|
HAI BÀI THƠ CỦA QUÁCH TẤN
Cách đây không lâu, tôi đọc được bài viết “Ảnh hưởng của thơ Đường đối với thơ mới” của hai tác giả NXD và TVT trên Tạp chí Hán Nôm số 3 (36) năm 1998, trang 46-53. Phải nói đây là một bài viết công phu, tuy chưa lư giải thấu đáo đến mọi khía cạnh của vần đề. Một số vấn đề cần có sự trao đổi thêm. Trước mắt, tôi xin có một vài nhận xét. Trong bài trên, các tác giả viết: "Hai bài Đá vọng phu và Đêm thu nghe quạ kêu của Quách Tấn dường như chỉ là dịch từ Hán sang Việt hai bài thơ Vọng phu thạch của Vương Kiến và Ô dạ đề của Lư Bạch". E rằng nhận định này là không thỏa đáng. Lư Bạch (701- 762), được xưng tụng là bậc “thi thánh” trong văn học cổ điển Trung Hoa và Vương Kiến (751 - 835) cũng là một nhà thơ nổi tiếng thời nhà Đường đă để lại cho hậu thế những vần thơ bất hủ của thời Thịnh Đường. Bài thơ “Ô dạ đề” là một trong những bài thơ nổi tiếng của Lư Bạch, viết theo lối cổ thể, là tiếng ḷng thổn thức của cô gái Tần Xuyên trong chốn buồng thêu nhớ người ngoài ngàn dặm khi nghe tiếng kêu thê thiết của con quạ bay t́m chỗ ngủ, dễ khiến ta liên tưởng đến tâm trạng của người thiếu phụ trong chốn khuê pḥng trong bài “Khuê oán” của “Thi thiên tử” Vương Xương Linh (698 – 756), người cùng thời với Lư Bạch. Đ́nh thoa trướng nhiên tư viễn nhân Độc túc cô pḥng lệ như vũ. Tản Đà dịch: Dừng thoi buồn bă nhớ ai Pḥng không gối chiếc giọt dài tuôn mưa. Bài thơ “Vọng phu thạch” của Vương Kiến là một trong những bài thơ nổi tiếng, cũng được viết theo thể cổ phong. Bài thơ dạt dào cảm xúc, bật lên thành tiếng khóc năo ḷng, không biết là của người hay đá vẫn ngàn năm đợi chồng bên bến sông. Vọng phu xứ Giang du du Hóa vi thạch Bất hồi đầu Hải Đà dịch: Bên sông ngồi ngóng trông chồng Trăm năm khắc khoải một ḷng sắt son Hóa thân thành đá mỏi ṃn Gió mưa vần vũ ... đầu không ngoảnh về C̣n hai bài thơ “Đêm thu nghe quạ kêu” và “Đá vọng phu” là hai bài thơ của nhà thơ “cổ điển” nổi tiếng của nền thơ ca Việt Nam đương đại: Quách Tấn. Quách Tấn (1910-1992), người gốc Minh hương, cùng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên và Yến Lan được mệnh danh là “Bàn thành tứ hữu”. Ông quê ở B́nh Định nhưng sống, làm việc chủ yếu ở Khánh Ḥa như quê hương thứ hai của ông, và ông mất tại Nha Trang, Khánh Ḥa. Ông là tác giả của tác phẩm “Xứ trầm hương” nổi tiếng. Ông làm thơ, viết biên khảo, dịch thơ Đường... Thơ ông chỉ thuần nhất là thơ Đường luật, nổi tiếng nhất là các tập “Một tấm ḷng” (1939), “Mùa cổ điển” (1941), “Đọng bóng chiều” (1965)… Giữa lúc phong trào thơ mới (1932-1945) rầm rộ, Quách Tấn chỉ làm thơ luật và đă dựng nên cả một mùa cổ điển trong vườn hoa đầy hương sắc của thời kỳ này. Ông chủ trương “b́nh cũ rượu mới”. Ngoài Tản Đà, ông là tác giả duy nhất đại diện cho phái “thơ cũ” có mặt trong “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh - Hoài Chân (1942). Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đă trích đến 9 bài thơ luật của Quách Tấn, chủ yếu trong tập “Mùa cổ điển”, trong đó có bài “Đêm thu nghe quạ kêu” được tác giả phân tích khá sâu sắc trong phần bài viết [1]. Bài thơ “Đêm thu nghe quạ kêu” là một trong những bài thơ hay nhất của nhà thơ Quách Tấn, được sáng tác vào năm 1939. Bài thơ tuy viết theo thể Đường luật, dùng nhiều điển cố nhưng ư tứ mới và dễ hiểu. Cả bài thơ là một mạch tràn đầy cảm xúc của tác giả. Vào năm 1963, trong một bài viết [2], Quách Tấn đă kể lại khá kỹ về “tiểu sử”, tức là quá tŕnh sáng tác bài thơ. Theo tác giả, bài thơ được thai nghén từ năm 1927 lúc c̣n ở quê nhà B́nh Định trong một hoàn cảnh khá đặc biệt. Măi đến mười hai năm sau, vào năm 1939, trong lúc hồi tưởng về những kỷ niệm xưa ở quê nhà B́nh Định tại ngôi nhà ḿnh ở bên bờ đầm Xương Huân, Nha Trang, tác giả đă xúc cảm viết nên bài thơ “Đêm nghe quạ kêu”. Những h́nh ảnh trong bài thơ như xóm Ô Y hạng đan xen giữa thực và hư, hiện tại và quá khứ, h́nh ảnh bến Phong Kiều, sông Xích Bích là sự liên tưởng từ bến sông An Thái, con sông Côn nơi quê nhà, mang chút hơi thở của thế sự trong tâm trạng “thương kẻ nương song bạc”… Bài thơ được tác giả gửi đăng trên một tờ báo đương thời nhưng tác giả vẵn chưa cảm thấy hài ḷng. Măi đến hai năm sau (1941), khi chuẩn bị in tập “Mùa cổ điển”, trong một đêm trăng sáng, tác giả mới có cảm xúc để tiếp tục hoàn chỉnh bài thơ, như câu: Thắc thỏm chăng ai quả ấn vàng Được thay bằng: Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng Hoặc câu: T́nh lan man gợi tứ lan man Được thay bằng: T́nh hoang mang gợi tứ hoang mang Ngay cả tên bài thơ ban đầu “Đêm nghe quạ kêu” được Chế Lan Viên góp ư thêm vào chữ “thu” thành ra “Đêm thu nghe quạ kêu” nghe thơ và hay hơn hẳn. Ở đây cũng xin nói thêm, nhận xét của Hoài Thanh về việc dùng điển cố “Ô y hạng” sai trong bài thơ “Đêm thu nghe quạ kêu” của Quách Tấn th́ cũng nên xem lại. Quách Tấn đă từng học Hán văn từ nhỏ, là nhà thơ chuyên về Đường luật th́ không lư ǵ lại không hiểu “Ô y hạng” nghĩa là “Xóm áo đen” của hai họ Vương, Tạ. Theo tôi, đây chỉ là sự liên tưởng của nhà thơ trong mạch cảm xúc mà thôi. So sánh hai bài thơ, một bài của Lư Bạch, một bài của Quách Tấn, tuy cùng một nhan đề, nhưng hai bài thơ khác nhau hoàn toàn, từ nội dung, h́nh thức thể hiện đến mạch cảm xúc của cả hai nhà thơ. Bên cạnh bài “Đêm thu nghe quạ kêu” th́ bài “Đá vọng phu” tuy không hay bằng nhưng cũng là một trong những bài thơ tác giả rất thích và cũng thường được trích trong các tập thi tuyển. Trong nền thi ca cổ điển Phương Đông, h́nh ảnh đá vọng phu là một h́nh ảnh ước lệ, tượng trưng cho tấm ḷng chung thủy của người chinh phụ chờ chồng. Các nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam hay Trung Hoa đều có thơ về đề tài này như “Vọng phu sơn” của Lưu Vũ Tích, “Vọng phu thạch” của đại thi hào Nguyễn Du, “Núi vọng phu” của Hồ Dzếnh… Và thậm chí trong âm nhạc, nhạc sĩ Lê Thương cũng đă để lại cho chúng ta 3 bài “Ḥn vọng phu” bât hủ. Trên đất nước Việt Nam chiến tranh liên miên từ đời này sang đời khác có hai nơi có h́nh ảnh đá vọng phu gắn liền với những sự tích trong dân gian. Một là đá vọng phu ở Lạng Sơn được tả trong bài “Vọng phu thạch” của Nguyễn Du. Hai là đá vọng phu ở huyện Phù Cát, tỉnh B́nh Định, quê hương của nhà thơ Quách Tấn. Bài thơ “Đá vọng phu” của Quách Tấn gắn liền với truyền thuyết và h́nh ảnh Đá vọng phu ở B́nh Định. “Đá vọng phu” của Quách Tấn là một cặp hai bài thơ, gồm “bài chị” và “bài em”. Hai bài thơ tả cảnh chờ chồng của người thiếu phụ với tấm