Hoàng Huy Hoàng Phước Quyến

 

GIÓ ĐƯA CÂY CẢI ...

 

          Trong những ngày cuối thu, trời Sacramento, thủ phủ California ảm đạm, khí trời se lạnh, gió đưa những chiếc lá vàng khô lăn lộn trên mặt đường, bỗng chốc xoáy tṛn rồi hất tung lên cao, tung tóe, tản mác, nhẹ nhàng bay xa, rơi lả tả…Chậu cúc vàng nở hoa trước nhà, những cụm cải trổ hoa vàng rung rinh theo gió mời gọi vài chú buớm trắng vàng thấp thoáng bay lượn…. cảnh vật bày ra trước mắt khiến gợi nhớ những kư ức c̣m cỏi c̣n sót lại về h́nh ảnh đơn sơ ở quê nhà......Nhẫm tính sổ đời qua khung cửa sổ, suy nghĩ mông lung về chiếc lá, về cuộc đời nổi trôi lưu lạc, hoài niệm thời thơ ấu, nhớ về cố hương ở “bên tê” bờ Thái b́nh Dương.….

Hiền Lương quê tôi ở phía bắc thành phố Huế, thuộc huyện Phong Điền, đi theo quốc lộ I chừng hai mươi cây số, qua khỏi cầu An Lỗ rẽ phải theo tỉnh lộ dọc tả ngạn sông Bồ về hướng Sịa, đi thêm bốn cây số nữa gặp hương lộ thuộc thôn Phú Lễ cắt ngang tỉnh lộ. Ngă rẽ này được gọi là Quán Kẽm, nơi đây ngày trước là một tụ điểm buôn bán nhỏ sầm uất, với hàng quán tạp hóa lợp tôn bằng kẽm được gọi quán kẽm, lâu ngày trở thành địa danh. Rẽ trái tại đây, vượt khỏi cầu sắt lát gỗ bắt qua con hói (sông nhỏ) chừng trăm mét rồi rẽ phải chừng non một cây số thấy cổng chào Làng Hiền Lương, và la thành bao quanh ngôi chùa cổ rêu phong đó là điểm khởi đầu của làng tôi.

 

 

Ngôi chùa Giác Lương Tự được dựng lâu lắm trước khi tôi chào đời, vào thời hậu Lê, đại hồng chung c̣n ghi nét chữ được đúc năm 1819, tượng Phật Tam Thế, và tượng ngài Hộ Pháp bằng gỗ sơn son thếp vàng là kiệt tác nghệ thuật thời hậu Lê, được các nhà khảo cổ đánh giá cao. Tiếng chuông u minh thong thả vang lên, ngân dài sớm tối, lan tỏa sự huyền diệu làm vơi đi những nhọc nhằn khổ lụy của cuộc sống, đă hằn sâu vào tiềm thức dân làng. Khi viết những gịng này tiếng chuông chùa làng tôi cơ hồ như vẫn c̣n vang vọng bên tai.! Như hàng ngàn làng quê khác, làng tôi cũng gánh chịu sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh từ 1946 đén 1975, mà nay ngôi chùa vẫn sừng sững tồn tại gần như nguyên vẹn quả là một kỳ tích.!.

Làng tôi sống về nghề nông, nhưng nghề chính là THỢ RÈN. Cụm từ Hiền Lương-Thợ Rèn luôn gắn liền nhau cũng như Quốc Học-Đồng Khánh vậy, điều kỳ lạ có vẻ nghịch lư là làng chỉ có một ḷ RÈN ở một góc xa dân cư heo hút cung cấp vật dụng dao, rựa, liềm, vằng (hái), cuốc, xẻn…cho dân làng. Dân làng phải tản mát nhiều nơi để hành nghề kiếm sống. V́ sinh kế đành xa quê, hằng năm đều tề tựu về làng tế Tổ tại nhà thờ Tổ, và thăm nom mộ phần tiên tổ gia tộc là một nhiệm vụ thiêng liêng vào tháng chạp gọi là chạp mă. Làng tôi có một mỹ tục đáng hảnh diện là chẳng may dân làng phải lưu lạc, tới nơi nào nghe tiếng bệ thổi, tiếng búa đập đe th́ đó là người làng Hiền Lương có thể vào xin tá túc, và được tiếp đón nồng hậu nặng t́nh đồng hương!.

Theo truyền khẩu, trong đ̣an người đầu tiên từ bắc vào khai phá vùng Ô, Lư (Ô Châu) mới sáp nhập vào lănh thổ Đại Việt đời Trần có ba anh em làm nghề rèn người Thanh Hóa cùng theo vào. Người em út dừng chân lập nghiệp ven gịng Ô Lâu lập nên làng Kế Môn, chuyển qua rèn vàng bạc làm trang sức nổi tiếng, được mời vào Phủ Chúa Nguyễn làm trang sức cho các phu nhân cung nữ, được sắc phong trở nên thủy tổ nghề KIM H̉AN. Hai người anh c̣n lại tiếp tục vào nam định cư lưu vực sông Bồ lập nên làng Hoa Lang, đến triều Minh Mạng đổi thành Hiền Lương. Làng có sáu xóm Phước Tự, Văn Quán, Vơ Đ́nh, Đồng Nhơn, An Hội, Siêu Quần thường gọi tắt xóm Chùa, xóm Quán, xóm Đ́nh, xóm Đùng, xóm Hói, xóm Cồn ở làng chánh, và sáu phường Khánh Mỹ, La Vần, Vịnh Nảy, Triều Dương, Hưng Long, Bắc Thạnh ở trong vùng độn cát thuộc truông Nhà Hồ. Những phường này đi đến Kế Môn khá gần, v́ vậy giữa hai làng Kế Môn - Hiền Lương có một sợi dây vô h́nh gắn kết nhau. Khi trưởng thành đi nhiều nơí chẳng những ở Thừa Thiên mà khi vào Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên hay ra Quảng Trị đều gặp người làng Hiền Lương. Dân làng Hiền Lương có người từng nắm địa vị then chốt trong triều đ́nh nhà Nguyễn cả văn lẫn vơ mà tên tuổi của họ c̣n lưu trong chính sử của Quốc Sử Quán.

Về nghề cơ khí, theo Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu năm 1839, Ông Hoàng văn Lịch, Giám Đốc Vơ Khố người làng Hiền Lương, tuân lệnh vua Minh Mạng chế tạo tàu máy hơi thành công được vua ban một nhẫn pha lê bọc vàng, một đồng tiền vàng Phi Long lọai lớn. Một loạt các tàu Yên Phi (loại lớn), Vân Phi (loại vừa), và Vũ Phi (loại nhỏ) là tên những tàu thủy do ông sáng chế được vua ra lệnh trang bị cho thuỷ binh đương triều. Hiện nay ở thành phố Huế vùng Băi Dâu phường Phú Hậu có một con đường mang tên ông.

Về nghiệp văn, làng có truyền thống ham học, Văn Minh điện đại học sĩ Hiền Lương Hầu Trương Như Cương, nhạc gia vua Khải Định, giữ chức Phủ Trưởng Phủ Phụ Chính, nhiếp chánh đại thần coi việc triều chánh sau khi vua Thành Thái bị giam. Phụ thân kể lại, Đại Thần nhiếp chánh về quê nghỉ dưỡng, Phủ Tôn Nhơn đi thuyền về cặp bến rất đông quân lính cờ quạt chỉnh tề rợp trời, dân làng rúng động mặt mày ngơ ngác sợ sệt v́ chưa từng thấy cảnh huyên náo này ở một làng quê bao giờ. Hiểu ư, như để trấn an dân làng, vị dẫn đầu sai thuộc cấp nói lớn mời bà con ai về nhà nấy sinh hoạt b́nh thường, triều đ́nh đến rước quan nhiếp chính đại thần hồi triều. Tiếng xầm x́ rỉ tai lan truyền nhanh chóng, nếu không hồi triều tôn người kế vị th́ xem như cố ư đoạt ngai vàng. Phải mất ba, bốn ngày liền đoàn người mới rời làng về Huế trả lại sự yên tĩnh muôn thuở cho làng quê. Điều này cũng được ghi trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Thất Kỹ, vua Khải Định nói “Duy lúc vua Thành Thái bị phế truất, Như Cương giữ chức Tể Tướng, lúc đó có lời đồn nóí Như Cương được chính phủ (Bảo Hộ) trọng dụng, có khi nhân việc nhiếp chánh này sinh ḷng khác, chỉ là lời đồn không có chứng cứ, lại phù tá triều Duy Tân trải qua mười năm.” Người con trưởng là Trương Như Đính,  Thượng Thư Bộ Kinh Tế triều Bảo Đại, dân làng thường gọi “Cụ Kinh tế”. Làng c̣n có Đông Các điện Đại Học Sĩ Pḥ Ninh Nam Trần Đ́nh Bá, Thượng Thư Bộ H́nh triều Khải Định, lăng mộ hiện ở đầu làng xa xa về phía trái trên đường dẫn vào làng trước khi tới cổng làng.

Con sông nhỏ uốn lượn theo khu dân cư giúp ích nhiều cho cuộc sống thường nhật, đồng thời đóng vai tṛ tưới cho ruộng vườn quanh năm xanh tươi, cũng như vai tṛ tiêu nước giúp thôn xóm tránh ngập úng nước vào mùa mưa. Gịng nước này đem lại nguồn sống cũng như thủy lộ giao thông cho dân các làng nó đi qua: Cao Ban, Sơn Tùng, Cao Xá, Cổ Tháp, Hiền Lương, Phú Lễ. Thường ngày con sông mang gịng nước màu nâu nhạt đổ vào sông Bồ thường gọi sông Cái ở Cửa Khâu ở phía tả ngạn, nằm tại ranh giới làng Phú Lễ và An Lỗ, sông gom góp nước từ các khe suối trong truông nhà Hồ họp lại mà thành h́nh. Vào thu mùa mưa đến, nước sông Cái lớn lên do nước mưa ở đầu nguồn chảy về nhiều được gọi là nước lớn lại chảy ngược vào làng nên có câu “tháng bảy nước nhảy lên bờ”. Đến mùa hè dân làng họp nhau nạo vét ḷng sông khơi nước sông Cái chảy vào để giúp việc dẫn thủy tưới ruộng đồng vụ hè thu. Gịng nước từ sông Bồ trong vắt mát mẻ làm dịu nắng nóng mùa hè mời gọi, bọn trẻ con chúng tôi trai gái lẫn lộn đều lột trần truồng chạy ào xuống nô đùa làm nước tung tóe, tiếng kêu réo vang cả một góc làng. Vui đùa nghịch nước đă đời, bọn nhỏ “nhất quỉ nh́ ma” tụm năm tụm ba vào các vườn trồng đậu t́m dế, đuổi chim con được mẹ tập bay chuyền từ cành này qua cành khác, măi ham đuổi chim bắt dế dẫm nát khỏanh đất vườn trồng hoa màu không hay. Khi đi xa rồi nghe vọng lại lời chửi rủa của khổ chủ, “đồ Ô châu độc địa con cái nhà ai đă phá nát vườn đậu rồi.” Lủi vào trong xóm chạy đuổi nhau làm sập giàn mướp, giàn bầu, tiếng động làm đứa trẻ thức giấc khóc ré, lại nghe “đồ Ô châu độc địa, phá giấc ngủ em tao.” Sau một hồi dỗ dành, tiếng hát của người chị ru em vọng lên “ru em cho thét cho muồi, để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu….,” à ơi “Châu Ê ơi hỡi châu Ê, khi đi th́ có, khi về th́ không” hay “Vạn niên là Vạn niên nào, thành xây xương lính, hào đào máu dân”. Đi đă khá xa tiếng hát c̣n nghe vọng lại “Gió đưa cây cải về trời, Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”, xa dần tiếng hát ru em của người chị ch́m vào buổi trưa thanh vắng, không c̣n nghe nữa, v́ người em đă ngủ rồi chị dừng hát hay là gió đưa tiếng hát đi qua hướng khác…? Nghe th́ nghe vậy thôi cũng như nghe hằng trăm câu ḥ khác, trẻ con nhờ nghe câu ḥ làm êm tai dỗ dành giấc ngủ, chẳng bận tâm suy nghĩ ǵ.

 

Mỗi một câu ca dao hay tục ngữ nói trên có mang dấu ấn lịch sử đều có thể hiểu được. Châu Ê là địa danh nơi có lăng vua Khải Định, c̣n Vạn Niên tên dầy đủ là Vạn Niên Cơ, tên gọi công tŕnh vua Tự Đức xây sinh phần cho ḿnh, sau khi vua băng hà an táng tại đây đổi là Khiêm Lăng hay Lăng Tự Đức.

Riêng câu:

Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay

Thật t́nh không tài nào hiểu nổi, “cây cải” và “rau răm” là loại rau rất thông dụng trong các bữa ăn dân dă, rất quen thuộc. Thế mà gió đưa cây cải về trời để rau răm ở lại rất ởm ờ mới là chuyện đáng bàn. Câu ca dao này đă được nêu ra với thầy dạy văn chương b́nh dân ca dao tục ngữ, nhưng chưa thầy nào giải thích được. Bẳng đi một thời gian dài thắc mắc về câu ca dao rơi vào quên lăng. Nhờ một t́nh cờ lịch sử người viết có cơ hội đặt chân đến các đảo trong vịnh Thái Lan, câu ca này lại được nghe, thắc mắc cũ lại được nêu ra với các ngư dân địa phương ở Côn Đảo (Poulo Condor) xưa gọi là Côn Lôn, ngay cư dân trên đảo Thổ Châu (Poulo Panjang) đều biết về sự tích câu chuyện đầy thương tâm này.

 

Ḥn Bà

 

Câu chuyện xảy ra ở phương nam nơi tận cùng đất nước trong vịnh Thái Lan thế mà vẫn được truyền tụng ra tận miền Trung xa xôi. Các ngư dân cho biết ở Côn Sơn có đảo nhỏ Ḥn Bà nằm cạnh đảo lớn Côn Sơn, trên đảo có ngọn núi cao tên Núi Bà, núi Ông, làng An Hải có An Sơn Miếu thờ Bà Phi Yến, tại làng Cỏ Ống có ngôi mộ và miếu thờ Thiếu Gia Miếu c̣n được gọi Miếu Cậu thờ Hoàng tử Hội An (Hoàng tử Cải). Hằng năm dân Côn Đảo đều tổ chức giổ hai Mẹ Con Bà vào ngày 18 tháng 10 Âm Lịch là một ngày Hội ở địa phương.

Chuyện kể rằng, năm 1782 Tây Sơn tái chiếm Gia Định, Nguyễn Vương bị truy đuổi phải lánh nạn ở Côn Sơn. Lúc này Vương nghĩ tới nước cờ liều, nảy sinh ư định nhờ Bá Đa Lộc mang con ḿnh làm con tin sang Pháp cầu viện. Vương bàn với vợ, Bà Phi Yến (một trong những bà vợ của Vương) tên là Nguyễn thị Răm, “Ta sẽ trao con Ḥang Tử Cải (Hoàng Tử Hội An) lên năm tuổi nhờ Bá Đa Lộc mang sang Pháp làm con tin xin triều đ́nh Pháp gởi tàu thuyền vũ khí, và quân lính sang cứu viện để phục quốc”. Bà Phi Yến khuyên Vương “Việc đánh nhau với Tây Sơn là chuyện trong nhà, thiếp nghĩ chúa công nên dùng nghĩa binh trong nước th́ hơn, không nên nhờ vả ngoại bang, nếu thắng được Tây Sơn th́ chẳng vẻ vang ǵ mà e c̣n lắm điều rối rắm về sau…” Vương quắt mắt nh́n Bà với ánh mắt đầy ngờ vực, nổi trận lôi đ́nh, quát quân hầu mang Bà Phi ra chém. v́ nghi Bà có ẩn ư thông đồng với Tây Sơn. Quần thần thấy vậy đồng cầu xin Vương nguôi giận tha mạng cho Bà. Vương sai đem nhốt vào hang đá trên một đảo nhỏ, sau này dân chúng gọi là ḥn Bà, chỉ có một ít bánh nếp và chum nước đủ sống trong nữa tháng, cùng vơí con vượn trắng Bà nuôi từ nhỏ. Lúc này Tây Sơn biết chỗ trú ẩn của Vương, tung chiến thuyền tiến đến vây hăm Côn Sơn quyết tiêu diệt. Vương sai mang Hoàng tử Cải xuống thuyền chạy trốn, Hoàng tử khóc lóc kêu la đ̣i mẹ được đi cùng hay ở lại với mẹ không chịu đi. Trong lúc nguy khốn dùng dằng măi Vương giận dữ tự tay ném Hoàng tử xuống biển để đoàn quân lên đường thoát hiểm. May mắn cho Vương một cơn băo nổi lên đánh ch́m thủy quân Tây Sơn, nhờ vậy Vương trốn thoát về Cổ Cốt rồi về Phú Quốc sai người t́m Bá Đa Lộc nhờ đưa Hoàng Tử Cảnh đi Pháp cầu viện. Con hổ đen (hắc hổ) mà Hoàng tử nuôi luôn quấn quit bên nhau, nh́n thấy Hoàng Tử rơi xuống biển liền nhảy theo nhưng không thể nào tiến kịp, ngồi trên bờ ngóng trông chờ đợi. Nh́n thấy xác Hoàng tử nằm trên đám san hô lúc thủy triều xuống, hổ nhảy đến kéo xác Hoàng tử lên bờ vùi chôn chủ, dân làng Cỏ Ống thấy vây xúm nhau giúp chôn cất, và lập miếu thờ gọi là Miếu Cậu. Nhờ hổ đen và vượn trắng dẫn đường dân làng tới giải thoát Bà Phi Yến khỏi hang đá, làng Cỏ Ống cất một nhà nhỏ để Bà có chỗ tạm trú lui tới thăm viếng mộ con. Năm 1785 Làng An Hải tổ chức làm chay tế lễ, để cho long trọng làng mời Bà Phi Yến đến dự, lúc này Bà mới 25 tuổi xuân phơi phới vẻ đẹp mặn mà, tên đồ tể Biện Thi thấy bà đẹp đẽ ḷng tà dâm nổi lên, đêm đến lén chui vào buồng ngủ dở tṛ sàm sở nắm tay, Bà tri hô dân làng đến giải cứu. Để giữ tiết trung trinh với chồng Bà cầm dao chặt đứt cánh tay nhờ một bô lăo đem chôn. Nhưng Bà vẫn bức rức đứng ngồi không yên cảm thấy thân bị nhơ nhuốc, đêm xuống Bà trầm ḿnh tự tử để bảo toàn danh tiết với chồng. Dân làng An Hải và làng Cỏ Ống nổi giận đánh chết tên Biện Thi. Tương truyền rằng Bà và Hoàng tử Cải hiển linh mách bảo dân làng tránh nhiều tai ương. Cảm thương cho một người đàn bà đoan chính lấy cái chết để giử tṛn danh tiết, và người con chí hiếu, dân làng An Hải Lập miếu thờ hằng năm cúng tế cho đến ngày nay. Câu chuyện làm động ḷng người nên dân chúng truyền tụng câu ca dao để tiếc thương hai mẹ con Bà:

Gió đưa cây Cải về trời
Rau Răm ở lại chịu lời đắng cay

Răm và Cải là tên hai mẹ con được lưu truyền lại qua tên hai loài rau thông dụng để dễ nhớ và tránh sự chú ư của nhà vua.

 

Miếu thờ Bà Phi Yến ở Côn Đảo

 
Trong kho tàng văn chương truyền khẩu nước ta có nhiều câu chuyện được hư cấu rồi thổi vào vật thể hiện hữu làm linh hồn nhằm thi vị hóa, như chuyện Ḥn Vọng Phu, chuyện vịnh Hạ Long, chuyện ḥn phụ tử ở Hà Tiên, chuyện trầu cau… Vậy câu chuyện Bà Phi Yến và Hoàng tử Cải có khác với những chuyện hư cấu truyền khẩu kể trên không? Người viết nghĩ có khả năng cao là chuyện người thật, việc thật đă xảy ra ở Quần Đảo Côn Sơn vào giai đoạn tranh hùng sống mái giữa hai nhà Nguyễn: nhà Nguyễn Gia Miêu và nhà Nguyễn Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Khi tra cứu Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, trong phần lăng mộ tỉnh Hà Tiên có ghi “Mộ Hoàng tử triều trước: ở thôn An Ḥa đảo Phú Quốc. Hoàng tử húy là Nhật, chết non, mộ táng ở đây.” Quốc sử quán dành phần phụ lục trong Đại Nam Nhất Thống Chí tập 5 nói về Quần Đảo Côn Lôn khá chi tiết, tuyệt nhiên không để lại một dấu vết nào về hai mẹ con bà. Như vậy sự bỏ sót mộ chí và miếu thờ của Bà Phi Yến và Hoàng tử Cải nằm trong cố ư của sử quan triều Nguyễn.

Câu chuyện truyền khẩu từ đời này qua đời nọ, địa danh và miếu thờ vẫn c̣n đó trên thực địa, tập tục thờ cúng tế lễ vẫn c̣n lưu truyền măi trong dân chúng địa phương cho đến ngày nay để nhớ tới Bà Phi Yến Nguyễn thị Răm một dạ chính chuyên với chồng, một người đàn bà đầy ḷng yêu nước có tầm nh́n xa đă can đảm can ngăn chồng mà bị đối xử tệ bạc suưt mất mạng và người con chí hiếu sống chết với mẹ. Giá như Nguyễn vương chịu nghe theo lời can gián của bà Phi Yến mà từ bỏ ư định nhờ Bá Đa Lộc cầu viện Pháp, có thể lịch sử Việt Nam đă rẽ sang một hướng khác chăng?

Mặc dù chính sử triều Nguyễn đă cố t́nh vùi lấp vào quên lăng, không nhắc nhở tới, nhưng danh tiết Bà vẫn được dân chúng truyền tụng qua ca dao vẫn tồn tại măi, nhờ vậy hậu thế biết được câu chuyện đầy thương tâm của hai Mẹ Con Bà, đúng như câu:

Trăm năm bia đá cũng ṃn
Ngàn năm bia miệng vẫn c̣n trơ trơ



Sacramento, Cuối Thu Quư Tỵ, 2013
Hoàng Huy Hoàng Phước Quyến
 

 

 

art2all. net