũng
cảm nhận Tưởng cần sự tương tác âu yếm của hai bàn tay tôi trên da thịt đang
ră rời chịu đựng nhiều hủy hoại tàn phá, cần nghe tiếng tôi nhỏ to quen
thuộc bên tai, để yên tâm tôi vẫn luôn bên cạnh trước khi bất chợt ch́m vào
giấc ngủ vô định ghê rợn đă âm ỉ ám ảnh Tưởng mấy tháng gần đây.
Vào một đêm mưa cuối tháng Bẩy, tôi bắt đầu kể lại những
kỷ niệm rất đẹp ở khuôn viên đại học năm xưa, thời chúng tôi bắt đầu yêu
nhau tha thiết. Mối t́nh như những vần thơ bay bổng, tuổi hai mươi tṛn đẹp
như mơ, có giọt sương đọng măi bờ vai đêm nhận nụ hôn đầu trên ngơ hoa sứ
trong sân trường. Có buổi chiều vui đùa đặt tên cho từng cây hoa sứ làm chim
chóc sao nhăng lạc đường bay. Tôi kể để vỗ về tinh thần Tưởng, giúp Tưởng
quên những đau đớn của ác bệnh; những nhọc nhằn chịu đựng bao thủ tục hành
chính rườm rà, độc đoán của hăng bảo hiểm sức khỏe; và sự khô khan cứng nhắc
đo đếm, soi chụp, các thử nghiệm của chương tŕnh trị liệu. Và kể cũng để
chúng tôi cùng bồi hồi nhớ lại thuở khung trời hạnh phúc lấp lánh dải tơ
hồng luôn êm ái chờ đợi để se kết chúng tôi.
Kể đi, kể lại mấy lần, tôi nhận ra Tưởng thích nghe
chuyện đi xem dải ngân hà và chuyện vũng trăng mê hoặc trong đêm nhạc ở
khuôn viên trường đại học của chúng tôi ngày xưa. Mỗi khi tôi kể lại hai câu
chuyện này, nét mặt Tưởng luôn rất thư thái, tay chân bớt hẳn hiếu động, và
chàng như quên cả rên rỉ than van; Tưởng nằm yên được lâu hơn, có vẻ luôn
chăm chú nghe, thỉnh thoảng đôi môi nứt khô héo hắt c̣n như hơi nhếch lên,
thoáng nét cười trẻ thơ hồn nhiên.
*** Chuyện Dải Ngân Hà
Nguồn Ảnh: Spencer
Welling Ngày xưa, đă nhiều lần tôi mơ về dải ngân hà. Trong mênh mang vô tận của vũ trụ, dải ngân hà muôn đời lấp lánh những v́ sao hiện hữu b́nh yên mà tinh cầu loài người có thể chiêm ngưỡng, thưởng ngoạn nhưng muôn trùng mông lung xa vợi, ở ngoài tất cả kiểm soát và khái niệm thời gian của cuộc sống nhân gian. Tôi mơ những hạt sao lung linh ở đó đă thầm th́ với tôi t́nh yêu thật sẽ vĩnh cửu, trái tim yêu không ngừng lấp lánh, luôn dặt d́u giai điệu, và nồng nàn hương hoa.
Hồn nhiên như đứa bé nghe chuyện thần tiên, rồi bị mê mị
bởi những ao ước không hiện thực, tôi đă rủ Tưởng đi xem dải ngân hà, cùng
đếm sao trời để nguyện xin sự trường tận vĩnh cửu cho t́nh chúng tôi. Khi
yêu nhau, mọi thứ sao đều rất thực, đều khả thi; đến cả mây và gió cũng như
ngay tầm tay với, chẳng điều ǵ mang ư nghĩa hoang đường hay là thành phẩm
của tưởng tượng. Ngày ấy, không hiểu sao Tưởng rất chiều chuộng tôi, luôn ậm
ừ đồng ư với mọi ước muốn nông nỗi trẻ con, đôi khi hơi khác thường, của
tôi. Và có lần chúng tôi đă lần ṃ ṿng vèo theo đường xe chạy lên College
of Forestry trong campus t́m địa điểm, trên lối ṃn nhấp nhô lên rặng Mt.
Makiling[11] thần bí, để chiêm ngưỡng dải ngân hà.
