CHUYỆN KHẢO VỀ HUẾ

Trần Kiêm Đoàn

 

Đôi Ḍng Tự Bạch
Về Huế
Cơm Hến
Bún Ḅ
Chè Huế
Cơm Âm Phủ
Mắm Ruốc
Ngủ Đ̣
Tâm Huế
Mưa Huế
Mầu Quan San
Tản Cư
Hồi Cư
Hồi Âm
Đoc ckvh_tkl
Tiểu Sử

 

 


 

 

 

Tản Cư

 

Từ nhỏ, đi học ở Huế, tôi thường nghe người lớn than thở rằng, Huế là xứ sở đi

để mà nhớ chứ không phải ở để mà thương. Thời đó tôi không tin v́ mỗi tuổi thơ

đều có một bầu trời xanh và một cồn nắng ấm cho ước mơ tuổi dại theo diều căng

gió mà nghe tiếng hát của Thằng Cuội ngồi gốc cây đa. Những cơn mưa thâm trầm và

những trận lụt trùng trùng nước bạc của Huế đă khiến tôi nghĩ rằng, Huế là đất

"đi để mà sợ, ở để mà kinh!".

 Thế nhưng khi sắp sửa từ giă Huế tôi mới thấy cái lưu luyến vô h́nh của vùng

đất đơn sơ nhưng lại có chất keo huyền hoặc và phù thủy nầy.

 Tôi chọn về dạy học ở trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị với những lư do chẳng có bà

con chú bác ǵ với Đinh Hùng, Nguyễn Bính hay Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên

cả, nghĩa là chẳng có chút ǵ nên thơ giống như thời kỳ đi học tôi đă chọn về ở

trọ tại Vỹ Dạ v́ mê "nắng hàng cau" của Hàn Mặc Tử, tôi lại trổ chứng không muốn

xa Huế để mà nhớ mặc dầu Huế không phải là nơi ở để mà thương. Khi ra trường sư

phạm, đậu á khoa cộng thêm với mảnh bằng cử nhân văn chương c̣n "le lói" mực

Tàu, tôi có được cái ưu tiên chọn một trong mấy chục nhiệm sở từ Quảng Trị đến

Nha Trang, B́nh Thuận, ngoại trừ Huế, v́ nơi đây là cánh rừng già cổ thụ chằng

chịt toàn các thầy, cô hàng tiền bối cả rồi. Dễ mấy ai giáo sinh mới ra ḷ mà

được chen chân vào các trường Quốc Học, Đồng Khánh, Nguyễn  Tri  Phương, Kiểu

Mẩu, Thành Nội. V́ vậy, thuở đó, Trần Hoài tốt nghiệp thủ khoa cũng phải ráng

trèo đèo vô trường Nữ Trung Học Đà Nẵng. Tôi hàng thứ nh́ lại chen chân ra vùng

hỏa tuyến Quảng Trị cho gần với Huế, làm cho các chàng thầy mới ra ḷ người Non

Mai, Sông Hăn thứ thiệt như Lê Đ́nh Lộng Chương, Hoàng Thạch Tú cũng phải ngẩn

ngơ với mấy nụ cười buồn.

 Lư do tôi chọn về dạy học tại Quảng Trị vốn đă ít nên thơ mà kỷ niệm ban đầu

với Quảng Trị lại càng không êm đềm chút nào, nếu không muốn nói là "rát da rát

thịt".  Làm sao quên được ngày đầu tiên đến Quảng Trị làm thầy.

 Sáng hôm đó, tôi không c̣n nhớ là có sương thu và gió lạnh của Thanh Tịnh hay

không, nhưng tôi đă chọn ra mắt Quảng Trị bằng bộ đồ đắc ư nhất với chiếc quần

màu xanh đậm học tṛ và chiếc áo sơ mi cụt tay trắng toát. Tôi đă tra chiếc cà

vạt vào cổ nhiều lần nhưng cuối cùng đành cởi ra v́ thấy nó không hợp trên những

con đường nhiều người c̣n đi chân đất từ quê mới lên với đôi quang gánh nặng

chĩu lo âu hằn lên khuôn mặt rám nắng lấm tấm mồ hôi. Tôi cầm theo tập giáo

tŕnh quốc văn trên bàn tay có hai ngón giữa c̣n kẹp điếu thuốc Capstan lơ lửng

khói bay và lững thững bước vào cổng trường Nguyễn Hoàng đầy tự tin. Bỗng tôi

giật nẩy ḿnh v́ một ngọn roi nào đó vừa vụt ngang lưng cùng với một giọng nói ồ

ề đanh đá và đầy dọa dẫm:

 - Đồ học tṛ vô phép vô tắc, cả gan vô cửa thầy cô hỉ!?

