NHỚ TẾT SÀI G̉N XƯA

Tôi
là người được sinh ra ở một bảo sanh viện trên đường Nguyễn Văn Học, B́nh
Ḥa xă, tỉnh Gia Định, Sài G̣n. Tôi có quê cha ở Rạch Giá, nhưng quăng đời
sống ở Sài G̣n của tôi nhiều hơn các nơi khác, dù hồi nhỏ cha mẹ đă cho tôi
học hành ở Rạch Giá quê cha. Ngoài Rạch Giá, tôi c̣n học ở Vĩnh Long, nhưng
cũng chỉ là thời gian ngắn. Tôi lớn lên ở Sài G̣n, ăn học tại Sài G̣n, đi
lính từ Sài G̣n, dạy học tại Sài G̣n, đi tù từ Sài G̣n, ra tù đi kinh tế mới
cũng từ Sài G̣n, sống kinh tế mới không nổi trốn về đạp xích lô hơn 5 năm
trời quanh quẩn Sài G̣n, cuối cùng đi Mỹ cũng từ Sài G̣n. Mở đầu câu chuyện
này, tôi không có ư phân biệt vùng miền, chỉ muốn viết lên những ǵ ḿnh
từng biết, từng thấy, nhất là những ǵ nơi ḿnh từng sống qua. Tôi chưa từng
sống ở miền Bắc, hay miền Trung nên không dám mạo phạm viết về những vùng
đất ấy. Ngay từ những năm đầu tiên của bậc trung học đệ nhất cấp, học tṛ
lứa tuổi chúng tôi bắt đầu đă có cảm nhận đất nước ḿnh đang trong thời kỳ
chiến tranh. Tuy nhiên, nền giáo dục thời đó đến với chúng tôi ngay từ tiểu
học bằng toàn những giáo huấn rất nhân bản, dựa trên nền tảng chúng tôi luôn
được học từ đạo đức trong gia đ́nh, gọi dạ bảo vâng, tôn kính, lễ phép cùng
ông bà, cha mẹ, cho tới việc h́nh thành một con người đúng với các chuẩn
mực: nhân-nghĩa-lễ-trí-tín làm hành trang để bước vào đời. Ngay khi c̣n là
một em bé chỉ đang ngồi ghế nhà trường bậc tiểu học thôi, chúng tôi đă luôn
thực hành nhuần nhuyển cung cách đi thưa, về tŕnh. Gặp người lớn luôn biết
ṿng tay, cúi đầu, một lời cũng dạ, cũng thưa. Chúng tôi cùng lúc được rèn
dạy thật kỹ chương tŕnh công dân giáo dục để biết cách cư xử từ trong gia
đ́nh cho đến học đường, và ngoài xă hội. Lên xe bus luôn biết đứng lên
nhường chỗ ngồi của ḿnh cho người lớn, nắm tay dắt người lớn tuổi qua
đường. Ở ngoài đường, đang đi thấy xe tang sắp đến, chúng tôi đă được dạy
phải dừng lại bên đường, đứng yên ngả nón chào người quá cố khi xe tang đi
qua. Ở trong trường, với t́nh đồng môn, chúng tôi luôn được thầy cô dạy phải
đối xử chân thật, thẳng thắn và giúp đỡ bạn bè để cùng thăng tiến.
Dù thời ấy, miền Nam hàng ngày vẫn luôn chịu tổn thất bởi chiến tranh tự vệ,
chết chóc, đổ nát, tang thương...nhưng ngồi ở ghế học đường, chúng tôi chưa
bao giờ được dạy phải căm thù, phải cầm súng, phải giết chóc bất cứ một ai,
chỉ biết tất cả là đồng bào. Tâm hồn chúng tôi luôn trong sáng, sống hồn
nhiên, điều đó có thể chứng minh được qua các tạp chí dành cho thiếu nhi,
hay lứa tuổi học tṛ thời đó mang tên : Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, hay các trang
báo dành cho tuổi thơ với tên gọi là các Búp Bê, bé Ngôn bé Luận...mà ngày
nay nhiều người c̣n lưu giữ. Riêng với cái Tết Nguyên Đán, một cái Tết đối
với đời sống của người dân Sài G̣n xưa luôn là khoảng thời gian thật đặc
biệt, và không thể thiếu. Cả một năm trời lam lũ làm ăn kiếm sống, Tết ta,
hay c̣n gọi là Tết Nguyên Đán là thời gian để mọi người được nghỉ ngơi, để
chăm chút cho nhà cửa, cho gia đ́nh và con cái. Tết là dịp để tưởng nhớ đến
ông bà, tổ tiên, là dịp để cùng lo đi dăy sạch cỏ khu mă mồ thân tộc, sửa
sang, quét vôi lại mồ mă ông bà, chuẩn bị khoác lên một tấm áo mới cho ông
bà cùng ăn Tết với con cháu. Tết là thời gian thật cần thiết để người nông
dân, thương buôn, thợ thuyền có dịp b́nh tâm nh́n lại công việc họ đă làm
suốt một năm qua, nhờ vào đâu mà họ thành công, bởi v́ đâu mà họ thất bại.