Hôm ấy, Tưởng khệ nệ mang bộ kính thiên văn mượn của gia
đ́nh giáo sư hướng dẫn, tôi tham lam quấn hai ống nḥm quanh cổ. Trời tối,
đường không bóng người, thi thoảng mới có ánh đèn một chiếc xe jeepney[12]
chậm chạp lên dốc hay thận trọng đổ xuống, từ từ vượt qua chúng tôi, thả rơi
lại vài giai điệu nhạc thanh b́nh, an lạc của mùa lễ. Âm ba tha thiết, êm ả
của những bài hát Giáng Sinh làm tôi chạnh ḷng nhớ những đêm bất an, sợ hăi
từng trải qua ở Sài G̣n; tiếng đạn pháo kích phá hoại và những trái sáng lóe
rực một góc trời như luôn hiện diện đâu đó trên bầu trời khu phố vào ban đêm
mỗi khi nh́n từ cửa sổ bàn học của tôi. Bao giờ những lúc ch́m trong tâm
trạng hoài nhớ về Sài G̣n, về quê nhà đă ĺa xa cũng làm sinh viên xa xứ như
chúng tôi cảm thấy sự cần thiết phải có nhau để kể lể tâm t́nh, nhắc nhở
hoài niệm chuyện ngày tháng cũ; và những khoảnh khắc đồng cảm ấy càng làm
mối tuơng quan của chúng tôi gần gũi, thắm thiết, và ấm áp hơn.
Chúng tôi đi bên nhau, rủ rỉ nói chuyện, thỉnh thoảng ở
những đoạn đường ngắn không bị khuất bóng cây, loáng thoáng ánh trăng rải
rơi trên mặt đường heo hút màu tro khói. Không gian bàng bạc, thâm u. Trên
bầu trời cao, phiến trăng lưỡi liềm nhẹ nhàng đong đưa một ḿnh. Chúng tôi
đang chênh vênh gần giữa triền dốc vắng, Tưởng loay hoay điều chỉnh kính
thiên văn đặt giữa một mỏm đất phẳng, thưa cây cối, gần lối vào suối nước
nóng. Thoáng một lúc, Tưởng mừng rỡ gần như nhảy lên, reo rất to “trời ơi,
đẹp quá”. Tôi háo hức, vội vàng đẩy Tưởng để len vào nhin ống kính nhưng
Tưởng đă giữ chặt tay tôi không cho chạm vào bất cứ chỗ nào trên kính v́ sợ
mọi thứ trong tầm nh́n sẽ biến mất.
Như một kỳ quan ở chốn hư tưởng, tôi nh́n thấy phiến
trăng sáng ḷa rực rỡ trong không gian bốn, năm chiều; hàng lớp đồi núi lô
nhô lên xuống ở đó có mầu xám nâu, nh́n như các núi đá hoang sơ từ thời cổ
đại hay các núi lửa đang trong giai đoạn thầm lặng say ngủ giữa bầu trăng ấm
áp. Ở giây phút ấy, tôi bỗng cảm nhận sự nhỏ bé mong manh vô cùng của thế
giới loài người trong bao la kỳ vĩ của vũ trụ, và ư thức sự cần thiết của
các ḥa đồng, liên kết với nhau để vững mạnh tồn tại. Trăng lồng lộng sáng
nên Tưởng xoay kính, điều chỉnh thế nào cũng chỉ thấy được thêm vài v́ sao
lờ mờ quanh đó. Một lúc lâu sau, khi xoay kính chệch xa biển sáng mênh mang,
tôi nhận ra chùm sao Bắc Đẩu, lấp lánh biếc xanh, nối nhau như h́nh một cái
gáo có cán giữa bầu trời đen thẳm.
Trong tâm trạng lâng lâng lạ kỳ khó tả, như có sự thôi
thúc mơ hồ, tôi bật th́ thầm những điều ước đă nghĩ đến và cầu xin từ lâu,
nhưng nhất định không chia sẻ khi Tưởng ṭ ṃ ḍ hỏi. Trăng và núi như đang
trong khúc giao hưởng huyền hoặc giữa tịch mịch của đêm cuối năm lặng gió,
ít sao, nhưng khôn xiết nhịp giao cảm diệu kỳ. Trầm mặc và thần bí vô cùng.
Hương đêm, tinh cất từ hoa rừng và hơi suối nóng, ngây ngất huyền diệu tràn
xuống từ các vách núi. Như bị mê mị, tôi ngần ngại sợ lời cầu xin chưa đủ
chân thành, nên không dám kể với Tưởng v́ ư thức chúng tôi đang ở trong khu
đất núi Makiling linh thiêng.
Tối hôm đó chúng tôi không t́m được dải ngân hà như đă
mong ước. Tưởng nài nỉ rủ chờ thêm, dỗ dành đợi khuya hẳn, trời tối đặc hơn,
có thể cả dải ngân hà sẽ giăng sao vằng vặc ngang trời, rồi tha hồ xem.