 Tôi quay phắc lại và thấy ngay bác cai trường cao lêu khêu, mặt hầm hầm đang

cầm cái roi dài ngoẵng, lăm lăm, vừa mắng, vừa toan vụt cho tôi một roi nữa về

tội hút thuốc lá trong trường. Tôi đủ kịp phản ứng hét lên:

 -Trời ơi! Ông muốn chi? Tôi là thầy giáo trường nầy mà.

 Bác cai trường cười như mèo vờn chuột:

 - Cái thằng láu cá! Tau nói cho mi biết, tau đă mần việc ở cái trường ni khi mi

c̣n răi mũi. Ruồi đực ruồi cái bay ngang tau c̣n biết từ cái xứ mô tới nữa huống

chi là quư thầy quư cô ở đây ai mà tau không biết. Để tao trị cho hết cái thói

hỗn láo, xưng bừa thầy bà đi nghe chưa.

 Trước khi tôi kịp có một lời nào đó để trần t́nh th́ bác cai trựng đă hùng hổ

giáng roi lên. Rất may cho tôi là Lê Văn Măn, thầy dạy sử địa đă nhảy vào giải

cứu kịp thời bằng cách la to lên:

 - Ê tầm bậy, ông cai, đây là thầy Đoàn, giáo sư mới của trường ḿnh...

 Tôi nghe giọng bác cai có vẻ hoảng hốt:

 - Thôi, chết cha tui rồi, rứa mà tui không biết. Xin thầy bỏ lỗi cho chớ thầy

c̣n trẻ quá lại ăn bận như học sinh nên tui lầm.

  Tôi ráng mỉm cười rộng lượng, chứ cho dù có hẹp lượng đi nữa th́ cũng chẳng

làm ǵ được trong hoàn cảnh bi hài đó.

 Trường Nguyễn Hoàng đối với Quảng Trị cũng giống như trường Sorbone đối với

Paris hay Harvard đối với Boston. Đó là cơ sở giáo dục kỳ cựu nhất, bề thế nhất

và nổi tiếng nhất đối với địa phương. Bởi vậy, Nguyễn Hoàng là niềm hănh diện

chung cho người học cũng như người dạy. Cái khổ nhất của thầy giáo trẻ trường

Nguyễn Hoàng là phải trở thành những "viện sĩ" của viện đạo đức, bất luận là tự

nguyện hay "bị" tự nguyện v́ thành phố Quảng Trị quá nhỏ, phụ huynh và học sinh

đều có truyền thống tôn trọng học đường và thầy giáo, nên sau giờ dạy, ló mặt đi

đâu mà nghe hai tiếng "thưa thầy" rồi th́ những nụ cười lăng mạn cỡ Trăng Rụng

Xuống Cầu của Hoàng Thi Thơ cũng phải thành nét uy nghi Tam Ṭng Tứ Đức của

Khổng Tử! Tôi c̣n nhớ một buổi chiều lần đầu về ăn nem lụi Chợ Săi với vài người

bạn. Con đường dọc sông Thạch Hăn dẫn về Săi đă nên thơ như con đường sông Hương

đi về bánh bèo Vỹ Dạ, nhưng hai cô hàng trong quán nem lụi c̣n nên thơ hơn. Tôi

thích nghe giọng nữ Quảng Trị khi phát âm chữ "t", chữ "n" sau cùng v́ nó có cái

âm hưởng đanh, gọn và xác quyết chứ không ỡm ờ như giọng Huế. Tôi đang bập bẹ

nhái giọng Quảng Trị để vừa kêu món ăn, vừa để tán tụng vẻ đẹp trăng tṛn, hồn

nhiên, không đài các của cô hàng bằng những từ dễ thương nhưng không hợp với tự

điển của viện đạo đức th́ bị "pháo kích" bất th́nh ĺnh khi cô hỏi lại bằng cái

giọng lễ phép của Liêu Trai đă tu luyện ngàn năm:

 - Thưa thầy, rứa c̣n về "mục" đồ uống thầy dùng thứ chi ạ?