Từ đó mỗi người có th́ giờ suy nghĩ về hướng phát triển mới cho năm sau. Nói
theo giới b́nh dân của Sài G̣n thời đó, Tết là dịp để mọi người được xả hơi
trước khi tiếp tục lao vào chặng đường làm ăn mới. Do vậy Tết Nguyên Đán đối
với người dân miền Nam nói chung, hay dân Sài G̣n nói riêng là không thể
thiếu, hoặc không thể xóa bỏ được. Tết được mọi người coi như một giai đoạn
giải lao dài sau 11 tháng quá cực nhọc. Nghèo đói, và chiến tranh triền miên
nhưng người dân Sài G̣n thời đó ai cũng luôn trông mong tới Tết, bởi v́
người buôn bán có dịp buôn bán đắt hàng, công nhân và thợ thuyền ăn lương
tháng ở các hăng xưởng luôn được lănh thêm tháng lương thứ 13. Đối với những
người làm việc lănh tiền công nhật hay tiền tuần cũng mong tới Tết được chủ
thưởng công tùy tấm ḷng hào phóng, thương người của chủ. Dân Sài G̣n từ xa
xưa vốn đă luôn có truyền thống nghèo th́ nghèo, nhưng luôn sống hào săng,
phong lưu, luôn rộng ḷng chia sớt với nhau trong cuộc sống. Người Sài G̣n
luôn có tập quán làm quần quật cả năm trời gom tiền, rồi bung ra chơi láng
coóng ba ngày Tết, sang năm mới sẽ tính sau. Nếu để viết một bài tổng quan
về Tết, không giấy mực nào mô tả đủ. Trong phạm vi nhớ nhớ quên quên lan man
này xin phép hồi tưởng lại cái Tết xưa qua các tiêu điểm sau:
1) Giai đoạn chuẩn bị Tết.
Như đă đề cập trước, Tết là thời điểm quan trọng nhất trong năm v́ vậy ngay
trong những tháng làm lụng vất vả, người dân đă lo tích cóp để dành. Người
để dành tiền, người lựa mua ít nữ trang, mua xấp vải đẹp ưng ư nhất để gần
Tết đặt thợ may khéo tay may cho chiếc áo dài đẹp, hoặc bộ vía thật bảnh để
diện Tết. Thời tôi c̣n nhỏ ở Sài G̣n để ư thấy khi nào ba tôi muốn có thêm
áo chemise, quần tây, hay bộ vest mới ông đều đến tiệm may mà ông tín nhiệm
để may. Muốn thay đôi giày mới cũng vậy, ông luôn đến tiệm đóng giày mà ông
thích, lựa da, chọn kiểu rồi đặt người ta đo ni, đóng giày. Phần mẹ tôi cũng
vậy, bà luôn có riêng một địa chỉ chuyên may bộ áo dài đắc ư nhất cho bà. Ở
Sài G̣n xưa, đa số người lớn trong các đô thị không có chuyện ra chợ lựa mua
quần áo, giày dép bán sẵn về dùng.
Những ngày âm lịch bước qua con số 20, không khí Sài G̣n chộn rộn hơn, nhà
nhà bắt đầu quét vôi mới, sơn phết lại cửa nẻo. Đến 23 âm lịch những gia
đ́nh theo đạo thờ cúng ông bà, hay theo Phật Giáo bắt đầu ra chợ mua thèo
lèo, cứt chuột là món bắt buộc về cúng ở bếp để tiễn ông Táo về trời, có nhà
c̣n mua thêm những h́nh giấy mà dân gian nghe gọi nôm na là: C̣ bay ngựa
chạy để đốt cúng. Tuần lễ cuối cùng sát Tết người ta bắt đầu lo đến bàn thờ
tổ tiên, thường là những cái tủ thờ lớn đặt giữa nhà. Việc đầu tiên, người
ta mang hết các vật dụng thờ bằng đồng xuống đất, có nhà ngâm đồ đồng vô
thùng có thêm khế xắt lát, me xanh, giấm pha với nước. Ngâm cho đồng thau ra
ten rồi dùng giẻ lau khô, sau đó người ta dùng một chai dầu chùi lư đồng
nhăn hiệu có h́nh con sư tử, bôi dầu đó lên khắp bộ lư đồng, đem ra sân phơi
nắng, sau đó đem vô lấy giấy nhựt tŕnh (giấy báo) mà chùi, càng chùi sẽ