Nhưng tôi đ̣i về v́ đă gần đến giờ giới nghiêm của cư xá, đúng ra th́ tôi
cũng đang trẻ con dỗi hờn v́ không được thấy dải sao lấp lánh mầu sắc như đă
tưởng tượng và chờ măi mà hạt sao băng may mắn vẫn ngần ngừ chưa rơi, chưa
chứng nhận ước xin được yêu chiều măi của tôi. Chúng tôi xuống dốc, vừa đi
vừa đếm những chấm sao t́m được trên lối về cư xá, thỉnh thoảng có mấy đốm
đom đóm lập ḷe xôn xao bay theo như cùng trẩy hội t́nh đếm sao với chúng
tôi. Đến gần dốc đồi lên cư xá nữ, Tưởng khăng khăng đă đếm được hơn tôi hai
v́ sao, dù chúng tôi cùng đếm với nhau suốt đoạn đường. Chỉ c̣n độ hơn một
phút nữa là đúng giờ cư xá khóa cửa, đă bắt đầu có tiếng intercom vọng ra
gọi tên từng người chưa signed-in[13]. Không c̣n th́ giờ đễ tranh căi về số
sao đếm được với Tưởng, tôi ấm ức bỏ chạy về main entrance của cư xá. Nhưng
cũng vừa kịp nghe tiếng cười ṛn ră đầy thích thú của Tưởng lẫn trong câu
nói với theo: đêm nay hai đốm sao sáng nhất là đôi mắt của người đ̣i đi xem
dải ngân hà. Ánh trăng sóng sánh cả dốc đồi. Câu nói ấm tiếng cười đă cùng
gió miên man reo măi bao ngày thanh xuân trong veo của tôi.
***
Lúc Tưởng thiếp vào giấc ngủ, tôi cũng từ từ dừng kể lể,
ḷng se lại, chua xót cảm nhận sự vô vị của cuộc độc thoại và nỗi hẫng tiếc
câu chuyện bị dang dở.
Tưởng yếu đi từng ngày, có lẽ từng giờ th́ đúng hơn.
Lượng Dilaudid vẫn được từ từ tăng dần, những khi Tưởng vật vă đau đớn quá,
tôi đă phải bấm nút cho một liều thuốc truyền xuống ngay, không thể chờ đến
lúc máy tự động bơm cách quăng 3 giờ nữa. Ban ngày, Tưởng nằm nhiều, mắt
luôn nhắm, hơi thở lên xuống yếu ớt, gương mặt hơi giăn vẻ đau đớn, thỉnh
thoảng lại rên rỉ dù tâm thức luôn trong t́nh trạng ngật ngừ say thuốc. Đến
bữa ăn, Tưởng chỉ trệu trạo ăn cơm hơi nhăo hay cháo yến mạch với cá hoặc gà
hấp với thật nhiều gừng, và luôn phải có canh hơi dịu chua hay canh rau thập
cẩm cắt thật nhỏ, nấu nhừ. Mấy món ăn tẻ nhạt này, Tưởng thường bảo tôi nấu
sau khi uống xong liều thuốc đầu tiên mỗi ngày. Thời gian của chúng tôi như
chùng lại ở những bữa ăn uể oải chậm chạp, cơm cũng thường bị bỏ mứa; đôi
khi Tưởng chỉ nếm qua một chút canh rồi không ăn thêm ǵ nữa. Không gian
trong nhà nặng mùi thuốc, mùi bệnh, mùi máu, mùi alcohol; ḥa quyện cùng
tiếng rên tức tửi đau đớn triền miên cả ngày. Khi đêm xuống, tiếng kêu than
đau ḷng này cũng luôn mơ hồ yếu ớt lan vọng dù Tưởng nằm rất yên, tư thế
như đang ngủ. Ngoài ra c̣n cả tiếng rù rù đồng điệu vô cảm ngày đêm của máy
truyền oxygen.
Bốn hôm trước ngày đi, bỗng nhiên sáng hôm ấy Tưởng rất
tỉnh táo, tinh tường. Đêm trước dó, Tưởng ngủ khá yên giấc, không thức dậy
đ̣i thuốc hay rên rỉ v́ đau đớn, khó chịu. Khi thức giấc, Tưởng không rung
chuông gọi tôi như mọi ngày mà tự xuống giường, rồi lững thững bước đi, tay
phải tự đẩy trục treo máy bơm thuốc Dilaudid, tay trái túm giữ các dây nối
gọn ghẽ, Tưởng lần ra pḥng ăn một ḿnh, kéo ghế ngồi nói chuyện, xử sự như
lúc khỏe mạnh b́nh thường, chừng như không nhớ ǵ cả về bệnh tật. Trong bộ
điệu vô cùng hồn nhiên thích thú, Tưởng hóm hỉnh phê b́nh vóc người hơi bệ
vệ và dáng điệu tất tả vội vàng của hai cô y tá thay phiên đến nhà thăm nom
hàng ngày. Hết chuyện hài hước về hai cô y tá, Tưởng nhắc tôi lấy hẹn đem xe
đi thay dầu máy, rồi hỏi về tiến triển của vài việc liên quan đến nhà băng
và giấy tờ nhà thương. Khi tṛ chuyện, nét mặt Tưởng tinh anh, tư duy minh
mẫn, và giọng nói cũng rơ ràng, mạnh mẽ hơn nhiều ngày vừa qua. Có lúc c̣n
bắt tôi kiểm điểm, ghi chép số viên thuốc c̣n lại của những loại mà Tưởng
ranh mănh diễn tả là “thần dược cứu rỗi đời anh” như Xanax (thuốc an thần),
Ambien (thuốc ngủ), và Oxycodone; rồi lẩm nhẩm tính toán minh bạch số thuốc
c̣n dùng được mấy ngày nữa.