 Đôi mắt tôi và có lẽ cái giọng nói của tôi nữa, cũng phải đứng vào thế nghiêm

lập tức để trả lời. Một thoáng, tôi bắt gặp nét nh́n rất nhanh của cô hàng, cái

nét nh́n sắc, ướt và kéo dài đuôi mắt một chút nheo nheo mà tôi không biết mang

ư nghĩa biểu đồng t́nh hay trách móc, nhưng tôi bỗng cảm thấy ḷng vui xôn xao

trong lặng yên. Tôi nói nho nhỏ với hai người bạn: "Gịng sông chảy về đây có

tên Thạch Hăn là phải. Thạch Hăn là 'mồ hôi của đá'. Đá mà c̣n toát mồ hôi lạnh

huống chi tau!"

 Tôi đến và làm quen với Quảng Trị vào một trong những thời kỳ đen tối nhất của

lịch sử xứ nầy, đó là giai đọan từ 1970 đến 1975. Trước "mùa Hè đỏ lửa 72",

những bài giảng về văn chương Việt Nam với những bài thơ mượt mà t́nh bạn và

xanh biếc t́nh quê của Nguyễn Khuyến, những tiếng cười xót xa của hàn sĩ lận đận

Tú Xương, những tiếng gọi vào đời hào sảng của kẻ sĩ Nguyễn Công Trứ... đă bao

nhiêu lần chững lại nửa vời v́ tiếng máy bay trực thăng tải thương chở người lên

xuống không ngớt trong khu quân sự Mỹ bên cạnh trường Nguyễn Hoàng. Tôi cũng đă

trải qua nhiều đêm chấm luận văn của học sinh bên miệng hầm, đọc hoài không

hiểu, v́ đầu óc căng thẳng lắng nghe thử có tiếng "đề-pa" pháo kích hay không.

Nhiều buổi sáng điểm danh, có vài ba em học sinh vắng mặt và sẽ không bao giờ

trở lại v́ đêm hôm qua đă lên rừng theo du kích. Tôi khó tránh khỏi nỗi mủi ḷng

xúc động khi có học sinh đến xin rút học bạ thôi học v́ dưới quê băo lụt, mất

mùa không đủ cơm ăn, áo mặc để tiếp tục theo học.