thấy ten đen ra đầy giấy nhựt tŕnh. Có người kỹ tính, chùi ten lần đầu xong
đem phơi nắng tiếp, sau đó vô chùi cho lư bóng ngời lên mới chưng lên bàn
thờ. Giữa bàn thờ là bộ lư chính thật lớn có 4 chân quỳ, bên trên có một nắp
vuông cũng bằng đồng đậy lại, trên nắp có một con sư tử bằng đồng đứng ngó
mặt qua một bên.Hai bên hông phía trên bộ lư có khoét lỗ h́nh chữ nhật móc
lên hai lỗ đó hai cái mắc tre, hoặc sau này là hai cặp đào. Phía trước bộ lư
là một cái lư hương đồng nhỏ, đánh bóng, đổ đầy gạo để cắm nhang. Hai bên bộ
lư chính là hai cái chân đèn cũng đă được đánh dầu bóng sáng choang. Thường
trên chân đèn người ta sẽ cắm hai cây đèn cầy to màu đỏ sẽ được đốt vào đêm
giao thừa. Cũng có khi người ta dùng hai cây đèn sáp ong có màu cà phê sữa
lợt. Những gia đ́nh nghèo hơn, người ta tiện 2 cây gỗ kích cở như hai cây
đèn cầy, trên miệng khoét lỗ đặt vừa một cái chén nhôm, Tết đến người ta đổ
dầu phọng vô hai cái chén nhôm rồi thả hai cái tim đèn vô mà đốt. Trên bàn
thờ tổ tiên, thường ở phía bên phải c̣n có một cái dĩa lớn để chưng trái cây
gọi là dĩa quả tử. Dĩa này khá lớn đặt trên một cái giá đỡ 3 chân chạm khắc
h́nh 3 con rồng đầu đội dĩa quả tử. Cái giá đỡ đó có tên là cái tṛ. Gia chủ
tùy theo khá giả hay không mà chọn chưng các loại trái cây nào trên dĩa quả
tử, nhưng thông thường hay có trái thơm, cam quưt, nho. Tuyệt đối ngày Tết
không chưng cúng chuối. Dịp này ngoài những nơi thờ tự của Phật Giáo ra, các
thánh đường Công Giáo cũng chuẩn bị dọn đẹp, chưng bày các chậu hoa thật đẹp
để đón xuân. Bên trong nhà thờ thường có những cây mùa xuân khá lớn, trên
các cành có treo nhiều phong bao đủ màu để các tín đồ đi xem lễ đêm giao
thừa, hoặc sáng mùng 1 Tết xong sẽ đến đó chọn hái lộc. Bên trong mỗi phong
bao sẽ có một tờ giấy in lời Chúa.
Sát đến ngày Tết, sau khi mồ mă tổ tiên sạch sẽ, nhà cửa gia chủ đă khang
trang, đó là lúc nhà nhà đi lựa mua hoa về chưng Tết. Nói tới chuyện bông
hoa ngày Tết mới thấy cũng không hề đơn giản. Dân Sài G̣n, hay dân miền Nam
nói chung, không thể có Tết nếu thiếu bông mai. Do từ việc phát âm của chữ
may mắn và bông mai của người miền Nam xưa đọc sai thành ra nghe giông giống
nhau, v́ vậy người ta lâu dần cứ có niềm tin năm mới chưng mai trong nhà là
nguyên năm được may mắn (dù rơ ràng ngày nay ai cũng thấy chuyện trật chính
tả đó khá rơ ràng và c̣n có phần mê tín nữa, nhưng quen nếp lâu đời rồi biết
làm sao?). Khổ hơn nữa là do đặt hết niềm tin may mắn vào cái chậu ḿnh chọn
mua, lỡ năm nào đó sau khi ngủ xong đêm giao thừa, sáng mùng 1 dậy thấy nụ
mai rụng đầy dưới đất, mặt gia chủ buồn như mếu lo hốt dọn nụ mà ḷng mất
vui. Thật ra đâu phải hên xui ǵ ở đây, lỗi là tại ông nhà vườn trồng mai bỏ
phân sao đó nên nụ mới rụng sạch. Dân Sài G̣n xưa đa phần là gốc dân miền
Tây lên lập nghiệp, một số người Việt gốc Hoa, một số người Việt gốc
Campuchia, một số người Minh Hương. Tết ở Sài G̣n là Tết chung, nhưng có
loại hoa, loại trái người này chưng mà người kia kỵ. Người Việt ngoài mai ra
hay chưng hoa huệ (sáng suốt), vạn thọ (cầu sống lâu), các loại hoa cúc.