Vui chuyện được một lúc, Tưởng háo hức đề nghị chúng tôi
ăn bánh xèo trưa hôm đó. Món bánh làm với nhân kiểu Nha Trang gồm tôm, mực,
ṣ điệp, giá đỗ, hành phi và nấm hương mà Tưởng rất yêu thích. Bánh xèo c̣n
gợi lại bao kư ức tuổi thơ êm ả của Tưởng những năm trung học phải ở trọ xa
nhà. Tưởng bồi hồi kể những ngày cuối tuần đạp xe chở cậu em gần 10 cây số
từ thành (Nha Trang) về làng Phú Ân Bắc để được chị Năm ân cần đổ bánh xèo,
bánh căn cho ăn. Bao buổi trưa nắng vàng bừng loang chái bếp sau vườn, gió
lao xao, chị em xúm xít chờ bánh chin. Tưởng vừa trả lời những câu hỏi thân
t́nh của chị Năm dọ dẫm t́nh trạng sinh hoạt của ba cậu em ở nhà trọ, vừa
nghịch mớ tép nhảy lách tách và những con mực ḿnh đầy đốm nháy lấp lánh,
râu c̣n ngọ ngoạy. Bánh chin thơm lựng cả khu vườn nhiều gốc mía tím, có ba
cây mít tố nữ trồng gần đ́a cá ở góc vườn sau nhà. Câu chuyện này Tưởng đă
kể nhiều lần nhưng tôi nghe chẳng bao giờ chán. Tiếng mấy chị em Tưởng nói,
cười sao nghe như vừa vụn vỡ đâu đây.
Hôm đó, tôi cố gắng tráng từng chiếc bánh cẩn thận để đạt
được độ vàng ruộm của sắc nghệ chín; bánh mỏng vừa đủ để khi gấp lại vẫn ẩn
hiện mấy con tôm cong tṛn đỏ au đă được dần mềm, vài sợi mực hồng tím, lấm
tấm những vụn hành lá xanh và có độ gịn thơm mà Tưởng ưng ư. Tưởng đă tẩn
mẩn nhẩn nha xắn từng miếng bánh, cuốn rau, cắn thêm miếng ớt ngâm chua,
chấm chấm, hít hà ăn uống rất ngon miệng. Có lẽ đó là bữa ăn mà Tưởng thưởng
thức trọn vẹn nhất từ khi phải truyền hóa chất để trị bệnh. Vốn cảnh giả kén
ăn mà Tưởng rất dễ chịu, không phàn nàn bất cứ thứ ǵ dọn lên bàn. Nh́n
Tưởng vui vẻ ăn uống, tôi hơi lặng đi khi nhận ra nhiều nếp nhăn hẳn sâu
trên trán, cặp mắt trũng tối trên gương mặt nhợt nhạt mệt mỏi của chàng, tóc
lưa thưa bạc trắng. Vẻ hốc hác tiều tụy lộ rất rơ dù Tưởng luôn huyên thuyên
nói cười; Có thể Tưởng nh́n xuống sắc tàn tạ nhiều hơn v́ cũng lâu rồi tôi
mới được b́nh tâm quan sát Tưởng kỹ như thế. Hơn ba tiếng đồng hồ ngồi nói
chuyện rất b́nh thường, nhắc nhở dặn ḍ nhiều thứ mà Tưởng hoàn toàn không
lộ vẻ đau đớn, khó chịu, hay mất tập trung; và v́ thế sự nhận định của tôi
cũng không bị nhập nhằng đứt quăng. Tôi bất chợt có những lo lắng vu vơ,
ḷng bồn chồn bất an rất lạ, nhưng vẫn cố gượng nén để chuyện tṛ, chăm chút
bánh, rau cho Tưởng. Sau khi ăn, Tưởng từ từ nhấm nháp chén trà gừng ḥa
chút mật ong và tiếp tục vui chuyện được một lúc trước khi về pḥng nghỉ
ngơi.
Sau giấc ngủ trưa ngắn, Tưởng rung chuông gọi tôi than
van bị đau nhiều. Chỉ một thoáng sau liều thuốc giữa buổi, Tưởng lại nói lảm
nhảm, vứt đồ đạc lung tung xuống sàn nhà. Lờ đờ, mất kiểm soát, không c̣n tự
chủ, tóc tai rũ rượi, Tưởng bắt đầu như bị kích động, dằng co giật kéo dây
truyền thuốc khỏi cơ thể. Tôi rơi nước mắt, Tưởng đă trở lại là Tưởng như
nhiều ngày qua, cáu kỉnh bực dọc, bộ điệu khó khăn, dễ mất b́nh tĩnh; Tôi
phải bấm nút truyền ngay một liều Dilaudid cho chàng. Gần chập tối, cô y tá
đến, cố gắng hỏi Tưởng về mức độ đau mà chàng đang phải chịu đựng, nhưng
Tưởng như đă hoảng loạn mất ư thức, chỉ rên la thảm thiết, nước mắt ràn rụa.