 Mỹ Chánh, Quảng Trị, Đông Hà, Gio Linh, Cam Lộ, Khe Sanh đều ở trong cơn lốc

chiến tranh trong cuộc chiến Hạ Lào, trước khi cơn lốc cuộn lại thành con mắt

cuồng phong trên Cầu Dài của "Đại Lộ Kinh Hoàng". Con đường cái quan, quốc lộ số

một, của quê hương Việt Nam yêu dấu bỗng biến thành "đại lộ kinh hoàng" trong

mấy ngày ngắn ngủi 28, 29 và 30 tháng 4 năm 1972. Tôi là một trong đám người

Quảng Trị khốn khổ cố băng qua đoạn đường có chiếc Cầu Dài trơ trụi, ngắn ngủi,

bắc qua một gịng nước cạn. Cầu Dài lặng lẽ, vô danh như bao nhiêu nhịp cầu mà

tôi đă đi qua từ Huế đến Quảng Trị bỗng rùng ḿnh, biến thành cửa ngơ đi vào địa

ngục. Buổi chiều khi tôi sắp sửa bước vào cửa địa ngục cùng với đoàn người chạy

giặc th́ bỗng nghe những tiếng thét kinh hoàng: "Chết! Chết! Chết hết rồi!” với

sự triệt thoái hỗn độn ầm ầm như sấm động từ phía Bến Đá dạt ra. Tôi nghe rơ 

nhiều tiếng súng nổ chợt xa, chợt gần. Tiếng gọi nhau ơi ới, tiếng khóc tang

thương, tiếng la hét thất thanh và cuồng nộ của đoàn người di tản thối lui v́

đạn pháo như trùng vây không biết từ đâu tới, đă đưa đẩy tôi nhào tới và dạt lui

như một người say rượu. Tôi rùng ḿnh thảng thốt nghe tiếng thét bên tai: "V́

răng tới giờ ni rồi mà thầy c̣n ở đây? Chậm chút nữa là chết cả đám. Chạy theo

em! Thầy, chạy!". Tôi chạy theo sức đẩy mà tôi không c̣n nhớ là từ đằng sau đẩy

hay đằng trước kéo. Hơn cả nửa giờ sau, khi chạy lúp xúp trên những độn hoang

đầy cát trắng tôi mới nhận ra người lôi kéo tôi ra khỏi cửa địa ngục là Nguyễn

Kháng, người học tṛ lớp 11A2 của tôi ở trường Nguyễn Hoàng. Tôi đă chạy bọc

quanh về ngả Kim Long, Kim Giao dẫn về Mỹ Chánh theo phía Đông, gần đường biển,

tránh càng xa càng tốt vùng Bến Đá, Cầu Dài đang mịt mờ trong khói lửa. Măi đến

khi tôi ngồi đối diện với Kháng trong quán kem Anh Đào ở Huế, nghe Hùng Cường và

Mai Lệ Huyền hát bài "một trăm em ơi, chiều nay một trăm phần trăm...", một bài

hát mà trước đó tôi cho là "sến" nhất, rẻ tiền nhất và dễ ghét nhất, bỗng nhiên

lại trở thành quá hay vào giờ phút đó. "Quá hay" có lẽ v́ đây là thông điệp của

sự sống, là tiếng hát quen thuộc của dương gian chứ không phải lời kinh buồn

dưới chín tầng địa ngục. Tiếng hát cho tôi biết rằng là tôi đang sống. Đơn giản

thế thôi nhưng nếu chưa đứng trước ngưỡng cửa của "đại lộ kinh hoàng" th́ tôi

không bao giờ biết được.

                                          

 

Sau biến cố mùa Hè 72, một Quảng Trị hiền ḥa và b́nh an đă trôi nổi và phân ly

như cánh bèo giữa ngả ba gịng nước. Một số ở lại bên kia sông Mỹ Chánh. Số ra

đi th́ tạm gởi cuộc sống tại các trung tâm tạm cư ở Ḥa Khánh hay Non Nước và lẻ

tẻ nhiều nơi khác. Tôi chọn dạy tại Ḥa Khánh. Đây là một căn cứ quân đội Mỹ bỏ

lại cách Đà Nẵng chừng hai, ba chục cây số. Những bàn tay cần cù quen vỡ đất và

những cánh tay đầy sức sống quen ôm lúa chín ngày mùa giờ đây phải ngửa tay lănh

từng bữa gạo để sống ngày lại ngày trên áo cơm cấp phát của trại tạm cư. Người

nông dân Quảng Trị sống tạm bợ trong các trại tạm cư Đà Nẵng cũng giống như cá

ḱnh mắc cạn và chim nhốt trong lồng. Tuổi già dương đôi mắt tinh anh quen nh́n

cỏ nội hoa đồng ngày trước, bây giờ lờ đờ nh́n ngày tháng phù du đi qua trên

những dăy nhà tôn khô khan, những con đường cũng đầy bụi, nhưng toàn là thứ bụi

mù mệt mỏi chứ không phải bụi gió Lào dấy lên từ bùn đất của quê hương. Ai cũng

mơ một ngày về, nhưng ai cũng sợ hăi cái bóng đen không tên nhưng thật hăi hùng

của bom đạn.

 Trường Nguyễn Hoàng dă chiến của tôi ở Hoà Khánh cũng chia chung số phận nổi

trôi với đám học tṛ tỵ nạn của ḿnh. Trường mở trong một cái nhà kho quân sự

cũ. Các lớp học rất "đoàn kết nhất trí" v́ không có vách ngăn, nên thầy cô nào

không có được cái giọng hùng hồn như nhạc xuất quân th́ kể như là trở thành

tiếng đàn "Ta Lư" trên núi, nghĩa là thầy tṛ ai nói nấy nghe. Nếu một buổi sáng

đẹp trời nào đó mà thầy giáo Nguyễn Bảo với cái giọng oang oang "thiết giáp

hành" lên lớp cùng một giờ với thầy giáo Trần Pḥ với cái giọng "cụ Tú Lăm" th́

kể như học sinh lớp quốc văn của thầy Pḥ mắt th́ lơ láo học thơ mà tai th́ lùng

bùng học toán của thầy Bảo. Không hiểu v́ bản chất thông minh, lanh lợi hay v́

được học theo kiểu "double majors" bất đắc dĩ như trên nên tỷ số học sinh Nguyễn

Hoàng thi đỗ tú tài năm 1973 khá cao, dù phải đi học trong cảnh đời tỵ nạn đầy

gian nan và chịu đựng. Tôi có cái giọng tuy không hào hùng như thầy Bảo nhưng

cũng khá hơn cái giọng thu vàng của thầy Pḥ nên cứ sau mỗi 4 giờ dạy liên tiếp,

cũng nhâm nhi vài ba ly cối nước đá để lấy lại hơi sức cho ngày lên lớp hôm sau.