Nhiều người khác lại quan niệm huệ để chưng cho đám tang, vạn thọ để đem đi
cúng mă. Riêng người Hoa không chưng cúc v́ hoa cúc đi liền với cụm chữ thu
cúc, mà trong chữ thu có ẩn nghĩa: sầu (buồn). Người Sài G̣n xưa ngày Tết
không cúng chuối, chỉ v́ âm của nó giống chúi nhủi nên kiêng (dù chữ viết
khác biệt rành rành). Người Việt ngày Tết ăn khổ qua v́ tin mọi khổ ải sẽ
qua, nhưng người Hoa Chợ lớn không ăn vào dịp đầu năm chỉ v́ chữ khổ qua,
người Quảng Đông đọc âm là “phủ quá” có nghĩa là đắng quá. Ngày Tết người
Hoa hay mua cá về chiên để chưng hay cúng, v́ theo âm của tiếng Quảng Đông
đọc con cá là “dụy” hay “dư” , tức là chữ Hán Việt là ngư. Dụy theo người
Hoa hiểu là dễ dàng, ư cầu mong mọi sự đều dễ dàng. Cũng từ đó người Hoa
ngày Tết thường chọn mua cá hồng, ư nghĩa là tràn ngập hồng phúc. Riêng về
trái cây th́ trái hồng, thanh long đều được chọn. Riêng trái dưa hấu xưa nay
không thể thiếu trong gia đ́nh Việt Nam hầu như khắp nơi trên thế giới, v́
sao vậy? Bởi v́ dưa hấu được mệnh danh là loại quả “xanh vỏ đỏ ḷng”, trước
tiên đó là tính cách quân b́nh về âm dương. Hơn nữa, màu đỏ là màu may mắn
trong dịp Tết. Ngày Tết gia đ́nh quay quần bên mâm cơm, đầu năm cắt trái dưa
hấu ra, ruột đỏ tươi ai cũng thấy hân hoan. Trên bàn thờ hay mâm cơm gia
đ́nh ba ngày Tết c̣n có cái bánh chưng hay cặp bánh tét bên cạnh những hũ
dưa hành, củ kiệu, hay củ cải muối nước mắm.
2) Chọn câu đối đỏ để dán trong nhà.
Thông thường ở Sài G̣n xưa và miền Nam nói chung, gia đ́nh nào theo đạo thờ
cúng ông bà, hoặc theo Phật Giáo, trước nhà luôn có một bàn vọng thiên, hay
bàn ông thiên, hay bàn thiên. Bàn nhỏ có chân trụ cao bằng gỗ hay xi măng,
mặt bàn lót gạch. Bàn dùng để cúng trời, chiều nào gia chủ cũng phải thắp
nhang cho bàn ông thiên. Ở bàn ông thiên xưa luôn dán 4 chữ: “Thiên Cung
Dưỡng Phước” (việc này ảnh hưởng từ người Hoa). Do ảnh hưởng lâu đời từ
người Hoa nên người dân Sài G̣n xưa mỗi năm khi đến Tết, sau khi sửa soạn
nhà cửa khang trang cũng hay ra chợ, đến chỗ mấy ông đồ nhờ viết cho những
câu chữ mang về nhà dán. Chữ thường viết trên giấy điều (giấy đỏ là màu
hên), mực Tàu đen, hay mực màu kim nhũ (màu vàng nhũ). Thời xưa, để dán ở
cửa ra vô nhà, ông đồ thường viết câu: “ Xuất nhập b́nh an” . Ông đồ viết
bằng chữ Tàu, nhưng đọc theo tiếng Hán. (Không như ngày nay ở Việt Nam viết
bằng thư pháp tiếng Việt). Để dán trong nhà, tùy gia chủ chọn lựa theo sở
thích những câu chúc như: - “ Cung Chúc Tân Xuân”, “Phúc Lộc Thọ Tài”, “Đông
Thành Tây Tựu”, “Tài Nguyên Quảng Tiến”, “Quảng Tài Thuận Lợi”, “Niên Niên
Hữu Dư”... Riêng khi gia chủ muốn khai trương đầu năm, hoặc bạn bè muốn mừng
ngày khai trương doanh nghiệp của bằng hữu sau Tết th́ t́m đến ông đồ nhờ
viết những câu như:
- “Khai Trương Hồng Phúc” , hoặc: - “Mă Đáo Thành Công”, nếu có phải vẽ con
ngựa, cần phải vẽ sao cho đủ 7 con ngựa, thí dụ: 7 cái đầu ngựa đang phi về
một hướng, hoặc bộ chân của đủ 7 con ngựa đang lao tới.
3) Phong tục ĺ x́.