Những giọt nước mắt bất lực của Tưởng hiển lộ bao nhọc nhằn, nghiệt ngă, khổ
nạn của kiếp đời, và đă cứa lên tâm hồn tôi các vết hằn cay đắng mà cho đến
bây giờ thỉnh thoảng vẫn se sắt nhói đau.
Cuối cùng, họ lại tăng thêm lượng Dilaudid truyền định kỳ
cho Tưởng. Đêm đó, Tưởng ngủ say được gần sáu tiếng đồng hồ. Tôi luôn chập
chờn mê tưởng như có tiếng rên hay tiếng chuông leng keng của Tưởng gọi;
nhưng mấy lần tỉnh dậy cũng chỉ thấy Tưởng ngủ rất yên, hơi thở đều, thân
h́nh vẫn nguyên ở thế nằm từ lúc đầu hôm, cũng không xoay trở chân tay
thường xuyên như bao đêm trước. Trong pḥng chỉ có tiếng đều đều tẻ nhạt của
máy truyền oxygen. Không gian tĩnh lặng không b́nh thường. Tôi linh cảm như
gần đến giai đoạn từng được cho biết riêng khi Tưởng quyết định ngưng hóa
trị. Bác sĩ điều trị đau đă cảnh báo, dần dà Tưởng có thể bị những cơn đau
đến ngoài sức chịu đựng, và khi đó, các loại thuốc giảm đau, thuốc an thần,
thuốc ngủ sẽ được phối hợp theo liều lượng chẩn định, và được truyền, tiêm
liên tục vào máu để đưa Tưởng vào t́nh trạng luôn mê ngủ hay giữ tâm trí
Tưởng mù mờ cô đặc trong ảo giác, giúp Tưởng không c̣n nhận thức được đau
đớn, khổ sở nữa; Và Tưởng cũng dần quên dự phần vào các sinh hoạt của đời
sống quanh ḿnh; Có thể c̣n quên không nhận ra cả những người thân, bạn bè
đă từng quen biết hay gắn bó sâu đậm. Dù hiểu bệnh càng ngày càng nặng,
Tưởng càng yếu, càng bị đau thê thảm, càng lệ thuộc vào thuốc hơn; Nhưng tôi
cảm nhận chưa sẵn sàng để nh́n thấy Tưởng trong t́nh trạng thương tâm vật vờ
mê tỉnh, không c̣n ư thức, không nhận ra tôi nữa; đau đớn phũ phàng ngoài
khả năng chịu đựng. Trên giường, Tưởng vẫn mơ màng trong cuộc du hành vô
thức. Đêm sệt quánh những bồn chồn, lo âu. Thời gian trôi rất chậm. Không
gian tĩnh lặng vô cùng. Bóng tối ẩn chứa nhiều hăi hùng, bất an.
Sáng hôm sau, khi thức giấc Tưởng lờ đờ hẳn đi, chỉ nằm
yên nh́n đăm đăm lên trần nhà một lúc khá lâu trước khi mệt nhọc cố gượng để
tôi đỡ ngồi dậy, nhưng phải tựa ngay vào mấy cái gối chèn cao dưới lưng.
Thỉnh thoảng Tưởng thẫn thờ ậm ừ một hai tiếng, cố gẳng biểu hiệu vẫn nghe
tôi hỏi han chuyện tṛ, vẫn biết tôi đang chăm chút lau mặt, chải chuốt,
thay quấn áo cho Tưởng. Sau đó, không chịu ăn sáng, Tưởng nằm lại xuống
giường, thiếp lả đi như bị say thuốc nặng. Tôi nhớ lại dáng vẻ tỉnh táo, nét
mặt lúc ranh mănh trêu đùa, và bộ điệu b́nh thường của Tưởng trong mấy giờ
đồng hồ ngày hôm trước và bỗng vô cùng hoảng hốt lo sợ, ḷng dạ như lửa đốt,
nước mắt trào rơi lă chă. Tôi linh cảm điều ǵ đó rất kinh khủng sắp xảy ra.