 Cuối năm 1973, Quảng Trị hồi cư. Cảnh "t́nh nguyện phân ly" của người dân Quảng

Trị cũng có nỗi xót xa riêng không thua ǵ khi chạy loạn. Tất cả đều phải đối

diện với một tương lai mịt mờ trước mắt. Ra đi bỏ vùng đất thân yêu với mồ mả tổ

tiên lại đằng sau th́ không nỡ mà trở lại quê xưa trên vùng đất hoang tàn với

tất cả làng xóm, đ́nh chùa miếu vũ đă bị san thành b́nh địa th́ số phận cũng

chẳng biết về đâu khi một nửa Quảng Trị đă mất, sông Thạch Hăn trở thành sông

Gianh và sông Bến Hải. Cuối cùng sự chọn lựa nào rồi cũng mang nỗi đau riêng của

nó. Mùa Giáng sinh năm 1973, người Quảng Trị bỗng trở thành dân Do Thái ngay

trên đất nước của ḿnh: Một số lớn hồi cư, số khác vào Nam lập nghiệp, số c̣n

lại sống rải rác khắp các tỉnh từ Huế đến Cà Mâu.

 Tôi lại khăn gói quả mướp trở về Quảng Trị dạy học. Ngày đầu tiên trở lại Quảng

Trị, tôi đến thăm thành phố Quảng Trị cũ. Khó mà tin được có một nơi nào đó trên

thế giới đă từng có một cuộc chiến diễn ra ác liệt như thế. Những hố bom to và

sâu hoắm như một vùng nước xoáy rải rác khắp nơi. Những cây đà sắt lớn hơn gốc

cây cau cong xoắn và chảy thành giọt như nhựa đường đă khô cứng và lạnh lẽo.

Không có một căn phố hay một mái nhà nào c̣n đứng vững. Trường Nguyễn Hoàng với

các dăy lầu ngang nhà dọc chỉ c̣n trơ lại một phần cái trụ gạch của cổng chính.

Nh́n sang phía Cổ Thành, tất cả chỉ là một băi tha ma của đổ vỡ và tan nát. Tôi

xúc động và lặng lẽ chùi nước mắt khi có giọng hát nào đó của một người lính trú

pḥng hát ra từ trong căn lều che giữa căn nhà đổ nát: "Nằm mơ, mơ thấy trăm họ

tốt tươi, mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa trong tiếng cười...”  Việt Nam có

những giấc mơ nhỏ nhoi và đằm thắm như một chút đùa vui của nhân thế, nhưng bao

năm rồi vẫn c̣n mất dáng xa vời ngoài tầm tay với.

 Thành phố Quảng Trị hồi cư tạm xây dựng trên đồi cát trắng Hải Lăng bằng tôn và

gỗ. Đó là những căn nhà tiền chế, suốt mùa lộng gió bốn bề. Lúc đầu tôi dạy học

tạm ở trường trung học Hải Lăng, chờ cho đến khi trường Nguyễn Hoàng xây dựng

khá khang trang trên "khu thị tứ".

 Cuộc chiến tạm chấm dứt trên chiến trường đất cát, nhưng vẫn c̣n tiếp diễn giữa

ḷng người Quảng Trị hồi cư. Cái nơm nớp lo sợ bị kẹt giữa ṿng lửa đạn vẫn ám

ảnh từng ngày với sự hiện diện của Thuỷ Quân Lục Chiến trong tư thế sẵn sàng

chiến đấu. Đêm dêm tiếng đại bác “nốt ruột” vẫn dội về từ trên các dăy rừng núi

phía Tây. H́nh như trong cảnh khổ người dân dễ dàng thông cảm và thân thiết nhau

hơn. T́nh đồng nghiệp và thầy tṛ cũng vậy. Tối tối, nhóm thầy giáo hồi cư quen

t́m đến nhau để chia xẻ một b́nh trà, một ấm cà phê hay "bốc" hơn nữa là kiếm

vài chai để đọc thơ "thiên địa mang mang ai người tri kỷ, hăy lại đây cùng ta

uống cạn một hồ trường...".

 Trong suy nghĩ của những người trẻ tuổi, thầy giáo cũng như học tṛ, "Quảng Trị

hồi cư" phải có một phong thái, một nhịp sống khác với những ngày "tiền Đại lộ

kinh hoàng". Quảng Trị đă thấm thía với tṛ chơi không đẹp của mấy "ông to bà

nậy", mượn tạm sự đau khổ khốn cùng của nạn nhân chiến tranh để quảng cáo và để

vinh thân ph́ gia. Trước lễ Giáng Sinh năm 1973, các thầy giáo Nguyễn Hoàng như

Lê Hữu Thăng, Lê Văn Măn, Lê Hữu Nam và tôi gặp nhau nhiều lần tại Đà Nẵng, Huế

và Hải Lăng để bàn về chuyện "ḿnh phải làm cái ǵ cho Quảng Trị sau ngày hồi

cư". Ư tưởng dễ thương và lăng mạn nhất là vận động thanh niên xung phong lập ra

những làng xă tập thể kiểu "Kibbutz" của Do Thái trong giai đoạn lập quốc. Mô

thức "kibbutz" chỉ là một ước mơ của những tâm hồn yêu thương Quảng Trị với

nhiệt t́nh nóng bỏng nhưng đầy mơ mộng. Thực tế là gíup người dân vật lộn với

cuộc sống muôn vàn khó nhăn trước mắt. Những chương tŕnh và công tác xă hội

giúp đồng bào hồi cư đă được các cơ quan xă hội lớn của miền Nam như Hồng Thập

Tự, Asian Christian Social Sevices và Vietnamese Christian Social Services ủng

hộ nồng nhiệt. Trước đ̣i hỏi cấp thiết của t́nh thế, một nhóm giáo sư Nguyễn

Hoàng đă đứng ra thành lập Đoàn Giáo Chức Công Tác Xă Hội Quảng Trị  và trường

Hiền Lương Nghĩa Thục. Tôi đă ca bài "Never On Sunday" ở Huế hơn một năm trời v́

lỡ ham vui nhận chức trưởng đoàn Thanh Niên Hồng Thập Tự Quốc Tế Quảng Trị nên

ngày chủ nhật nào cũng phải lăn lộn cùng với mấy trăm đoàn sinh đi khắp các vùng

quê Quảng Trị để sinh hoạt từ lợp nhà, lái máy cày... đến ca hát cho đời thêm

vui!

 Tôi dạy tại cả hai trường Nguyễn Hoàng và Hiền Lương Nghĩa Thục nhưng ngủ lại

qua đêm nhiều nhất là tại trường Hiền Lương. Vùng đồi cát nơi trường tọa lạc có

tin đồn nổi tiếng nhiều "ma" nhất trên Đại lộ kinh hoàng. Hằng tuần tối thứ hai

và thứ ba chỉ có tôi và anh Lê Hữu Nam ngủ lại tại trường. Nam đặt lưng xuống là

ngáy như sấm, trong khi tôi thao thức và lắng nghe tiếng vọng của "ma". Nhiều

lần trong đêm khuya tôi nghe rất rơ tiếng gọi nhau ơi ới và tiếng la, tiếng gào

tiếng thở dài dọc theo quốc lộ1 ngay trước cổng trường. Tôi không biết đấy chỉ

là ảo gíác hay có ma thật, nhưng mỗi lần tôi ráng sức lôi cổ Nam dậy để cùng

lắng nghe "tiếng ma" với tôi th́ chỉ nghe tiếng trả lời ngái ngủ của Nam: "Ba

láp, để ta ngủ!" và anh chàng lại ngáy như sấm trở lại, mặc tôi nằm queo chong

mắt, trống ngực đánh th́nh th́nh. Trường Hiền Lương Nghĩa Thục một thời đă quy

tụ hầu hết các thầy giáo và cô giáo cự phách của vùng Quảng Trị, từ những nhà

giáo thâm niên như các anh Thái Mộng Hùng, Lê Mậu Tâm đến những thầy giáo mới ra

trường như Dương Vạn, Nguyễn Phúc... đă chia xẻ với đồng nghiệp và học sinh

nhiều kỷ niệm vui buồn chưa đầy hai năm học và sau đó, lịch sử đă sang trang:

Trang 1975!