Thường th́ sáng mùng một Tết, con cháu được cha mẹ chở về nhà ông bà tụ họp,
ăn uống, vui chơi. Sau đó, ông bà ra ngồi pḥng khách, lần lượt các con, con
rể, con dâu xong đến các cháu tiến đến ṿng tay mừng tuổi và chúc Tết ông bà
(cha mẹ), sau đó ông bà (cha mẹ) chúc Tết lại cho con (cháu) và tặng cho
phong bao ĺ x́. Thời xưa ở Sài G̣n phong bao ĺ x́ luôn có màu đỏ v́ người
ta tin màu đỏ là màu hên. Và tục ĺ x́ này xuất phát từ Trung Hoa, thoạt đầu
mang ư nghĩa người lớn tặng lộc để giúp đỡ cho người nhỏ tuổi. Món tiền ĺ
x́ bên trong phong bao đỏ được coi như cái lộc đầu năm mới để hy vọng nguyên
năm tiếp theo sẽ phát đạt, may mắn. Người xưa thuộc giới giàu có nhân dịp
này c̣n ĺ x́ một số lộc lớn cho trẻ nhỏ lấy đó làm vốn để làm ăn. Do đó ư
nghĩa của ĺ x́ là tặng lộc, tạo nên động lực phấn khởi để tiến bước trong
làm ăn. Ĺ x́ c̣n mang ư nghĩa như một cái lộc bôi trơn cho mọi công việc
sang năm sẽ trơn tru, dễ dàng hơn. Nhiều người khác th́ xem tiền ĺ x́ là
tiền hên nên luôn cất, để dành cái hên sợ mất đi. (Những ư nghĩa trên đây
thật trùng khớp với quan niệm người Mỹ xưa nay vẫn tặng nhau tờ giấy bạc 2$
vào dịp Tết Dương Lịch và họ gọi đó là “Lucky Money”. Nhiều người ở Việt Nam
không hiểu nên hay nhăn nhó chê ít:- “Tết mà sao keo vậy, tặng ǵ có 2$,
liệu mua được ǵ?!!!). Riêng với con nít tiền ĺ x́ có ư nghĩa là niềm vui.
Con nít ngày xưa ở miền Nam Việt Nam rất ngây thơ trong trắng, hầu như không
cháu nào biết xài tiền, v́ vậy đa số chúng không tham tiền. Cô, bác, ông bà
nào ĺ x́ cho th́ cầm hai tay, cúi đầu miệng cám ơn, chúc Tết xong quay ra
đưa cho mẹ hay cho cha. Mấy đứa lớn hơn th́ đem về nhà bỏ ống heo, để dành
mua kẹo, bánh, đồ chơi, bút mực, hay truyện tranh, truyện thiếu nhi, cũng có
đứa chạy ra mua phong pháo chuột về đốt nổ đ́ đẹt mà vui. Ngày xưa do ảnh
hưởng nhiều của phong tục người Tàu nên trên mặt bao ĺ x́ đỏ cũng có in
những câu chữ như: -” Long Mă Tinh Thần” (coi như tiền ĺ x́ giúp thêm sức
khỏe về tinh thần), -”Tài Nguyên Quảng Tiến” (tiền tài rộng răi), hay: -
“Đông Thành Tây Tựu” (người đi học hay đi làm ǵ bên Đông bên Tây ǵ cũng
đều thành công).
Có tiền ĺ x́ rồi mua pháo. Tết xưa sẽ thật sự thiếu mùi, thiếu hương, thiếu
âm, thiếu tiếng nếu không có tục đốt pháo Tết. Pháo có nhiều loại, pháo
chuột, pháo tiểu, pháo trung, pháo đại, pháo tre, pháo nồi. Hiệu pháo nổi
tiếng đốt trăm viên tan xác trăm viên đến nay c̣n nhớ là pháo Điện Quang.
Mùi khói thuốc pháo lậm vô lỗ mũi hồi nhỏ giờ không thể nào quên, chỉ cần
nghe mùi pháo là biết Tết đến rồi.
Có tiền ĺ x́ rồi đi xe buưt vô Chợ Lớn coi múa lân. Xưa chỉ có múa lân,
không có rồng rắn ǵ hết.
Có tiền ĺ x́ rồi đi rạp Huỳnh Long Bà Chiểu, hay Long Phụng Sài G̣n coi
phim Ấn Độ do nam tài tử Ganeshan và nữ tài tử Savitri đóng Hoàng Tử Giả
Điên, Áo Vũ Phủ Long Bào, Sửa Rừng Thay Sửa Mẹ...
Có tiền ĺ x́ rồi đi Quốc Thanh coi Tùng Lâm, Thanh Việt, Phi Thoàn, Thanh
Hoài, La Thoại Tân... cười bể bụng...
Ông bà lớn tuổi kêu xích lô máy đi coi cải lương Thanh Minh Thanh Nga, Dạ Lư
Hương, hay kịch Túy Hồng
4) Tục cúng Tết và tánh hào săng của người Sài G̣n xưa.
Bao nhiêu năm qua rồi trên xứ người nhưng chẳng thể nào quên ngày Tết đặc
biệt của mảnh đất Sài G̣n thân yêu xưa. Nhớ Tết, tôi bỗng nhớ đến một vài
ngôn ngữ Tết, hay nói đúng hơn, tôi muốn nhắc lại giọng người Sài G̣n xưa,
thời mới lớn tôi vẫn thường nghe vào dịp Tết Nguyên Đán. Người Sài G̣n, ông
bà chúng ta thời xa xưa ấy luôn xem Tết là một giai đoạn rất thiêng liêng
trong năm. Ngày Tết người ta luôn sắm quần áo mới để đi cúng chùa, cúng
lăng, cúng đền, đi nhà thờ, hoặc đi thăm viếng nhau. Tết là dịp hướng về tổ
tiên nhiều nhất. Người theo Phật Giáo, hay đạo thờ cúng ông bà thường long
trọng cúng cơm nước, lễ vật, bông hoa, trái cây thật đầy đủ ngay từ trưa 29
hoặc 30 âm lịch, họ gọi đó là bữa cúng cơm rước ông bà về nhà ăn Tết cùng
con cháu. . Do niềm tin như vậy, sau khi ông bà đă về, mỗi sáng hoặc trưa
mùng 1, mùng 2 âm lịch gia chủ đều có cúng cơm cho ông bà tổ tiên về hưởng
cùng con cháu. Đặc biệt bữa cơm trưa mùng ba, cúng con gà được gọi là bữa
cơm tiễn ông bà ra đi, do đó ngoài chợ ngày mùng 3 Tết giá gà khá mắc hơn
ngày thường. Từ đó ba ngày Tết đối với mỗi gia đ́nh đều rất thiêng liêng và
trang trọng. Tết cũng là dịp để con cháu đi làm ăn khắp nơi quay về gia đ́nh
thăm ông bà, cha mẹ và họ hàng. Là dịp để tập cho các cháu c̣n nhỏ biết được
truyền thống của gia tộc. Và Tết là dịp để người lớn ĺ x́ tiền lấy hên cho
con cháu. Trong những ngày ấy, bất cứ đi đâu cũng nghe bà con Sài G̣n xưa
truyền khẩu nhau những nhóm từ ngữ ám chỉ thời gian đặc biệt này như sau :
“Ba ngày Tết”, “Ba ngày này”, Tết nhứt”, hay gọn hơn là: “ Tết mà”...Những
nhóm chữ đơn giản ấy, vậy mà ở khắp nơi trên đất Sài G̣n xưa, đi đến đâu
cũng nghe người ta nói liền miệng vào mỗi dịp cận Tết cho đến hết tháng
giêng, nhứt là nhóm chữ: “Ba ngày này”. Thoạt đầu, “ba ngày này” do những
người thương buôn ngoài chợ nói, có lẽ ư họ muốn ám chỉ từ tờ mờ sáng 27, 28
đến trưa 29 âm lịch (những năm không có ngày 30). C̣n những năm có tháng
chạp đủ, ba ngày này có thể là: từ tờ mờ sáng 28, 29, đến trưa 30, tức là 3
ngày chợ cuối cùng của năm. Trưa 29 hoặc trưa 30 chợ bắt buộc phải dẹp để
các công nhân vệ sinh lo quét tước, dọn dẹp chợ sạch sẽ để đón Tết. Nói về
chợ Tết, không thể nào quên không khí các chợ đêm thường được nhóm từ đêm 23
tháng chạp. Chợ đêm luôn nhộn nhịp, đông vui, sáng trưng cả đêm. Nhóm chữ
“Ba ngày này” dần dà đă được dùng rộng răi hơn, và không c̣n đóng khung nhất
định ba ngày nào , nhất là người Sài G̣n luôn ăn Tết trong tinh thần: Tháng
giêng là tháng ăn chơi, cho nên hăy c̣n Tết là c̣n dùng được “Ba ngày này”.
Giờ đây xin các bạn theo tôi, thử đi một ṿng Sài G̣n xưa trong không khí
Tết để cùng nghe lại “ngôn ngữ Tết” ở vùng đất thân thương muôn đời của
chúng ta, để thấy tánh người dân Sài G̣n luôn hào phóng ra sao.
Một cháu bé ngồi đánh giày trước nhà hàng Thanh Bạch đường Lê Lợi, cháu vừa
trao cho ông khách đôi giày sáng bóng. Ông móc túi trả tiền, cháu bé đánh
giày thưa:
- Thưa ông, xin cho con tiền lẻ. Con mới đánh cho ông đôi giày đầu tiên nên
con chưa có tiền thối.
Ông khách cúi xuống cười vỗ nhẹ lên đầu cháu:
- Con khỏi thối, Tết mà.
Một bà vừa xuống xích lô ở Lăng Ông Bà Chiểu dúi tiền vào tay cậu thanh
niên:
- Ba ngày này cầm thêm chút đỉnh cho vui nhe con!
Một ông đang ngồi quán cà phê nh́n thấy người bạn trong xóm bước ra liền
kêu:
- Tết nhứt đi đâu sớm vậy anh Sáu? Ghé uống cái cà phê rồi đi.
Bà Bảy trong hẻm nhỏ bến B́nh Đông ra chợ giáp Tết thấy bà bán rau c̣n ế, bà
lựa mua một ôm rau thật lớn, trả tiền rồi bà c̣n dúi vô túi áo bà bán rau
một nắm tiền, bà nói:
- Tết tới rồi, chị giữ tiền này mua ít đồ ăn về ăn ba ngày Tết. Chị coi
chừng khéo mất nhe.
Bà Năm bên Phú Nhuận thấy ông đổ rác đi dọn rác trưa 30, tháng này bà đă trả
tiền rác cho ông rồi, nhưng bà hối đứa cháu ngoại xách bịch gạo 10 kư và một
bao đỏ ĺ x́ chạy ra. Thằng nhỏ đưa cho ông đổ rác gầy g̣, miệng nói:
- Ông ơi! Ngoại con nói đem cái này ra biếu ông d́a ăn Tết.
Bà Chi ở xóm Tân B́nh ĺ x́ cho đứa cháu ở xa mới ghé thăm:
- Năm mới rồi con ơi!. Ráng làm ăn và siêng đi nhà thờ cầu nguyện nhe con!
Bà Tám ở quận tư vừa tụng kinh xong, bước ra cửa sau gặp ông lăo bán dạo dầu
hôi, bà quắc lại mua 2 lít dù trong bếp vẫn c̣n dầu hôi xài qua Tết. Trả
tiền xong bà c̣n cho ông thêm một số tiền:
- Ba ngày này, cầm đỡ thêm chút đỉnh mua thêm bó rau, con cá nhe chú!
D́ Ba ở xóm cầu Trương Minh Giảng vừa đi đâu về bằng taxi, dúi tiền vô tay
cậu tài xế nói:
- Chút đỉnh này là lộc nhe con. Tết nhứt mà, nhiều nhỏ ǵ đâu!
Mấy anh em con chú Tư ở Phan Văn Trị gặp người mua ve chai trong xóm bị bể
bánh xe đạp ngay chiều ba mươi, tụi nó ra phụ vá xe, c̣n chú Tư cho người đó
ít tiền:
- Tết sắp đến rồi cầm cái này mua ǵ về ăn chứ tối tới nơi rồi.
Anh Bảy ra ngỏ Trương Minh Giảng mua phong pháo Điện Quang, thằng nhỏ không
có bốn đồng lẻ để thối, anh Bảy cầm phong pháo vừa đi vừa nói:
- Thôi được, Tết mà! Coi như chú ĺ x́ con đầu năm đó nhe!.
Má Tư Hóc Môn nhai miếng trầu miệng đỏ tươi cầm bao ĺ x́ đưa cho đứa cháu
ngoại:
- Tết nhứt rồi! Năm tới xui đi hên tới. Thôi lo mần ăn nuôi vợ con nhe con!
D́ Ba nhà ở Cây Thị nói với người đem giao bánh Tét:
- Tui trả tiền bánh nè. C̣n cái này ĺ x́ Tết nhe.
D́ Sáu nhà ở Hóc Môn ĺ x́ cho thằng cháu trên Sài G̣n xuống:
- Ba ngày Tết tao ĺ x́ lấy hên nè! Đừng quánh bài nhe!
Đứa con dâu nhà kế bên chào cha mẹ chồng về quê thăm cha mẹ, cô nghe cha mẹ
chồng dặn:
- Con d́a dưới nói cha má trên này thăm anh chị ở dưới. Cha má không có ǵ
ngoài chút đỉnh quà này gửi anh chị ăn Tết nhe con.
Ông Năm xóm cầu kinh bận bộ đồ lụa lèo mới cáu bước qua nhà ông bà Ba:
- Tết nhứt, mời anh chị Ba bước qua nhà vợ chồng tui ăn bữa cơm Tết lấy
thảo.
Chuyện như vậy đó, ở mảnh đất Sài G̣n thân thương này từ xưa có khi rất đúng
với câu: “Lá lành đùm lá rách. Lá rách đùm lá nát” là như vậy.
Để kết thúc chuyện tản mạn Tết của người Sài G̣n xưa, tôi xin kể lại đây một
giai thoại khá xưa về đôi liễn treo Tết trong những ngôi nhà giàu có. Giai
thoại này tôi đă được bà ngoại tôi kể cho nghe từ năm tôi mới học lớp đệ
thất (lớp 6 hiện nay). Bà ngoại tôi xuất thân từ Cầu Kè, xứ khỉ ho c̣ gáy
thuở xưa ở miền Tây lên đất Sài G̣n lập nghiệp.