Đă hai lần kề cận chứng kiến những ngày cuối đời của người thân, đă trải qua
những khoảnh khắc hết sức bất ngờ khó hiểu khi người bệnh đang ốm yếu đau
đớn trong tận cùng tuyệt vọng, bỗng bí ẩn như có phép mầu, bừng bừng ngời
tràn sinh lực như đă vượt qua tất cả mọi oan khiên, khổ ải của bệnh tật,
mạnh khỏe như vừa hồi phục, thoát hẳn ngưỡng cửa tử sinh. Vào những phút
giây đột biến linh diệu ngắn ngủi đó, có lần tôi nghe người bệnh thân t́nh
nhắn nhủ, gửi gấm lời trối niệm hay chia sẻ vài tâm nguyện quan trọng; lần
khác người bệnh chỉ hồn nhiên tŕu mến ḥa đồng sinh hoạt lần cuối với người
thân hay người bạn tri kỷ đă cùng rong ruổi qua nhiều mạch đời dâu bể.
Tâm trí tôi vẫn c̣n mông lung về những chuyện khó hiểu
ngày hôm trước, vẫn bâng khuâng giao động về cách xử sự tinh thông, cử chỉ
ấm áp hồn hậu của Tưởng, và tiếng cười đùa quá đỗi thân quen mà lâu lắm mới
được nghe lại. H́nh ảnh Tưởng vui vẻ nói cười khi ngồi ăn uống vẫn nhẹ nhàng
quanh quẩn đâu đây, vẫn những dịu ngọt chia sẻ, những dí dỏm thân quen,
những nồng nàn hạnh phúc của thuở chúng tôi vừa bắt đầu ríu rít xây tổ. Phải
chăng tất cả là điềm báo Tưởng đang dần chạm đến cửa Không của sự hiện hữu?
Ư nghĩ thoáng qua làm tôi choáng ngợp, nghẹn thở trong cảm giác bị hẫng rơi
xuống vực sâu, nơi lồng lộng gió chướng và như không c̣n ánh sáng.
Cả ngày hôm đó, mặc cho tôi nài nỉ nhiều lần, Tưởng chỉ
thỉnh thoảng chịu nhấp một ít Osmolite[14], và luôn nằm yên trên giường. Im
ĺm, tĩnh lặng, không c̣n cả tiếng rên rỉ xót xa quen thuộc nữa. Không gian
u ám, năo nề hơn. Có lẽ liều lượng Dilaudid mới thay đổi và những mũi thuốc
an thần, thuốc ngủ đă đưa Tưởng vào trạng thái không thể tỉnh hơn được nữa.
Khi đêm xuống, không c̣n nhân viên Hospice Care thăm viếng, nhà vắng lặng,
nỗi cô quạnh trào dâng, lênh loang buồn bă. Tôi lại trăn trở trong nuối tiếc
những kư ức mà Tưởng vừa gợi lại, rồi chợt nhói ḷng tự hỏi, Tưởng đă khổ sở
vượt qua những khó khăn ǵ và phải tổn thất bao nhiêu phần sinh lực đă gần
cạn kiệt để có sức trở lại sinh hoạt như ở cuộc sống b́nh thường cả buổi
ngày hôm trước. Có phải Tưởng đă cố gắng trở lại để cùng tôi trải nghiệm một
lần nữa không khí sinh hoạt êm ả hạnh phúc ở quăng đời chan ḥa b́nh yên đă
qua của chúng tôi? Xót xa làm sao, khi nhận thức được cường độ ấm áp dịu
ngọt của những ngày tươi đẹp đă mất th́ lại càng trực cảm rơ rệt hơn độ thê
thảm, cay đắng và mức bế tắc tuyệt vọng của t́nh cảnh khổ đau, bi đát hiện
tại. Sự xung đột quá mạnh bạo, phũ phàng; Và h́nh như ở một giây phút nào
đó, tôi đă bị hất rơi vào thinh không vô định, bị một lực cuốn tàn nhẫn xiết
mạnh, phải buông tay, không gồng gượng nổi nữa.
Ở thời khắc mong manh không tưởng nhất, tâm trí đặc
sương, thân xác rệu ră; Có phải chăng Tưởng đă thu hết tinh lực c̣n lại, cố
tác động để giúp tôi nh́n thấy bóng ḿnh vẫn lăng đăng trong tâm thức tỉnh
tỉnh, mê mê của chàng? Có phải nếu sẽ phải đi xa, tâm thức Tưởng sẽ vẫn
quanh quẩn bên cạnh không để tôi quờ quạng một bóng trên quăng nhân gian
cuối … đang dần bị phủ sương này? Qua rất nhiều thăng trầm biến động, chúng
tôi vẫn có mối ràng buộc không rời, lúc mặn nồng hạnh phúc, khi ngỡ ngàng
hụt hẫng, lần sóng gió nông nổi giận hờn; Nhưng khi hồi tưởng lại, ở khúc
đoạn nào cũng có hơi ấm dịu dàng vỗ về và vị ngọt tŕu mến thân ái; chỉ
phảng phất chút hương đậm, nhạt thay đổi cùng sắc mầu biến chuyển tự nhiên
của cuộc sống. Tưởng đă khêu tàn tro để tia lửa âm ỉ nghĩa t́nh lại bật reo
tí tách, bùng lên, hủy tan mọi hoang mang muộn phiền, các chao đảo đau đớn
đang tàn độc chiếm ngự, bóp nghẹn tinh thần tôi. Có lúc lao đao giữa những
giao động tột cùng hoảng loạn, tôi bỗng mơ hồ cảm nhận đốm lửa thương yêu mà
Tưởng vừa cời lên đó vẫn chờn vờn nhẹ nhàng giữ tôi tỉnh thức, đôi lúc đă
lấp lóe sáng như dẫn dắt sự quán chiếu cần thiết, và âm thầm kiên tŕ tác
động chuyển hóa mọi âu lo, khổ đau thành năng lượng tích cực, giúp tôi mạnh
mẽ hơn.