 Mùa Xuân năm 1975, lần cuối tôi giă từ Quảng Trị như một quê hương thứ hai thân

yêu của ḿnh để nhập vào đoàn người chạy loạn vào Huế rồi Đà Nẵng. Tôi và anh Lê

Hữu Nam ghé vào trường Hiền Lương Nghĩa Thục lúc đó đă thành trạm nghỉ chân cho

đoàn người chạy giặc bơ phờ và mệt mỏi. Không có cảnh nào buồn hơn là cảnh

trường học biến thành trạm xá bất đắc dĩ trong chiến tranh. Hai anh em chúng tôi

buồn bă đi quanh trường như cố ghi lại lần cuối cùng những dư bóng dáng của kỷ

niệm rồi đèo xe Honda vào Huế.

 Sau năm 1975, có những cuộc gặp lại học tṛ, bạn bè, đồng nghiệp, người quen

Quảng Trị trong những cảnh vui buồn lẫn lộn. Tôi c̣n nhớ rất rơ năm học cuối

cùng trước khi Quảng Trị chia hai sau mùa hè 72 có một nữ sinh xuất sắc về môn

quốc văn do tôi phụ trách trong một lớp 11A. Đời vẫn thế, Bá Nha cần phải có Tử

Kỳ th́ tiếng đàn mới khởi sắc được, cũng như mỗi lần lên lớp, đôi mắt thông minh

và những câu hỏi đầy suy nghĩ của những học sinh xuất sắc thựng có tác dụng như

một chút hương hoa đối với thầy cô giáo. Tôi lại là một thầy giáo văn chương trẻ

nên Thuận, tên em nữ sinh xuất sắc, thường cho tôi một cảm giác an ủi là bài

giảng của tôi khá hay đủ dể làm át đi tiếng máy bay trực thăng gào thét ngoài

kia. Có một lần Thuận nghỉ học, hôm sau tôi hỏi lư do, tôi thấy ḷng ḿnh chùng

lại khi nghe em trả lời : "Thưa thầy, v́ trời mưa to quá em phơi áo không khô!".

Sau đó, tôi mới hiểu rằng Thuận chỉ có một chiếc áo dài trắng duy nhất dể đi

học, nên em phải giặt vào mỗi chiều thứ tư để có áo mà đi học cả tuần. Trong dịp

làm báo Tết năm đó, tôi đă tổ chức một cuộc thi viết văn mà tôi chắc thế nào

Thuận cũng chiếm giải nhất. Với bài tùy bút "Hăy khóc đi, hỡi quê hương yêu

dấu!", mượn tên một tác phẩm hay nhất của Alain Paton, Thuận chiếm giải nhất

cuộc thi văn một cách dễ dàng. Giải thưởng cho bài viết của Thuận là phiếu may

hai chiếc áo dài tại một nhà may lớn trên đường Trần Hưng Đạo.

  Năm 1972, Thuận ở lại bên kia bờ sông Thạch Hăn. Năm 1976 tôi gặp lại người

học tṛ cũ đó trong một hoàn cảnh thật ngỡ ngàng. Cũng như bao nhiêu người trong

cảnh có đức lang quân là "thầy giáo, tháo giày", bà xă tôi phải đi buôn hàng

chuyến Huế- Sài G̣n để nuôi sống gia đ́nh trong buổi giao thời.

  Một buổi chiều bà xă tôi về nhà với hai bàn tay không v́ hàng hoá buôn chuyến

Sài G̣n – Huế đă bị tạm giữ tại trạm thuế vụ Hương Thủy trước khi vào Huế. Sáng

sớm hôm sau tôi theo bà xă về pḥng thuế vụ Hương Thủy để nghe quyết định về vấn

đề thuế khóa. Từ ngoài pḥng đợi, tôi có thể nghe cái giọng nữ sắt và đanh nói

về nguyên tắc, chính sách thuế má và buôn bán. Đến lượt chúng tôi được gọi vào

văn pḥng với một thái độ chờ đợi và căng thẳng. Bỗng tôi chững lại và người nữ

cán bộ cũng hụt hẫng:

 - Thầy!

  Và:

 - Ô, Thuận!

  Là những ǵ mà thầy tṛ có thể nói với nhau trong hoàn cảnh đó. Tôi tính bước

ra ngay cho khỏi cái hoàn cảnh khó xử nầy, nhưng Thuận đă giữ lại:

 - Xin mời Thầy ngồi.

 Cả ba người đều im lặng nhưng tôi có thể thấy được những giọt mồ hôi lăn dài

trên trán, trên má người học tṛ cũ. Chỉ là một phút phù du trôi qua thôi nhưng

tôi biết cả một chiến trường khói lửa trong ḷng người học tṛ giàu suy tư đó.

Thuận như chợt nhớ ra điều ǵ và đứng phắt dậy, dáo dác nh́n quanh và cố nói to

như cố t́nh cho mọi người xung quanh cùng nghe:

 - Thưa thầy, cô.  Xin thầy cô hiểu cho vai tṛ và giới hạn của em. Trong giai

đoạn mới đầu c̣n tranh tối tranh sáng nầy, nhiều mặt hàng buôn bán và thuế khóa

vẫn đang c̣n trong ṿng thảo luận, nên những nhân viên thuế vụ như em trong một

số trường hợp phải căn cứ vào sự lượng giá chủ quan của ḿnh để đánh thuế.  Mời

thầy cô theo em để kiểm tra mặt hàng.

  Thuận hối hả bước vào pḥng tạm giữ hàng hóa và tự tay lôi ra tất cả các bao

hàng của bà xă tôi có gắn biển "đợi xử lư" và vuốt nhẹ lên từng gói hàng nhưng

không mở bao, rồi nói với một nhân viên khác đứng bên cạnh:

 - Đây là những mặt hàng sản xuất nội địa. Miễn thuế!

 Thuận nói nửa như dặn ḍ, nửa như ra lệnh:

- Thầy cô vui ḷng chở hàng ra khỏi đây càng nhanh càng tốt v́ hàng mới sắp nhập

và kho hết chỗ chứa!.

 Tôi giúp bà xă chuyển hàng đi như một người mộng du câm nín.  Dù trong một hoàn

cảnh cực kỳ khó khăn, nhưng cái hào khí Quảng Trị một thời vẫn c̣n lưu dấu. Thế

đứng đầy bụi phấn trên bục giảng của một thời không thể ngă xuống thành chiếc

nón trải xuống vệ đường đầu hàng cơm áo. Tôi băn khoăn tự hỏi không biết sự

“lượng giá” của một cô học tṛ thông minh như Thuận có phải là một sự hy sinh. 

Tôi sẽ không đủ bản lĩnh để thản nhiên nhận sự hy sinh của một người khác, nhất

là khi sự hy sinh đó của một người học tṛ cũ như Thuận. 

Lúc chia tay tôi chỉ c̣n biết cười buồn và lặng lẽ gật đầu khi nh́n đôi mắt gần

như rơm rớm khóc của Thuận với câu hỏi nhỏ:

 - Thầy c̣n nhớ “Hăy khóc đi, hỡi quê hương yêu dấu” không thầy?

 Không hiểu Thuận muốn “hăy khóc đi” v́ hoàn cảnh, t́nh cảm hay cả hai trong

những ngày gió bụi chấm dứt và khởi đầu cho một trang đời mới.

 Gần 20 năm sau 1975, tôi về lại Quảng Trị. Khắp nơi đă dựng lại được màu xanh

của thời gian trước "mùa Hè đỏ lữa 72". Cây rất xanh như mơ ước của con người.

Gặp lại những khuôn mặt thân thương và quen biết hơn hai mươi năm trước tôi nghe

như có tiếng thời gian thoáng qua với nhiều mái tóc bạc hơn. T́nh cảm Quảng Trị

trong tôi và trong những người cũ gặp lại th́ h́nh như mới chia tay đêm qua, vẫn

ấm áp, chan chứa và thuần hậu cho dù hơn 20 năm chưa gặp lại.

 Tôi đă xa Quảng Trị, bỏ "Huế đi để mà nhớ" đành đoạn để đi xa năm đồng bảy đội.

Đă bao lần tôi căng mắt nh́n nhưng vẫn bước đi với tâm hồn dửng dưng qua những

thành phố lớn. Tôi cũng đă ăn dầm ở dề suốt mười mấy năm trên nhiều tiểu bang

nóng, lạnh của Mỹ nhưng tôi vẫn chưa t́m ra một nơi nào đó "ở để mà thương".

Buổi chiều chia tay đầy lưu luyến với anh em trên đồi La Vang, mùi tràm chổi và

đất nắng hanh rất nồng làm tôi bâng khuâng nhớ đến những bạn bè và học tṛ cũ

chắc chừ đă dày dạn phong sương tay bế tay bồng. Hỡi những người "bất tri hà xứ

khứ", h́nh như trong tôi, khi vó đă chồn, chân đă mỏi, tôi mới thấy rằng Huế là

nơi đi để mà nhớ v́ chan chứa kỷ niệm và Quảng Trị là nơi ở để mà thương v́ sâu

nặng t́nh người.

 

VAN

HOME