ḷng chung thủy, sắt son. Mặc cho dâu bể đổi dời, mưa sa, gió cuốn, người thiếu phụ dù khô đôi ḍng lệ, vẫn một ḷng kiên trinh, ghi tạc lời thề, ôm con đứng đợi trong cảnh thảm sầu, bất chấp tất cả thời gian… “Bài chị” có đôi câu thực tả cảnh kết hợp tả t́nh thật hay, thật thần t́nh, từ dùng rất mới, đầy h́nh ảnh: Lụy nhớ mưa ngàn tuôn nượp nượp, Tóc thề mây núi bạc phơ phơ. Tôi đă đọc những bài thơ này của Quách Tấn từ rất lâu. Đây là những bài thơ rất hay, rất riêng của ông, so với những bài thơ của Lư Bạch, Vương Kiến là những bài thơ có nội dung, cảm xúc hoàn toàn khác nhau. Không lẽ các tác giả chỉ căn cứ vào tên của các bài thơ mà kết luận rằng các bài thơ của Quách Tấn chỉ là những bài thơ dịch từ Hán sang Việt của các tác giả Trung Hoa thôi sao? Xin chép lại những bài thơ này để các bậc thức giả đọc lại và nhận xét. Ô dạ đề (Lư Bạch) Hoàng vân thành biên ô dục thê Qui phi á á chi thượng đề Cơ trung chức cẩm Tần Xuyên nữ Bích sa như yên cách song ngữ Đ́nh thoa trướng nhiên tư viễn nhân Độc túc cô pḥng lệ như vũ.
Quạ kêu đêm Mây vàng chiếc quạ bên thành Nó bay t́m ngủ trên cành nó kêu Tần Xuyên* cô gái buồng thêu** Song sa khói toả như khêu chuyện ngoài Dừng thoi buồn bă nhớ ai Pḥng không gối chiếc giọt dài tuôn mưa. (Bản dịch của Tản Đà)
* Câu này dùng nói về điển tích vợ Đậu Thao là nàng Tô Huệ dệt gấm hồi văn. ** Tần Xuyên: thuộc Trường An
Quạ kêu đêm Quạ t́m chốn đậu bên thành bụi Bay về kêu quang quác khắp cành cây Cô gái Tần Xuyên đang dệt gấm Nghe tiếng ngoài song, qua rèm mây Ngừng thoi mong nhớ người muôn dặm Pḥng không hiu quạnh lệ tuôn đây. (Nguyễn Xuân Diện dịch)
Đêm thu nghe quạ kêu (Quách Tấn) Từ Ô Y hạng rủ rê sang Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng... Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng Bồn chồn thương kẻ nương song bạc Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng Tiếng dội lưng mây đồng vọng măi T́nh hoang mang gợi tứ hoang mang... (Mùa cổ điển - 1941)
Vọng Phu thạch (Vương Kiến ) Vọng phu xứ Giang du du Hóa vi thạch Bất hồi đầu Sơn đầu nhật nhật phong ḥa vũ Hành nhân qui lai thạch ưng ngữ
Đá Chờ chồng Bên sông ngồi ngóng trông chồng Trăm năm khắc khoải một ḷng sắt son Hóa thân thành đá mỏi ṃn Gió mưa vần vũ ... đầu không ngoảnh về Phải chăng nàng giữ lời thề Đến khi đá nói....lúc nghe chàng về ! (Hải Đà phỏng dịch)
Đá vọng phu (Quách Tấn) (Bài chị) Chồng đi biệt tích tự bao giờ, Đất đổi trời thay cũng cứ chờ. Lụy nhớ mưa ngàn tuôn nượp nượp, Tóc thề mây núi bạc phơ phơ. Non chồng nghĩa nặng cao ṿi vọi, Nước vướng t́nh sâu chảy lững lờ. Dâu bể đă bao đời kiếp trải, Ḷng son một tấm măi trơ trơ.
Đá vọng phu (Quách Tấn) (Bài em) Người đă không về tin cũng không, Đầu non dắt trẻ đứng trông chồng Nước mây quạnh vắng tṛng khô lệ, Mưa nắng phôi pha má lợt hồng. Lời thệ vững ghi ḷng sắt đá, Khối t́nh riêng nặng gánh non sông. Nỗi niềm ai biết ai không biết, Gương nguyệt ngh́n thu rạng biển đông. (Một tấm ḷng - 1932-1939)
NP phan ________
TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam (1932-1941), NXB Văn học, H., 1998 [2] Nguyễn Tấn Long - Nguyễn Hữu Trọng, Việt Nam thi nhân tiền chiến, NXB Sống Mới, Sài g̣n, 1968 [5] http://www.vuonghaida.com/VAN/VongPhuThach.htm
|