Chúng tôi cũng từng nhận biết suy nghĩ tiêu cực và tri
giác sai lầm đă đôi ba lần khuấy động thân tâm, đă có lúc đẩy đưa cuộc đồng
hành vào những ṿng xoáy bất an, mệt mỏi. Tiến tŕnh lầm lạc làm nảy sinh tư
duy bất thường, dẫn đến các xử sự vụng về gây tổn thương cho người đồng
hành, và dày ṿ tinh thần của chính bản thân. Khi đối diện mức khổ đau quá
lớn lúc Tưởng bị bệnh, chúng tôi đă nhận thức chỉ c̣n nhau để tiếp tục cuộc
hành tŕnh qua các trái ngang của kiếp đời, nên đă trân quư nâng niu, chăm
chút nhau để vẫn có thể cùng sải bước. Đă để tâm lắng nghe mọi nỗi khổ, ẩn
ức khó khăn của nhau, đă khoan dung chấp nhận, xóa gỡ mâu thuẫn, lăng quên
mọi lầm lỗi, và đă nhẫn nại ḥa điệu trong yên b́nh, an lạc. Khi khơi được
ḍng từ ái, thương yêu miên man tuôn chảy, tim đă rực hồng lại sức mănh liệt
của t́nh yêu tinh khiết, đam mê thuở đầu. Nhưng là mối đam mê đă thăng hoa,
ngọt chin thắm thiết, tiềm ẩn nhiều cảm thông, và hơi ấm vị tha của nghĩa
t́nh phu thê. Những khi Tưởng không bị thuốc làm mụ mị thê thảm, chúng tôi
đă có nhiều khoảnh khắc khắn khít bên nhau, thân thương nhắc kể kỷ niệm êm
đẹp của ngày tháng đă qua, đă ngây ngất trong những hồi tưởng vô bờ tŕu
mến, đă dạt dào hạnh phúc trong t́nh yêu đắm say thời tuổi trẻ khi mê mải
lạc trong nỗi nhớ ánh sao vằng vặc sắc mầu trên sườn núi Makiling ngày nào.
Tưởng cầm cự với căn bệnh được gần mười tám giờ nữa. Tổng
cộng thời gian chịu đựng oan khiên của Tưởng là 32 tháng kể từ lúc nhóm bác
sĩ Tŕnh phỏng đoán độ 5 hay 6 tháng. Mười tám giờ cuối cùng của Tưởng vô
cùng tĩnh lặng. Nét mặt chàng luôn b́nh yên thư thái, tâm thức ch́m sâu
trong giấc ngủ mê say, và thần thái rạng rỡ, an lạc như đă đến bờ vị lai,
chốn không c̣n muộn phiền, đau khổ. Có đôi lần, không kềm chế được, tôi cố
lay gọi Tưởng nhè nhẹ rồi thầm th́ lời cầu nguyện bên tai Tưởng, nhưng chàng
chỉ nằm yên, không động đậy, thể dáng rất nghiêm, nhịp thở mong manh nhưng
điều ḥa, không chút nặng nhọc khó khăn. Thời gian chậm dần, như đang sắp
sửa dừng lại. Tưởng vẫn lặng lẽ tịnh yên. Rất lâu. Trong nhà hoàn toàn không
có tiếng nói hay bất cứ tiếng động nào. Chỉ lặng im. Vô biên lặng im. Hơi
thở Tưởng càng lúc càng nhẹ, càng loăng, loăng bâng; Rời rạc, chậm dần …
trước khi thoát nhẹ vào hư vô, đưa Tưởng hóa thân lên hạc thong dong phiêu
bồng về nơi có dải ngân hà.
Tôi ở lại nổi trôi trong đám bọt bèo chưa tan của cơn lũ
đời ḿnh, nhiều lúc chơi vơi trong không gian khói sương buồn bă và những
nốt nhạc vô bờ cô đơn[15]: Ôi cái lạnh đêm hè, cái lạnh xa người bây giờ tôi mới biết. Có nhiều khi, một người đi mà như mất thiên đường.
(Em C̣n Yêu Anh – Nguyễn Đ́nh Toàn) Vũ Thi Ngọc Thư (Tháng 11, 2021)
_________
Phụ Chú [1] Lời trong bài thơ “Em C̣n Yêu Anh” của Nguyễn Đ́nh Toàn.
[2] Trích từ tiểu thuyết Le Boujoum được viết bằng tiếng
Pháp của Cung Giũ Nguyên. Bản thảo hoàn tất năm 1980, nhưng đến năm 2002 mới
được chính thức xuất bản tại Texas-Hoa Kỳ, do Cunggiunguyen Center ấn hành.
Nguyên văn câu tiếng Pháp được tác nhả chuyển ngữ trong bản dịch “Thái
Huyền” là “…một vật lơ lửng trên vực thẳm, được những sợi tơ mành của hy
vọng giữ lại.”.
[3] Ureteral stents là những ống nhỏ được đặt vào niệu
quản để điều trị hoặc ngăn chặn sự tắc nghẽn đă ngăn cản ḍng chảy của nước
tiểu từ thận đến bàng quang.
[4] PET/CT Scan (Positron Emission Tomography - Computed
Tomography Scan) là phương pháp rọi h́nh cắt lớp qua phát xạ positron, hay
giản dị là chụp h́nh các tế bào đang hoạt động trong cơ thể của bệnh nhân để
ghi lại các chi tiết về t́nh trạng bệnh. Phương pháp ghi h́nh tổng hợp này
giúp bác sĩ chẩn đoán và điều trị bệnh hiệu quả hơn.
[5] “Make the rounds” là môt thành ngữ tiếng Anh. Khi
dùng trong phạm vi chăm sóc y tế có nghĩa là bác sĩ, y tá đi ṿng hàng ngày
để thăm các bệnh nhân đang điều trị ở bệnh viện dưới sự chăm sóc của họ.
[6] Bằng lái xe thường được dùng như một dạng căn cước ở
Mỹ.
[7] Fentanyl patch là một loại băng dán tẩm thuốc
Fentanyl giúp giảm đau khá hiệu quả; Thuốc này thuộc nhóm opioids (morphine
và các loại thuốc liên quan trị đau nhức) có tác dụng rất mạnh nên được kiểm
soát chặt chẽ.
[8] Methadone: thuốc được dùng để điều trị t́nh trạng đau
dữ dội và liên tuc. Methadone thuộc nhóm thuốc giảm đau gây nghiện, hoạt
động trong năo bộ của bệnh nhân làm thay đổi cách cơ thể cảm nhận và phản
ứng với cơn đau.
[9] Dilaudid là một loại thuốc trong nhóm opioids. Thuốc
làm tâm trí bệnh nhân thay đổi cách suy nghĩ và chống chọi với sự đau đớn
của cơ thể. Thuốc này có tác dụng mạnh hơn Oxycodone và có thể gây mê làm tê
liệt các dây thần kinh truyền tín hiệu đau đớn.
[10] Dầu thảo dược được pha chế từ mấy loại dầu thuốc dân
gian theo các tỉ lệ nhất định từ công thức riêng của anh VHT, người bạn đồng
môn thân thiết của Tưởng. Anh VHT đă điều chế dầu và thường xuyên gửi tặng
trong thời gian Tưởng chữa bệnh.
[11] Mt. Makiling là một rặng núi lửa không c̣n hoạt
động, nằm trải dài qua các tỉnh Laguna và Batangas ở Philippines. Một phần
của núi này chạy qua khuôn viên trường University of the Philippines at Los
Baños (tỉnh Laguna). Theo truyền thuyết, một nàng tiên bí ẩn rất nhân hậu
tên là "Maria Makiling" đă luôn âm thầm bảo vệ rặng núi và giám sát các khu
rừng, tài nguyên quanh núi. Rặng núi nh́n tổng thể như một người phụ nữ, xơa
tóc đang nằm nghỉ rất yên b́nh.
[12] Jeepney là một loại xe Jeep đă được sửa đổi: Băng
trước chỉ có chỗ ngồi cho tài xế và một hành khách; Phần sau xe có 2 hàng
băng dài, đối diện nhau dành cho hành khách. H́nh dạng xe từa tựa như xe lam
ở Sài G̣n ngày xưa, nhưng jeepney là xe bốn bánh và dài, rông hơn xe lam.
[13] Signed-in: Ghi tên đă trở lại cư xá. Luật cư xá nữ:
sinh viên nội trú đi ra ngoài sau 5:00 giờ chiều phải ghi mục đích và giờ
rời cư xá trong sổ ở pḥng giám thị; Khi về, phải điền giờ vào lại và kư
tên. Cư xá khóa cửa đúng 10:30 tối.
[14] Osmolite: một loại sữa giàu chất dinh dưỡng, dùng để
tẩm bổ thêm cho người bị bệnh nặng hay đă quá yếu bị khó khăn khi ăn uống.
[15] Dựa theo câu thơ của Trần Dạ Từ, nguyên văn: “và nốt
nhạc cô đơn” trong bài thơ “Nhă Ca”.
|