|
NGUYỄN DU VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN
Kim Vân Kiều Tân Truyện (Nguồn h́nh: lib.nomfoundation.org)
Năm 2015 này, kỷ niệm 250 năm ngày sinh của Cụ Nguyễn Du, người viết t́m đọc các tài liệu liên quan, tổng hợp lại để cống hiến bạn đọc nhân dịp XUÂN ẤT MÙI-2015. Trong lúc trà dư tửu hậu, ngâm nga vài câu thơ cổ hoài niệm cố hương, thắp nén hương ḷng nhớ về cố quốc, giúp cho tâm hồn thư thái đôi chút của những người cùng tâm sự:
Đoái thương muôn dặm tử
phần
Mê ǵ như mê tổ tôm
V́ tên truyện khá dài nên gọi gọn là Truyện Kiều để chỉ tác phẩm văn vần của Cụ
Nguyễn Du khác với nguyên tác bằng Hán văn Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài
Nhân trong văn học Trung Hoa. Truyện Kiều đă được dịch ra 20 thứ tiếng: Pháp,
Anh, Nga, Trung, Tiệp ….được nhiều người trên thế giới biết đến văn tài Nguyễn
Du. Năm 1965 được công nhận “danh nhân văn hóa” của Tổ Chức Hoà B́nh Thế Giới
ban cho cùng với 8 danh nhân khác. Cụ đă được Đại Hội Đồng Khóa 37 UNESCO họp
tại Paris tháng 11/2013 để vinh danh “Danh nhân văn hóa Thế giới.” Tiểu sử tác giả Nguyễn Du Cụ Nguyễn Du, tên chữ Tố Như hiệu Thanh Hiên, năm Ất Dậu (1765) tại phường Bích Câu Thăng Long, (có người nói ông sinh tại ở quê ngoại Kinh Bắc, lên 6 mớí về Bích Câu), con thứ tư (ba anh Nguyễn Trụ, và Nguyễn Điều, Nguyễn Nễ hay Đề) của Cụ Nguyễn Nghiễm (Tể tướng triều Lê), quán làng Tiên Điền Huyện Nghi Xuân, Hà tĩnh, với người vợ thứ ba Trần thị Tần, quê làng Hoa Thiều, huyện Tiên Du (Đông Ngàn) xứ Kinh Bắc quê hương Quan Họ, nay thuộc Bắc Ninh. Năm 1771 Nguyễn Nghiễm về quê trí sĩ, Nguyễn Du theo về sống ở vùng Hồng Lĩnh. Năm 11 tuổi cha qua đời, năm 13 tuổi mẹ qua đời. Cụ mồ côi cả cha lẫn mẹ, ra Bắc ở với anh cả Nguyễn Khản (cùng cha khác mẹ). Năm 1782 dinh thự ở Bích Câu bị nạn kiêu binh đốt cháy. Năm 1783 đỗ Tam trường (Tú Tài) thi hương ở Sơn Nam ( Nguyễn thị Chân Quỳnh nói cụ đỗ Tam Trường thi Hội, không phải thi Hương tức là Tiến sĩ ; Vơ Hương An cũng nói Cụ đỗ Tiến Sĩ. Đại Nam Thực Lục Chính Biên Đệ Nhất Kỷ Quyển XXVI, năm Gia Long thứ 4 (1805) ghi “Đặng Trần Thường dâng sớ cử Tiến Sĩ triều Lê cũ là Nguyễn Du, hương cống là bọn Nguyễn Trọng Chiếu 14 người, hạ lệnh vời về Kinh để xét dùng”. Như vậy thời Lê mạt Nguyễn sơ có hai ông cùng tên Nguyễn Du, có thể có sự nhầm lẫn chăng?). Gia cảnh khó khăn, năm 1786 Nguyễn Khản xin cho cụ làm Chánh thủ hiệu (một chức quan vơ thấp) cai quản đội quân tinh nhuệ nhất tỉnh Thái Nguyên. Cùng năm này cụ kết hôn với bà Đoàn thị Huệ con gái ông Đoàn Nguyễn Thục đang giữ chức Ngự Sử, chánh quán xă An hải, huyện Quỳnh Côi, Trấn Sơn Nam (Thái B́nh). Nguyễn Khản đang trấn thủ Sơn Tây bị kết tội mưu phản. Năm 1787 Tây Sơn lấy Bắc Hà, cụ chạy theo vua Chiêu Thống không kịp, quay về nương náu nhà anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn đang làm quan với Tây Sơn. Mười năm ăn nhờ ở đậu quê vợ là thời gian cô đơn, cùng cực nhất, ông gọi là “mười năm gió bụi (thập tải phong trần)”, mưu chống Tây Sơn không thành. Cụ tâm sự trong bài thơ U cư 1:
Dị hương dưỡng chuyết sơ pḥng tục
(Đất khách giả ngây pḥng kẻ tục
Nguyễn thạch Giang dịch) Đoàn Nguyễn Tuấn mất, gia đ́nh bên vợ sa sút, người con cả chết, Nguyễn Du đưa vợ, con Nguyễn Tứ trở về quê Tiên Điền. Năm 1791 người anh cùng cha khác mẹ Nguyễn Quưnh chống Tây Sơn bị giết, dinh cơ ở Tiên Điền bị Tây Sơn thiêu hủy. Mùa đông Bính Th́n (1796) Nguyễn Du trốn vào nam hà theo Nguyễn Ánh, bị Quận Công Tây Sơn Nguyễn văn Thận bắt giữ. Nhờ Thận là bạn thân với Nguyễn Nễ (cũng đang làm quan Tây Sơn), và lại tiếc tài Nguyễn Du nên chỉ giam ba tháng ở Nghệ An rồi tha về. Năm 1802 Gia Long thống nhất giang sơn, trên đường ra Thăng Long, vua xuống chiếu gọi cựu thần nhà Lê ra yết kiến, Nguyễn Du, Nguyễn Nễ được vua truyền lệnh theo xa giá ra Bắc Thành, bổ Nguyễn Du làm Tri Huyện Phù Dung (Khoái châu, Sơn Nam), ba tháng sau được thăng Tri Phủ Thường Tín; lưu Nguyễn Nễ ở lại Bắc Thành do Tổng Trấn Nguyễn văn Thành trấn giữ. Mùa đông Quí Hợi (1803) Nguyễn Du cùng Tri phủ Thượng Hồng Lư Trần Chuyên, Tri Phủ Thiên Trường Ngô nguyễn Viên, Tri Phủ Tiên Hưng Trần Lân được lệnh lên Ải Nam Quan tiếp sứ Thanh. Mùa thu 1804, cụ xin nghỉ quan về quê chữa bệnh. Đầu năm 1806 (Gia Long thứ 5), vua gọi vào Kinh đô Huế, được thăng Đông Các Đại học Sĩ, một ân sủng lớn tân triều dành cho cụ v́ cụ chỉ đậu Tam Trường (Tú Tài), cụ chán cảnh quan trường. Năm 1812, cụ xin nghỉ hai tháng về quê xây mộ cho Nguyễn Nễ. Năm 1813 được thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ, chánh sứ sang Thanh, năm sau về đến Huế được thăng Hữu Tham Tri bộ Lễ. Cụ mất 10 tháng 8 Canh Th́n Minh Mạng nguyên niên (16-9-1820). “Vua thương tiếc, cho 20 lạng bạc, 1 cây gấm Tống, khi đưa tang về cho thêm 300 quan tiền” ( ĐNTL V, chính biên). An táng tại Bàu Đá, làng An Ninh, huyện Hương Trà (gần chùa Thiên Mụ, nay thuộc Lưu Bảo – An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên). Theo tương truyền vua Minh Mạng viếng hai câu đối nay vẫn c̣n nơi thờ Cụ.
“Nhất đại tài hoa, vi sứ vi khanh sinh bất thiểm Hiện nay ở Bàu Đá không c̣n dấu tích huyệt mộ của Nguyễn Du, chỉ thấy ngôi mộ của ông thượng thư Hoàng Hữu Thường làm quan 6 triều (Tự Đức, Dục Đức, Kiến Phúc, Hiệp Ḥa , Hàm Nghi, Đồng Khánh) mất tháng 12 năm 1887, được miêu tả như sau : Phía chính Tây là núi An Đô đồ sộ; phía sau là dăy Trường Sơn hùng vĩ; phía Đông gác chân lên rú Đá thấp hướng ra biển. Tả hữu là hai ngọn núi thấp có dáng dấp Thanh Long, Bạch Hổ , có một mạch nước phía trước. Theo thuật phong thủy gọi là “tích phúc tụ thủy” nghĩa là “lấy lộc cho cháu con”. Chung quanh mộ có Rú Đá thấp bao bọc, đó là thể đất tốt, có núi làm b́nh phong, có mạch nước minh đường thủy tụ… Một địa huyệt mà bất cứ thầy địa lư nào cũng mơ tưởng như trong lư thuyết. Có người tin rằng đó chính là huyệt mộ cũ của Cụ Nguyễn Du. Năm Giáp Thân (1824) con trai Nguyễn Ngũ cải táng về vườn cũ quê nhà xứ Đồng Mát, thuộc xóm Tiên Giáp nay là Tiên Mỹ. Năm 1828 cải táng lần nữa sang xứ Đồng Thanh xóm Tiên An cách làng 2km trên một băi cát hẻo lánh.
Đại Nam Liệt Truyện Tập sơ Quyển 20 viết “Du rất giỏi về thơ, làm thơ quốc âm rất hay, khi sang sứ nước Thanh về, có tập thơ "Bắc hành" và truyện "Thúy Kiều" lưu hành ở đời. Du trước v́ gia thế làm quan nhà Lê, gặp loạn Tây Sơn không có chí lại ra giúp đời nữa, c̣n tự ư đi chơi săn bắn núi Hồng Sơn 99 ngọn, vết chân hầu khắp. Khi bị lệnh triệu không thể từ được mới ra làm quan, thường phải chịu khuất với cấp trên, lấy làm uất ức bất đắc chí. Đến khi bệnh kịch, không chịu uống thuốc, sai người nhà mở duỗi chân tay, nói đă lạnh cả, Du bảo rằng: "Tốt", nói xong th́ chết, không nói một câu nào đến việc sau khi chết.” Họan lộ của ông ở thời Nguyễn rất hanh thông, từ Tri Huyện lên Tri Phủ chỉ trong ba tháng, được cử lên Nam Quan đón sứ Thanh, về quê nghỉ dưỡng bệnh mấy tháng lại được triệu vào Kinh đô Huế thăng Đông Các, rồi Cần Chánh, chánh sứ sang nhà Thanh, cuối cùng là Hữu Tham Tri Bộ Lễ. Trong 18 năm ở quan trường không thấy biếm chức lần nào. Điều này chứng tỏ vua Gia Long rất trọng đăi tài năng, và trọng dụng Cụ. Với vị trí Chánh Sứ đi cầu phong cho tân vương Minh Mạng th́ việc thuốc thang triều đ́nh không thể không lưu tâm, không thiếu thuốc cho ông. Thế th́ tại sao ông không chịu uống thuốc mà chấp nhận cái chết rất thản nhiên khác thường? Có vẻ ông muốn nhân bệnh dịch tả đang hoành hành mà tự tử luôn thể. Ông ôm nỗi ḷng riêng cô đơn cùng cực, người đương thời không ai hiểu ông, khiến ông thốt ra mấy vần thơ:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Đại Nam Liệt Truyện viết về Cụ “Du trước v́ gia thế làm quan nhà Lê, gặp loạn Tây Sơn không có chí lại ra giúp đời nữa, c̣n tự ư đi chơi săn bắn núi Hồng Sơn 99 ngọn, vết chân hầu khắp.”
Vua Tự Đức dụ “Sử thần các ngươi đều nên gia tâm kê cứu, hết sức chép sửa, cốt
sao cho văn có đủ bằng chứng, việc đều ghi được sự thật, th́ mới làm cho thêm
rạng đức sang đời trước, để rơ tín sử để lại cho đời sau.” Thế th́ câu ghi trên
có ư phê phán ông xem chừng không đúng với sự thực, các sử thần không hiểu biết
nhiều về ông. Sau này khi phát hiện những bài thơ trong Thanh Hiên thi tập th́
mới biết phần nào cuộc đời thực của ông.
Thập tải phong trần khứ quốc xa
(Mười năm biệt gia hương
Quách Tấn dịch) Cụ tỏ bày tâm sự qua bài
My Trung Mạn Hứng
( Cảm hứng trong tù
Nhất Uyên dịch)
Bách kết hồi trường tả lệ ngân
( Trăm khúc ṿ tơ lệ đỗ dồn
Nàng chết lúc mới 18 tuổi, đời Vạn Lịch nhà Minh, nay c̣n mộ ở Cô Sơn. Số phận
vợ lẽ của Tiểu Thanh gần với cảnh ngộ của Hồ Xuân Hương nên tức cảnh sinh t́nh.
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc Tiểu Thanh Kư
Hồ Tây cảnh đẹp hoá g̣ hoang
Bản dịch Lê Thước
Dương Quảng Hàm viết trong Tri Tân số 4 ngày 24 Janvier 1941, xuất bản ở Hà Nội
“ tóm lại nguồn gốc Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du là cuốn tiểu thuyết tàu nhan là
Kim Vân Kiều Truyện do tác giả hiệu là Thanh Tâm Tài Nhân soạn vào cuối thế kỷ
16 hay đầu thế kỷ 17 và Kim Thánh Thán (1627-1662) b́nh luận.”
Trong Tri Tân số
6 ngày 8 Jullet 1941, Đào duy Anh viết “ Cách đây hơn ba tháng tôi có viết
trong báo Bạn Đường (số 3 ngày 16-3-41) một bài Lai Lịch Truyện Kiều đại khái
kết luận rằng Nguyễn Du viết quyển Đoạn
Trường Tân Thanh chỉ là dịch thành văn
vận môt cuốn tiểu thuyết tàu của Thanh Tâm Tài Nhân biên soạn. Trong số Tri Tân
trước ông Dương Quảng Hàm lại viện dẫn đủ chứng cớ để biện hộ cho ư kiến
ấy.” Vương thúy Kiều người Lâm Tri, thuở nhỏ bị bán cho con hát mang họ Mă, mụ giả mẫu gọi là Kiều nhi. Nàng thông minh, nhan sắc đẹp đẽ được đem về Giang Nam dạy nghề cầm ca, đàn giỏi tỳ bà, thổi sáo thành khúc tiếng trong mà cao, khi cất giọng hát biết bao người phải chau mày. Trong xóm B́nh Khang, Kiều nhi xếp hàng đầu. Kiều nhi đẹp tự nhiên không son phấn, không sành thuật tiếp khách. Gặp anh to bụng hay ngu đần nhiều tiền th́ khinh khi, giả mẫu không bằng ḷng hay đánh đập, may có thiếu gia cho nàng tiền dọn ra ở Gia Hưng, ở đây Kiều gặp đại gia La Long Vân người huyện Háp hùn hạp làm ăn tiếp khách, giao tiếp rộng, thu dụng con hát nhỏ Lục Châu. Từ Hải thường gọi Minh Sơn Ḥa Thượng chùa Hổ Bào ở Hàng Châu, bị truy đuổi chạy trốn, được La long Vân cho nương náu, đánh giá Hải là tráng sĩ nên giao tiếp có phần trọng nễ, cho Lục Châu theo làm hầu gái. Sống cùng La Long Vân một thời gian, Từ Hải từ biệt lên đường quyết lập chí dựng cơ đồ. Chiêu tập bọn thảo khấu, quay về xâm chiếm Giang Nam, vây đánh Tuần phủ Nguyễn Ngạc. Thật bất ngờ, quân sĩ lại bắt được Thúy Kiều và Lục Châu. Mừng lắm, Từ Hải lập Thúy Kiều làm phu nhân, thường cùng dự bàn quân cơ. Lúc này thế lực Từ Hải đă mạnh; triều đ́nh phải cử Tổng đốc Hồ Tôn Hiến ở Triết Giang đánh dẹp. Hồ Tôn Hiến nhiều mưu lược, thấy thế lực của Từ mạnh bèn cho Hoa lăo nhân đến dụ hàng. Từ Hải nổi giận bắt trói Hoa lăo nhân. May cho Hoa là lúc này tuy Kiều hết sức được yêu chiều nhưng vẫn canh cánh nỗi nhớ cố hương, mong sớm được đoàn viên bèn bàn với Từ tha chết cho Hoa. Hoa trở về báo với Tôn Hiến là thế giặc đang mạnh, chưa thể đánh nhưng xem ra Vương phu nhân có vẻ có ngoại tâm, ta có thể nhân đây mà thắng giặc. Tôn Hiến ḍ biết La Long Vân là ân nhân cũ của Từ Hải và Thúy Kiều bèn dùng Vân để dụ hàng. Long Vân đến dinh, được Từ Hải ân cần tiếp đăi lại cho gọi phu nhân cùng Lục Châu ra chào. Trở về, Long Văn bàn với Hồ Tôn Hiến dùng kế đem châu báu lo lót Thúy Kiều, vận động Từ quy hàng. Đúng như ư nguyện, Kiều ra sức khuyên Từ Hải quy phục triều đ́nh. Nghe lời Thúy Kiều, Từ Hải ước hàng cùng Tôn Hiến, không pḥng bị bị Hồ Tôn Hiến dùng hỏa công đánh tan tác. Từ Hải nhảy xuống sông, quan quân vớt lên chém đầu. Trong tiệc khao binh, Tôn Hiến bắt Thúy Kiều hát và chuốc rượu. Lúc quá chén, Tôn Hiến cũng giở tṛ đùa cợt. Hôm sau tỉnh rượu, sợ mất thể diện trọng thần, Tôn Hiến đem Thúy Kiều gả cho tù trưởng Vĩnh Thuận. Lúc cùng Vĩnh Thuận sang sông, Kiều khóc lớn rồi đâm đầu xuống nước Tiền Đướng trầm ḿnh. Cụ Phạm Quỳnh có lời b́nh “Ấy truyện Thúy Kiều theo trong thuyết bộ tàu như thế. Cứ so sánh truyện ta với truyện tàu thời đủ biết truyện ta theo cái đại ư truyện tàu mà điểm xuyết thêm ra, nhưng điểm xuyết ra nhiều quá thành ra truyện mới vậy.”
Khi hoàn tất Truyện Kiều, Cụ Phạm Quư Thích, một người bạn thân, được xem, và có
đề thơ về Kiều. “ Đoạn Trường Tân Thanh Hữu Cảm” bằng Hán văn, chính cụ viết lại
bằng tiếng nôm
Giọt nước Tiền Đường chẳng rửa oan
Thi hào Nguyễn Du viết Truyện Kiều khi nào? PGS Lê Thanh Lân viết trên vietbao.vn. Xin trích: Đào duy Anh viết trong sách Khảo Luận về Truyện Kiều vào năm 1958, “ban đầu người ta tin rằng Truyện Kiều được viết vào khoảng 1813 đến 1820 v́ hiểu chữ “hành thế” trong câu: “Du trường ư thi, vưu thiện quốc âm, Thanh sứ hoàn, dĩ Bắc hành thi tập cập Thúy Kiều truyện hành thế” ở Đại Nam chính biên liệt truyện. Thực ra “hành thế” chỉ có nghĩa là lưu truyền trong đời, tức là được mọi người biết đến. Vả lại, “tận tín thư, bất như vô thư”, không nên quá tin vào sách, GS Đào Duy Anh viết “sách Liệt truyện, tuy là quốc sử, cũng không đủ cho ta tin. Hết trích. Trước đây đều cho rằng Truyện Kiều được viết sau khi đi sứ nhà Thanh về, khoảng sau 1814, nhưng theo các nhà nghiên cứu có nhiều ư kiến khác nhau, có thuyết nói Cụ viết trước khi đi sứ Thanh, vào lúc làm Cai Bạ ở Quảng B́nh. Học giả Hoàng Xuân Hăn cho rằng Phạm Quư Thích là người đầu tiên đề thơ về Kiều trên đường vào Kinh. Ông Vũ thế Khôi t́m thấy bài thơ có tựa đề là Thính Đoạn Trường Tân Thanh Hữu Cảm có trong Lập Trai Tiên Sinh Di Thi Tục tập. Mới đây bà Hà thị Tuệ Thành t́m thấy bài thơ này trong tập Phạm tiên sinh thi tập, xác định Phạm Quư Thích viết bài thơ này vào năm 1811 (tham luận đọc trong Hội Thảo Quốc tế ở Huế tháng 6 năm 2006). Theo Hoàng Xuân Hăn ông Nguyễn Lương có phê b́nh Truyện Kiều, mà ông Lương bị chết năm 1807 có ghi rơ trong Đại Nam Nhất Thống Chí, như vậy Truyện Kiều được viết đầu đời Gia Long hay trước đời Gia Long. Các nhà nghiên cứu hiện nay khảo cứu các tài liệu, kể cả các chữ húy kỵ Lê-Trịnh, và Triều Nguyễn, Lê thanh Lân kết luận: “Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đă vào nước ta vào những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ 18. Nhờ đó Nguyễn Du sớm được đọc và theo đó mà viết Truyện Kiều. Nguyễn Thiện theo văn Kiều mà nhuận sắc Hoa tiên vào mười năm cuối thế kỷ 18. Nguyễn Huy Hổ theo văn Kiều và văn Hoa tiên mà viết Mai đ́nh mộng kư, hoàn thành vào năm 1809. Như thế Truyện Kiều xong trước việc nhuận sắc Hoa tiên nên phải được viết vào những năm cuối đời Lê đầu đời Tây Sơn, trùng với kết luận của GS Nguyễn Tài Cẩn rút ra được từ việc phát hiện chữ húy thời Lê - Trịnh trong một số bản Kiều Nôm.” Mới đây, Lê Quang Thái trong bài Truyện Kiều được viết tại Phú Xuân-Huế đăng trên Trung Tâm Liễu Quán Huế tháng 11, 2013: Xin trích: Thúy Kiều truyện viết dưới thời Gia Long, thâm nhập cung đ́nh vào đầu triều Minh Mạng. Chưa biết rơ năm nào? Tiến sĩ Phạm Quư Thích bạn tri âm của Nguyễn Du đề từ và lo việc ấn hành và hoàn thành trước ngày mất của ḿnh ngày 29 tháng 3 năm Ất Dậu, 1825. Từ lúc đọc Nguyên Truyện của Bắc quốc cho đến ngày hoàn thành dâng lên vua Minh Mạng ngự lăm phải trước năm 1825, chỉ v́ từ năm ấy, Phạm Quư Thích bệnh nặng. Nếu lấy ngày mất của Phạm Quư Thích làm thời điểm hoàn thành Truyện Kiều, th́ có thể suy ra thời gian Nguyễn Du viết Truyện Kiều tại Phú Xuân Huế kể từ sau tháng 3 năm Quư Dậu, niên hiệu Gia Long thứ 12 [1813] đến tháng 3 năm Ất Dậu, niên hiệu Minh Mạng thứ 6 [1825] là 12 năm, như vậy Nguyễn Du viết xong Truyện Kiều bằng thơ nôm phải mất khoảng chừng trên 10 năm. Theo Tiểu truyện Nguyễn Du th́ từ năm 1813 trở về trước ông chưa đi sang Trung Quốc lần nào cả. Ở tuổi đời 37, 38 Nguyễn Du mới tiếp cận được với Nguyên Truyện của Thanh Tâm tài nhân. Làm quan tại Huế, làm sao Nguyễn Du viết Truyện Kiều ở nơi khác được. Chúng tôi khẳng định: Nguyễn Du viết Truyện Kiều tại đất Phú Xuân - Huế. Hết trích. Năm 1963, trên Tạp chí Văn học, Trương Chính đă nghĩ Nguyễn Du viết Truyện Kiều trong thời gian ở dưới chân núi Hồng, khoảng từ 1796 đến 1801, tức trước khi ra làm quan nhà Nguyễn. Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn và Phó giáo sư Đào Thái Tôn, căn cứ kết quả khảo sát chữ húy, đă viết :“ Theo Tiến sĩ Ngô Đức Thọ và chúng tôi, có thể phỏng đoán cái khoảng 4 năm 1787- 1790 là cái khoảng cụ Nguyễn Du cơ bản hoàn thành bản phác thảo Truyện Kiều” Hội Kiều Học đưa ra tổng luận trên trang nhà Nguyễn Du: “Như vậy các nhà nghiên cứu trên đều có cái chung là hoài nghi sự khẳng định của Quốc sử quán triều Nguyễn, nêu ư kiến mới của ḿnh nhưng người th́ cho là viết trước khi đi sứ (1809), người th́ cho viết trước khi Gia Long lên ngôi (1802). Chưa có sự thống nhất v́ các vị chỉ dựa vào dấu vết văn bản và suy luận từ cuộc đời tác giả và tác phẩm. Văn bản th́ không có gốc, người viết về Nguyễn Du th́ không ghi thời gian cụ thể, Truyện Kiều có đến hơn 40 bản in, sao chép nhiều chỗ khác nhau theo văn bản nào cũng không chuẩn; mối quan hệ giữa lịch sử, cuộc đời tác giả và tác phẩm th́ quá phong phú và phức tạp mà mỗi người đều có thể suy luận theo cách nghĩ riêng của ḿnh. Kết luận khoa học th́ phải có đầy đủ chứng cứ không phải một ngành mà nhiều ngành khoa học, các chứng cứ phải cụ thể, chính xác, phải được các cơ quan có năng lực và thẩm quyền kiểm định chắc chắn th́ mới có sức thuyết phục. Đến nay chưa nhà nghiên cứu nào t́m được một căn cứ chính xác cả. V́ thế bài toán về thời gian Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều mà chúng ta tự nêu lên đến nay đă đi suốt nửa cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI vẫn chưa giải nổi.” Tóm lại, thu thập các ư kiến phân tích các chứng cứ qua thơ văn, chữ kỵ húy Lê-Trịnh Nguyễn của các nhà nghiên cứu về Kiều, người th́ nói Truyện Kiều được viết khi ở quê vợ Bắc Ninh vào thời Tây Sơn, người th́ cho rằng lúc ở Tiên Điền dưới chân Hồng Lĩnh lúc đang ẩn cư ở quê nhà, hoặc thời gian làm Cai Bạ Quảng B́nh trước khi đi sứ năm 1813. Căn cứ vào Liệt Truyện th́ Cụ viết sau khi đi sứ Thanh về đang làm quan ở Huế trong khoảng 1814 đến 1820, chứng cứ này có vẽ khá vững v́ do Quốc Sử Quán triều Nguyễn ghi lại.
Chung cuộc, thời điểm viết Truyện Kiều vẫn c̣n đang tranh luận, đợi các nhà Kiều
Học phát hiện thêm những chứng cứ mới có tính thuyết phục cao sẽ có câu trả lời
dứt khoát.
Hiện nay chưa thấy bản chính Truyện Kiều do Cụ Tố Như viết, chỉ thấy các bản sao chép. Bản Liễu văn Đường cổ nhất in năm 1866, Tự Đức 19, do Nguyễn Khắc Bảo-Nguyễn Trí Sơn hiệu đính Bản Kinh năm Tự Đức 23, 1870 do Nguyễn Quảng Tuân hiệu đính Kim vân Kiều Tân Truyện, Liễu văn đường tàng bản Tự Đức 24 (1871) Truyện Kiều bản nôm Duy Minh Thị năm 1872 Kim vân Kiều Tân Truyện-Tự Đức Kỹ Măo (1879) Thịnh Mỹ Đường Tàng Bản Bản của Kiều Oánh Mậu hiệu đính in năm Thành Thái 14 (1902) Ông Nguyễn Khắc Bảo ở Tp Bắc Ninh sưu tập được 52 bản Kiều cổ, nhiều bản trùng nhau. Bản do Trương Vĩnh Kư in tại Sài g̣n năm 1872 đưọc coi là bản chữ quốc ngữ đầu tiên, từ đó có nhiều bản quốc ngữ khác, măi tới 1927 xuất bản ở Hà nội do Trần Trọng Kim và Bùi Kỹ hiệu đính.
Theo Phạm Đan Quế, tính đến năm 1965 (chưa kể các lần in ở Sài G̣n sau 1954) đă
có 71 lần Truyện Kiều văn bản quốc ngữ. (nguồn: Phạm Đan Quế, Truyện Kiều đối
chiếu, NXB Hải Pḥng, 1999.) V́ không t́m thấy bản gốc, nên hiện nay có rất nhiều người hiệu đính qua các bản sao chép khác nhau được t́m thấy, sửa chửa lời văn theo ư kiến riêng của ḿnh. Ví dụ:
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sửa câu:
Sè sè nấm đất bên đường Vương Quang kể cho Kiều nghe về lai lịch ngôi mộ hoang tàn của Đạm Tiên: Cô ta là một ca nhi nổi tiếng lâm bệnh lâu ngày rồi chết, may mắn có một dân chơi phương xa nghe tiếng Đạm Tiên t́m đến chơi, nàng đă chết từ lâu, anh ta khóc than rồi làm tang ma chôn cất cho nàng rất linh đ́nh, ư muốn gieo duyên nợ để mong gặp nhau ở kiếp sau:
Sắm sanh nếp tử xe châu Tản Đà sửa “vùi nông” thành “bụi hồng”, với chú thích lư do sửa chữa: “Hai chữ “bụi hồng” đây chỉ là lời văn lịch sự nói cái mả chôn ở bên đường. Có nhiều bản đề là “vùi nông” thời làm mất cả vẻ hay mà lại thành ra cái t́nh của người khách không có trung hậu. Như sự sai lầm đó rất có hại đến văn lư”. Tản Đà cho rằng VÙI NÔNG làm mất vẻ hay, và t́nh người khách không trung hậu, ông sửa lại BỤI HỒNG cho lịch sự. Theo thiển ư, “vùi nông” không có nghĩa “nông, sâu” vật lư mà nông sâu tâm lư, hàm ư hành động của một người không thân thiết, không chí t́nh. Câu chuyện kể rơ việc tống táng nàng là do hảo ư của một người “khách viễn phuơng” không có tên họ rơ ràng, nói nôm na là một bá tánh nào đó tới lo giúp, đă là “khách” th́ làm sao bằng “chủ” được. Thâm ư giải rơ số phận bạc bẽo phủ phàng của kiếp ca nhi, “sống làm vợ khắp người ta, hại thay thác xuống làm ma không chồng,”. Dù có khóc than thương tiếc bao nhiêu, ma chay linh đ́nh đến đâu, sau khi xong việc sấp lưng quay mặt bước đi là hết. Tương tự như khán giả đến xem một vở tuồng, sau khi cánh màn nhung sân khấu khép lại, khán giả ra về là xong chuyện, mấy ai nghĩ tới tâm tư diễn viên hậu trường sân khấu đang cô đơn buồn tủi!. Xuyên suốt toàn bộ Truyện Kiều, chúng ta thấy Nguyễn Du xử dụng ngôn từ rất tinh vi, có cân nhắc kỹ càng cả về “lư” và “sự” nữa. Vậy th́ “vùi nông” thâm thúy hơn “bụi hồng” nhiều.
Mới đây Đỗ Minh Xuân đă chữa hơn 1000 đơn vị từ của Truyện Kiều.!!! đang gây một
cơn băo phẫn nộ. Ông Thế Anh công bố trên tạp chí Thơ của Hội Nhà Văn Việt
Nam:
Lời quê góp nhặt dông dài Thêm nữa hoàn cảnh in ấn lúc đó quá phức tạp, phải khắc bản gỗ, chữ nôm thường gồm hai hay nhiều chữ Hán ghép lại, có rất nhiều nét, chữ khắc phải ngược với chữ b́nh thường nên người khắc bản gỗ phải là một người có tài nghệ tinh xảo, thông hiểu Hán Nôm. Có nhiều chữ in khó đọc v́ thiếu nét hoặc lem nhem, rồi người đời sau suy đóan tùy tiện viết lại theo ư ḿnh, từ đó có cảnh nhiều dị bản Kiều được t́m thấy. Công tŕnh in ấn sao chép có tính cách tư nhân nên khả năng bị hạn chế, chỉ phổ biến trong phạm vi giao tế bạn bè mua vui trong lúc trà dư tửu hậu, việc lưu giữ tàng trữ trong điều kiện xứ nhiệt đới ẩm ướt, thiếu quan tâm đúng mức, dