|
CÁC CON VUA GHI DẤU ẤN ĐẬM NÉT
Lá ngọc cành vàng, cổ vật triều Nguyễn
Thời phong kiến các triều đại
thỉnh thoảng gả Công Chúa cho các nhóm thế lực địa phương xa xôi hẻo lánh gọi là
Tù Trưởng để giữ ḥa hiếu nhằm làm phên dậu bảo vệ ngai vàng, đồng thời tránh
được nhọc công quân binh triều đ́nh. Dưới thời Chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên cũng
có hôn nhân dị chủng Việt-Chiêm, Việt-Miên nhưng không được chính sử ghi lại
trong Liệt Truyện hay Thực Lục, tận tới năm 1920 trong cuốn Généalogie des
Nguyễn avant Gia Long (Phổ hệ nhà Nguyễn trước Gia Long) tác giả Tôn thất
Hân [1] và Bùi thanh Vân cũng vẫn giữ nguyên như Quốc Sử Quán “ Ngọc Khoa con
gái thứ của Săi vương, không để lại dấu tích. Ngọc Vạn con gái thứ của Săi vương,
không có dấu tích ǵ về Ngọc Vạn”, măi tới năm 1943 mới được Đào Trinh Nhất
(1899-1951) nói đến lần đầu trong V́ệt Sử Giai Thoại (tức là chuyện
truyền miệng trong dân gian), tiếp theo có các tác giả Thái Văn Kiểm (1922-2015)
trong Đất Việt Trời Nam, Hoàng Trọng Miên (1918-1981) trong Việt Nam
Văn Học Toàn Thư chỉ đề cập qua loa không đi vào chi tiết (theo Wikipedia).
Năm 1995 trong Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả xuất bản ở Huế mới xác định rơ
truyện của hai bà. “Về cuộc Nam Tiến, Ngài (chúa Săi) đă dùng chính sách hoà
b́nh, thân thiện với Chiêm Thành và Cao Miên. Năm 1620, Chúa gả Công Nữ Ngọc Vạn
cho vua Cao Miên là Chư Chetta II (1618-1686) nên dân chúng vào làm ăn sinh sống
ở vùng đất Thủy Chân Lạp của Cao Miên được thuận lợi. Năm 1631, Chúa lại gả Công
Nữ Ngọc Khoa cho Vua Chiêm Pô Romê, nhờ đó mà có sự hoà hiếu Chiêm-Việt.”;
năm 2002 xuất hiện Tiểu Thuyết Lịch Sử ở hải ngoại của Ngô Viết Trọng viết về
Công Nữ Ngọc Vạn có nhiều chi tiết hơn. Xét ra sự nghiệp của hai Công Nữ này
thuộc vào “nhi nữ thường t́nh” có đóng góp phần nào công lao trong sự nghiệp mở
mang bờ cỏi của Chúa Nguyễn, tuy thế nhà Nguyễn vẫn xem không lấy ǵ to tát nên
không ghi vào chính sử, chỉ có Công Chúa Huyền Trân đời Trần thực sự có ư nghĩa
lịch sử. Xuyên suốt lịch sử từ Hồng Bàng tới nhà Nguyễn tác giả nhận thấy có ba
người con vua đă để lại dấu ấn đậm nét: Công Chúa Mỵ Châu, Công Chúa Huyền Trân,
và Hoàng Tử Cảnh.
An Dương Vương Thục Phán xây thành Cổ Loa không được, thần kim quy hiện ra giúp, vua xây được thành, lại cho vua móng rùa làm vũ khí giữ thành; vua sai Cao Lỗ ( có nơi chép Cao Thông) làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên Linh Quang Kim Trăo Thần Nỏ. Công Chúa Mỵ Châu nhẹ dạ tin vào chồng Trọng Thủy, một điệp viên nằm vùng theo lệnh cha (Triệu Đà) để t́m hiểu sức mạnh quân cơ, ḍ biết nỏ thần là vũ khí lợi hại giữ nước của nhà Thục. Trọng Thủy năn nỉ vợ được xem rồi đánh tráo mang về xứ. Triệu Đà có được nỏ thần không c̣n lo ngại khả năng pḥng thủ của Thục Phán nữa, xua quân tiến đánh Âu Lạc. Khi hay tin, An Dương Vương rất tự tin vừa đánh cờ vừa cười bảo “Triệu Đà không sợ nỏ thần của ta ư?”, đến lúc quân địch uy hiếp Cổ Loa, đem nỏ thần ra bắn mới hay nỏ thần không c̣n tác dụng nữa. Thục Phán phải nhảy lên ngựa mang theo con gái Mỵ Châu thoát thân. Quân Triệu Đà do Trọng Thuỷ dẫn đầu bám theo sát gót, Mỵ Châu nghe theo lời Trọng Thủy dặn ḍ khi chia tay, nếu có chuyện ǵ xảy ra th́ răi lông ngỗng để chàng dễ kiếm, chính lông ngỗng Mỵ Châu rải đă dẫn đường cho Trọng Thuỷ truy sát cha ḿnh. Vua chạy đến núi Mộ Dạ nay thuộc địa phận xă Diễn An, huyện Diễn Châu, Nghệ An th́ cùng đường, nh́n thấy biển Cửa Hiền liền gọi rùa vàng “mau tới cứu ta”. Kim quy nổi lên mặt nước mắng rằng “kẻ ngồi sau lưng ngựa là giặc đấy sao không giết”. Vua quay mặt, rút gươm chém Mỵ Châu, Mỵ Châu khấn “trung tín trọn tiết, bị ngướ đánh lừa, xin hóa thành ngọc châu để rửa thù nhục này”, vua chém bay đầu Mỵ Châu rồi chạy xuống biển tự vẩn, máu Mỵ Châu loan mặt nước loài trai nuốt vào bụng, hóa làm ngọc minh châu. Trọng Thủy đuổi theo đến nơi, thấy Mỵ Châu đă chết, thương khóc ôm xác về chôn ở Loa Thành, hóa làm đá ngọc, rồi nhảy xuống giếng tự sát. V́ t́nh yêu mù quáng ngây thơ Mỵ Châu đă vô t́nh tiếp tay kẻ địch giết cha, làm mất nước Âu Lạc vào tay Triệu Đà. Nhà Thục tồn tại được 50 năm (257-208 TCN). Dân trong vùng lập miếu thờ An Dương Vương ở Cửa Hiền, Nghệ An. Khi màn đêm buông xuống người ta thấy có đốm lửa lập loè trên sườn núi Mộ Dạ, người dân tin đó là linh hồn của ông nên lập đền thờ trên núi gọi là Đền Cuông, v́ núi có nhiêu công, tiếng địa phương Nghệ An đọc là cuông. Đền được trùng tu nhiều lần, đến năm 1864 vua Tự Đức sắc chỉ xây dưng đền qui mô lớn như hiên nay. Lễ hội Đền Cuông diễn ra hàng năm vào các ngày 14,15,16 tháng 2 âm lịch. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, việc tế lễ hàng năm ở đền Cuông không thực hiện được măi đến năm 1993, lễ hội đền Cuông được phục hồi.
Am thờ công chúa Mỵ Châu ở Cổ Loa Thương cảm cho t́nh yêu ngây thơ chân thật của Mỵ Châu, nhưng hận v́ nàng đă trao nhầm cho giặc cướp làm mất nước Âu Lạc. Dân xă Cổ Loa huyện Đông Anh, Hà nội lập am thờ phiến đá cụt đầu để nhắc nhở hậu thế. Cụ Lê Dư có để lại hai câu đối trong am:
Thiên cổ thụ giai khí uất thông, duyên đới t́nh căn hoàn
tẩm miếu
(Cây ngh́n năm khí lành phảng phất, rễ t́nh dây duyên quấn
quanh miếu điện Phạm Hoàng Quân dịch.
Công Chúa Huyền Trân Tháng 3 năm Tân Sửu (1301) Thái thượng Hoàng Trần Nhân Tông đi chơi Chiêm Thành hứa gả con gái cho chúa Chiêm, Chế Mân sai Chế Bồ Đài dâng biểu dâng vàng bạc kỳ hương, và các vật phẩm lạ xin cưới, đ́nh thần bàn thảo không gả chỉ có Văn Túc Vương Trần Đạo Tái và Nhập Nội Hành Khiển Trần Khắc Chung tán thành. Cuộc hôn nhân dị chủng Việt Chiêm của Công chúa Huyền Trân đă đem của hồi môn về cho Tổ Quốc hai châu Ô, Lư vùng đất Thuận Hóa sau này. Chính vùng đất này là nơi khởi nghiệp của gịng họ Nguyễn, từ khi Chúa Tiên Nguyễn Hoàng mang gươm đi mở nước ở phương nam đă chọn để định đô ở đây mở đầu sự nghiệp nhà Nguyễn. Vào thời điểm này địa giới phía nam nước ta kéo tới núi Thạch Bi ở địa phận tỉnh Phú Yên. Năm 1471 vua Lê Thánh Tông đánh Chiêm, chiếm thành Chà Bàn (thành B́nh Định) bắt được vua Chiêm Trà Toàn, khi rút quân về đi đến núi này cho dựng bia nên gọi là núi Thạch Bi, vùng đất này được vua Lê Thánh Tông sáp nhập vào Quảng Nam Thừa Tuyên. Có thể nói vùng đất Thuận Hóa là căn cơ bản địa của nhà Nguyễn làm bàn đạp hưng cơ khởi nghiệp mở rộng biên cương đến tận Mũi Cà Mau của 9 đời Chúa Nguyễn. Tháng 9 Đinh Mùi (1307) vua Chế Mân mất, triều đ́nh vua Trần Anh Tông sai quan Thượng Thư Tả Bộc Xa Trần Khắc Chung, An phủ Sứ Đặng Vân sang viếng tang, lập mưu đưa Công Chúa về nước. Theo Đại Việt Sử Kư của Lê Văn Hưu, Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy Công Chúa, rồi tư thông, đi biển loanh quanh gần một năm mới về tới Thăng Long. Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng ghét lắm, mỗi khi thấy Khắc Chung th́ mắng “thằng này là điềm chẳng lành đối với nhà nước. Họ tên nó là Trần Khắc Chung, nhà Trần rồi mất về nó chăng?” Khắc Chung thường sợ hăi né tránh. Sau khi Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng mất (1313) Khắc Chung mới được thăng chức Tả Phụ tước Quan Phục Hầu. Vua Trần Minh Tông kế vị, năm 1315 Khắc Chung được giữ chức Hành khiển ( Tể Tướng) tước Á Quan Nội Hầu. Ông mất năm 1330, đời vua Trần Hiến Tông, được truy tặng chức Thiếu Sư. Cuộc t́nh Trần Khắc Chung và Công Chúa Huyền Trân đă tốn biết bao bút mực của nhiều sáng tác gia nhưng chỉ là ước đoán, sự thực như thế nào đă theo họ vùi sâu vào ḷng đất lạnh. Công Chúa đă chọn cửa Phật sống an tịnh, thọ Bồ tát giới ở nuí Châu Sơn do Quốc Sư Bảo Phát ấn chứng, Pháp danh Hương Tràng (có thể chỉ là một am nhỏ trên núi). Bà mất ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Th́n (1340) hưởng thọ 53 tuổi (1287-1340). Để tưởng nhớ Công Chúa, Triều đ́nh nhà Nguyễn (1802 - 1945) đă lập miếu Đại Đế Vương ở làng Lịch Đợi, phường Đúc, TP Huế, thờ các vị khai quốc công thần, trong đó có Công chúa Huyền Trân. Miếu thờ này ngày nay không c̣n nữa.
Đền thờ công chúa Huyền Trân tại Huế Nhân kỷ niệm 700 năm Thuận Hóa-Phú Xuân (1306-2006) Tỉnh Thừa Thiên xây dựng đền thờ Huyền Trân nằm dưới chân núi Ngũ Phong thuộc thôn Ngũ Tây, xă Thủy An (nay là phường An Tây), TP Huế, nhằm tưởng nhớ vị Công Chúa đă mang về một vùng đất nổi danh măi măi trong lịch sử nước nhà. Đền thờ làm tâm điểm cho cụm TRUNG TÂM VĂN HÓA HUYỀN TRÂN, lễ hội hằng năm vào ngày mồng 9 tháng giêng âm lịch.
Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim hay Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn, những sách sử chính được các thầy cô giáo dựa vào để dạy học tṛ, đều nói rất sơ lược về Hoàng tử Cảnh: theo Bá Da Lộc qua Pháp cầu viện, về nước được phong Đông Cung, rồi bỏ lửng cho ch́m vào bóng tối. Nay tham khảo bộ Thực Lục, Liệt Truyện người viết muốn đem ra ánh sáng công lao sự nghiệp của ông đă đóng góp trong việc khôi phục nhà Nguyễn và những bất hạnh của vợ con ông phải gánh chịu. Từ ngàn xưa nước ta chỉ giao thiệp trong khu vực, thần phục Thiên Triều Trung Hoa, giao lưu các phiên thuộc của Trung Hoa như Xiêm, Miến Điện, Miên, Lào… Hoàng tử Cảnh là sứ giả đầu tiên của nước ta đặt chân đến Paris, một phương trời xa lạ với truyền thống, mở ra trang sử bang giao mới, kư kết hiệp ước theo định chế Tây phương. Ông sinh năm 1780 tại Gia Định, con thứ hai của Quế Phi tức Nguyên Phi Tống Thị Lan, (Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu). Bà có hai người con, con trưởng tên Chiêu mất sớm, con thứ hai trở thành con trưởng. Năm 1793 Quế Phi nhận Hoàng tử thứ tư Nguyễn Phúc Đăm c̣n có tên Hiệu [2] sinh năm 1791, con trưởng của Minh Phi tức Thứ Phi Trần thị Đang (Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu) làm con nuôi, sau này là vua Minh Mạng. Ông c̣n có hai người em Hoàng Tử thứ hai Nguyễn Phúc Hy, không rơ tên mẹ, tử trận tháng 4 Tân Dậu (1801) ở tuổi 20 tại B́nh Định đang trong chiến dịch truy đuổi Tây Sơn co cụm về Phú Xuân, được mang về Gia Định mai táng và Hoàng tử thứ ba Nguyễn Phúc Tuấn con bà Chiêu Dung họ Lầm, chết lúc 12 tuổi. Gia Long thứ 8, tháng 6 hai Hoàng Tử này được cải táng mang về Huế, không thấy nói an táng ở đâu.
(...)
Ta hăy bắt đầu bằng hài đồng nổi tiếng Tháng 6 năm 1789 ông về đến Gia Định, Nguyễn Vương rất vui mừng khi cha con được trùng phùng. Tháng 3 ngày Giáp Dần năm Quư Sửu (1793) ông được lập làm Đông Cung, 14 tuổi (Liệt Truyện ghi mùa xuân Quí Sửu-1792) ban cho ấn Đông Cung, lănh chức Nguyên Súy dinh Tả quân, Phó Tướng Tả Quân Phạm văn Nhân, và Giám quân Trung Quân Tống Phước Đạm giúp việc. Nguyễn Ánh muốn đào tạo ông thành một ông vua văn vơ song toàn để kế nghiệp, “dựng Nhà Thái Học, đặt một Đông Cung Phụ Đạo, 2 Thị Giảng, 8 Hàn Lâm thị học, 6 Quốc Tử Giám, mỗi ngày hai buổi họp các quan đốc học ở Nhà Thái Học để giảng bàn kinh sử. Phàm Đông Cung nói ǵ thị học phải ghi hết, mỗi tháng một lần tiến lên vua xem dể xem đức nghiệp tiến ích thế nào”(ThựcLục). Chỉ định Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định làm Đông Cung Thị Giảng. Năm Ất Măo (1795) tháng 10, chỉ định Phó Tướng Phạm văn Nhân phụ đạo Đông Cung, nhà vua dụ rằng: “Đông Cung là ngôi trừ nhị, tuổi c̣n non trẻ, tuy công phu học vấn vốn nhờ giảng viện nhưng nhiệm vụ giúp bảo (phụ đạo) là ở đại thần……..Cốt sao giúp đỡ Thái Tử hun đúc đức tốt chẳng những trong lúc nói năng nghĩ ngợi sao cho ít lỗi, lại mong mọi việc quốc gia thảy đều biết cả, đừng để cho chỉ Y Doăn nhà Thương và Thiệu Công nhà Chu được tiếng tốt riêng về trước.”(TL). Lần lượt cử các quan Ngô Tùng Châu,Nguyễn Thái Nguyên Phụ Đạo (1798), “Tùng Châu học hành thuần chính, hết ḷng can răn, Đông Cung nể trọng lắm”(QTCB). Năm Canh Thân (1800) tháng 4 lấy hàng thần Đốc học Nguyễn Gia Cát làm Đốc học theo hầu. Song song với việc đào tạo nhân cách và phương cách trị quốc, ông cũng được thực nghiệm chiến trường theo cha đi đánh Tây Sơn. Tháng 4, năm Quư Sửu, ngay sau khi nhận dinh Tả Quân ông được chỉ định giữ thành Gia Định. Tháng 11, Đông Cung mang dinh Tả Quân ra giữ thành Diên Khánh thay Nguyễn Văn Thành, có Bá Đa Lộc và các quan Thị Học cùng đi theo. Nhà vua dặn ḍ rất kỹ lưỡng lúc ra đi [3]. Giáp Dần (1794) tháng 3 Tây sơn đem quân thủy bộ vào đánh Qui Nhơn. Bộ binh Đông Cung đánh úp phá được ba bảo (thành bằng đất) Hà Nha, Thị Bảo, và Chủ Sơn bắt được 2000 quân Tây Sơn. Tháng 8 Đông Cung được lệnh rút về Gia Định. Vơ Tánh giữ Diên Khánh. Ất Măo (1795) tháng 2, Nguyễn Vương đi cứu viện. Đông Cung giữ Gia Định. Đinh Tỵ (1797) tháng 4, Nguyễn Vương đi đánh Qui Nhơn, Đông Cung Cảnh đi theo, Tôn Thất Hội giữ Gia Định. Đích thân Nguyễn Vương tiến đánh Đànẳng, sai Đông Cung đem dinh Tả Quân vào cửa Đại Chiêm (Cửa Đại) đánh chiếm Chiêm Dinh (Hội An-Quảng Nam). Tháng 6 Đông Cung đi đánh La Qua chiến thắng được thưởng 1000 quan tiền. Tháng 8 đại quân rút quân vể Gia Định, Nguyễn văn Thành và Đặng Trần Thường giữ Diên Khánh Mùa đông Mậu Ngọ (1798) tháng 10 Đông Cung ra giữ Diên Khánh thay Nguyễn văn Thành và Đặng Trần Thường. Bá đa Lộc cùng với Phó Tướng Tống Viết Phước và Nguyễn Công Thái đi theo. Tháng 9 Kỹ Mùi (1799) Bá Đa Lộc chết ở Diên Khánh v́ bệnh kiết lỵ, sai Nguyễn Văn Tánh và Đặng Trần Thường giữ Diên Khánh, Nguyễn Vương cùng Đông Cung rút quân về Gia Định. Cuối năm này Tây Sơn uy hiếp Diên Khánh. Canh Thân (1800) tháng tư, Nguyễn Vương khởi binh cứu viện, lưu Đông Cung Cảnh giữ Gia Định, Hoàng Tử Hy đi theo. Đông Cung lo trị an thành Gia Định, chuẩn bị quân nhu lương thực, đóng thêm thuyền chiến, tuyển thêm binh lính để tự pḥng thủ và cung ứng cho tiền tuyến.
Ngày Quư Sửu mồng 7 tháng 2 năm Tân Dậu, (20/3/1801) Đông
cung Cảnh mất v́ bệnh đậu mùa, thọ 22 tuổi. An táng tại Gia Định, (Nguyễn thị
Chân Quỳnh nói táng ở B́nh Định [4] ), Gia Long thứ 8 cải táng về Dương Xuân (Thừa
Thiên-Huế) Có thể nói Đông Cung Cảnh đă được Nguyễn Vương đào tạo bài bản kỹ càng sẵn sàng đảm trách tiếp nối sự nghiệp của ḿnh. Ông theo Bá Đa Lộc từ nhỏ, cuộc đời ông luôn gắn bó với Sư Phó cho đến khi ông ta qua đời, việc hậu sự cũng có sự đóng góp tích cực của ông. B́nh sinh ông rất muốn chính thức trở thành một con chiên Gia-Tô Giáo, nhưng v́ sợ phật ḷng Nguyễn Vương, bề ngoài Bá Đa Lộc không chịu, buổi ban đầu khi mới ở Pháp về ông không chịu lạy bàn thờ Tổ Tiên. Sau khi Sư Phó Bá Đa Lộc (Đức Thầy Vêrô) chết, ông sống bê tha buông thả đam mê tửu sắc, trước khi chết ông nhờ người rửa tội trở thành một con chiên chính thức. Ông là một con chiên ngoan đạo khi ở Pháp nên được biệt danh là Hoàng Tử Pascal. Ông có cảm t́nh đặc biệt với các giáo sĩ, và tín hữu Gia Tô Giáo. Đông Cung Cảnh kết hôn với bà Tống thị Quyên, không thấy nói vào lúc nào, sinh được hai người con trai là Mỹ Đường (Đán) và Mỹ Thùy (Kính, c̣n có tên Cảnh viết khác) không có con. Năm Gia Long 16, tháng 8 phong tước CÔNG cho càc Hoàng tử và hai Hoàng tôn, Hoàng tôn Đán làm Ứng Ḥa Công, Hoàng tôn Kính làm Thái B́nh Công. Năm Minh Mạng thừ 5 (1824) Bà Quyên bị Lê văn Duyệt d́m nước chết v́ tội thông dâm với con ruột, Mỹ Đường (Ứng Hoà Công) phải giao nộp ấn và dây thao, giáng xuống làm dân thường, buồn rầu lâm bệnh mà mất, con trai con gái bị ghi vào cuối sổ Tôn Thất. Mỹ Thùy (Thái B́nh Công) được giao việc thờ cúng Anh Duệ Hoàng Thái Tử. Năm Minh Mạng thứ 7 (1826) Mỹ Thùy bị quân lính đạo Dực Chấn kiện, sắp bị nghị tội th́ bị bệnh chết, con Mỹ Đường là Lệ Chung [5] tập phong Ứng Hoà Hầu thay cha thờ phụng Anh Duệ Hoàng Thái Tử, một năm sau (1827) đổi lại Thái B́nh Hầu. Năm 1833 (Minh Mạng 14) cho ghi vào sổ Tôn thất. Năm 1836 (Minh Mạng 17) triều thần lại nghị tội, Lệ Chung được miễn nghị v́ phải lo việc thờ phụng Anh Duệ, buộc con trai Lệ Ngân và con gái Thị Văn, Thị Dao đều bị giáng làm thứ dân, xóa tên trong sổ Tôn Thất. Minh Mạng 20 (1839) Tôn Thất Lệ Chung được đổi phong Thái B́nh Hầu làm Cảm Hóa Hầu. Vua dụ: " Việc tập phong là triều đ́nh lấy đạo ưu hậu, quư mến thân thuộc, nhưng Lệ Chung ở chi khác, không phải con của Thái B́nh Công, há nên cho tập tước hiệu cũ Thái B́nh. Vậy cải phong là Cảm Hóa Hầu, nhưng vẫn coi việc thờ tự Thái B́nh Công”.
Tự Đức thứ 1 (1848) tháng 3, Vũ Xuân Cẩn dâng sớ xin cho con
cháu Lệ Chung được lượng gia ân cách. Vua nói “Về việc thi ân hậu đăi người thân
thuộc điển lễ đáp người có công của nhà nước, lời lẽ đúng vớí sự lư, nghĩa lư rơ
ràng. Vua chuẩn cho Tôn Thất Lệ Chung, do bộ Lễ ghi lại, đợi khi hết tang (tang
vua Thiệu Trị) lượng cho tấn phong, thưởng cho Xuân Cẩn 10 lạng bạc.” Tháng 9,
Tự Đức thứ 2 (1849) Tạ Quang Cự cùng 30 đ́nh thần xin tái xét, vua chuẩn thuận
cho con cháu Mỹ Đường được ghi lại vào phủ hệ Tôn Thất, cấp cho lương bổng Tôn
Thất. Tháng 4, Canh Tuất Tự Đức thứ 3 (1850) Phong Tôn Thất Lệ Chung làm Cảm Hóa
Quận Công, từ đó các hậu duệ của Hoàng Tử Cảnh mới vượt qua sóng gió dập vùi. Trong sách GỞI THƯƠNG CHO HUẾ, Bài viết “Từ Hoàng Tử Cảnh đến Hoàng Thân Cường Để”, Vơ Quang Yến cũng ghi: “Ngày 20 tháng ba năm Tân Dậu 1801, sau khi đi đánh chiếm Thị Nại về, Đông cung mắc bệnh đậu mùa (có tài liệu nghi ông bị đầu độc)”. Đọc Thực Lục đến giai đoạn này người viết cũng có cảm nghĩ nghi vấn này, mong các nhà nghiên cứu sử về giai đoạn Gia Long hiện đang ở Paris như các tác giả Vơ Quang Yến, Thụy Khuê, Vơ Thu Tịnh v.v….t́m được tài liệu lưu trữ đâu đó ở Paris để làm sáng tỏ nghi vấn nầy. Đông Cung Cảnh lên bốn tuổi phải ĺa cha mẹ lênh đênh biển cả qua tận kinh đô ánh sáng Paris làm con tin để cầu viện. Dự tiệc khoản đăi tại điện Versailles, ngày nay người lớn đă từng trải đến viếng xem điện này c̣n choáng ngợp, huống hồ một cậu bé 7 tuổi lớn lên lênh đênh trên sóng biển được hiện diện ở nơi xa hoa vào lúc đang thịnh thời của vua Louis XVI th́ khó h́nh dung được cảm xúc của ông. Ông chứng kiến kư kết hiệp ước tương trợ Versailles. Về nước ông được phong Đông Cung, nắm dinh Tả Quân, xông pha chiến trường, lập nhiều công lao hăn mă, khi trấn thủ thành làm tṛn trách vụ giữ vững hậu phương yểm trợ tiếp vận cho tiền tuyến. Sau khi ông chết ngày 7 tháng 2, ngày 3 tháng 5 Phú Xuân rơi vào tay Nguyễn Vương, để lại cho vợ con cháu chắt ông nhiều gian truân cùng cực. Ngày nay lần đọc những trang sử nhà Nguyễn biên soạn đă để lại, điều bí ẩn vẫn chưa có câu trả lời. Hoàng tử Cảnh có phải chết v́ bệnh đậu mùa như chính sử ghi, hay bị đầu độc? Thái tử Phi Tống thị Quyên có thật đă thông dâm với con trai Mỹ Đường ?
Tại sao gịng chính Anh Duệ không được kế tục ngai vàng,
không trao cho Hoàng Tôn Đán mà mà trao cho Hoàng Tử Hiệu (Đăm)?.
[1] Lúc này ông đang giữ chức H́nh Bộ Thượng thư triều vua Khải Định (Thực Lục Đệ Thất Kỷ). HPQ [2] Năm Gia Long thứ 15 sai Thượng Thư Bộ Lại là Trịnh Hoài Đức đến trước giường ngự sai viết “lập Hoàng tử Hiệu làm Hoàng Thái Tử để đưa cho bầy tôi xem. Vua nói ai đồng ư th́ kư tên vào”. Quần thần đều nói: “ư thánh định trước, thực là phước không cùng của xă tắc, bọn thần xin noi theo mệnh lệnh (Chính biên Đệ Nhất Kỷ). Trong Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả ghi Nguyễn Phúc Kiểu. Người dịch Thực Lục đọc nhầm Kiểu thành Hiệu hay lại có thêm một tên khác chăng? HPQ [3] “Con nên chuyên tâm, trong giữ yên dân, ngoài lo chống giặc để đáp tấm ḷng mong mỏi của dân, và khiến quân giặc phải sợ. Con phải gắng làm như chính ta trông thấy……Khi việc binh rỗi con nên vâng theo Sư phó (tức Bá đa Lộc, HH), chăm đọc kinh sách khiến cho sự học được sáng tỏ, nghiệp đức được tiến lên. Đến như đối với xung quanh th́ nên gần người ngay thẳng xa kẻ gian tà, thế mới gọi là sáng suốt biết người. Đi ra nên kính nhớ lấy.” (Thực Lục). [4] Lúc này ông đang thủ thành Gia định, chả lẽ sợ Tây Sơn quật mồ trả thù nên âm thầm di chuyển ra an táng tại B́nh Định để đánh lừa?, hơn nữa Thực Lục ghi tháng 6 GL8: an táng di cốt Duệ Tông, Anh Duệ; hài cốt các Hoàng tử Hy,Tuấn, các đại thần Tôn Thất Hội, Chi, Xuân, Huy.. về đến kinh, các người này đều đă an táng ở Gia Định nay cải táng về Phú Xuân. HPQ [5] Theo bài Phiên Hệ thi của ḍng Anh Duệ Hoàng Thái Tử “Mỹ Duệ Anh Tăng Cường Tráng, Liên Huy Phát Bội Hương…” con của Mỹ Đường phải là Duệ Chung, Thực Lục ghi Lệ Chung, người dịch đọc nhầm hay v́ lư do bị trọng tội, con không được áp dụng bài Phiên Hệ thi này.? HPQ ________
2/ Đại Nam Thực Lục Tái Bản Lần I
3/ Sử Kư Đại Nam Việt
4/ Đại Nam Liệt Truyện
5/ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục
6/ Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu
7/ Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả 8/ Wikipedia
9/ Các tài liệu khác trên internet.
|