Chuyện kể rằng, xưa có ông phú hộ, đương nhiên thuộc loại giàu nứt đố đổ
vách, nhưng tánh lại keo kiệt, ác đức nổi tiếng khắp vùng quê. Giàu nhưng
ông luôn lường công của tá điền và gia nhân. Tuy vậy ông luôn muốn thiên hạ
phải nể phục và kính sợ ông. Một hôm khi ngày Tết nguyên đán đă gần kề, ông
đích thân t́m đến nhà ông đồ nghèo, nhưng thanh bạch để nhờ ông đồ viết cho
đôi liễn treo ngay cổng ra vào. Ông đồ hỏi ông phú hộ muốn viết liễn về nội
dung ǵ. Ông phú hộ không ngần ngại nói thẳng:
- Thầy đồ biết tôi rồi đó. Ở nguyên cả vùng này ai không biết tôi là phú hộ,
tôi giàu nứt đố đổ vách, và c̣n thương người biết bao. Vậy th́ chữ nghĩa của
thầy đồ liệu có đủ để ngợi ca sự giàu có của tôi hay không?
Thầy đồ im lặng suy nghĩ, sau đó ông hẹn ngày giao đôi liễn. Đến ngày, ông
phú hộ sai gia nhân đi lấy đôi liễn về và trả tiền công cho thầy đồ keo kiệt
gần như làm thí công. Tuy vậy nhưng thầy đồ vẫn b́nh thản, ông giao đôi liễn
cho gia nhân phú hộ mang về. Về đến nhà, phú hộ trải đôi liễn ra xem. Do
chẳng học hành tới đâu, chỉ nh́n thấy nét chữ rồng bay phượng múa là đă
khoái trong bụng rồi. Ông gọi gia nhân tới, dạy họ đem treo đôi liễn thật
trang trọng ở cỗng ra vào cho mọi người chiêm ngắm.
Tết đến, nhiều bạn bè xa gần đến viếng nhà, phú hộ đều đưa họ ra khoe đôi
liễn. Xưa nay nhân gian có câu: - “ Ngưu tầm ngưu, mă tầm mă”. Th́ ra đa số
bằng hữu của phú hộ cũng dốt nát như nhau nên ai xem xong cũng gật gù tấm
tắc. Phú hộ đắc chí lắm. Xế trưa mùng 2 Tết có người hàng xóm đi xa lâu năm,
nay mới quay về chốn cũ, đến viếng thăm và thưởng xuân. Khách là người hay
chữ, vừa nh́n đôi liễn, ông bắt đầu đọc to lên:
- Hiền Tạ Thu Sương Giai Tắc Kiết.
- Thiên Tường Tác Biệt Tại Thu Sương.
Hai câu này dịch nghĩa tạm hiểu như sau:
- Người sống yên ổn trong nhà phước thu được thật lành mạnh
- Những chuyện an lành được trời ban cho trời đất đă tỏ tường
Đọc xong ngẫm nghĩ tới lui, ông khách thấy câu này không hề xứng đáng với
tính keo kiệt bủn xỉn của lăo phú hộ. Nghĩ hoài, thấy lạ quá. Đọc đi, đọc
lại nhiều lần, bất chợt vị khách ngộ ra điều ǵ đó, ông cười lớn sảng khoái.
Nh́n kiểu cách cười của vị khách, tay phú hộ xám mặt lại. Vị khách phương xa
thấy đă đến lúc cũng nên dạy cho tay phú hộ này một bài học. Ông nh́n thẳng
vào mặt ông phú hộ và nghiêm giọng:
- Lúc nảy ông định khoe tôi đôi liễn này như vầng hào quang chói lọi của ông
chứ ǵ. Ông nghe cho rơ này. Từ trước tới nay ông đă sống như thế nào mà đây
là kết quả người ta đă mô tả về ông. Hăy lấy đó làm bài học mà sống tu tỉnh
đạo đức lại, may ra c̣n kịp. Hai câu liễn trên đọc theo chữ Hán là:
-” Hiền Tạ Thu Sương Giai Tắc Kiết
- Thiên Tường Tác Biệt Tại Thu Sương”
Nhưng hai câu này thầy đồ đă chơi khăm nếu ai đó biết đọc âm ra tiếng Việt
thành hai câu chữ nói lái sẽ như thế này:
- “Hà Tiện Thương Xu lại Tiếc Cắc
- Thương Tiền Tiếc Bạc lại Thương Xu.”
Lăo phú hộ giận run, té không kịp đỡ...
Nhân dịp Xuân Giáp Th́n 2024, Chu Thụy Nguyên thân chúc tất cả các bạn
facebook cùng quư quyến trọn một năm mới nhiều Ơn Phước, Dồi Dào Sức Khỏe,
An khang, Thịnh Vượng, và Hạnh Phúc thật Như Ư.
Chu Thụy Nguyên.
(Xuân Giáp Th́n 2024)
art2all.net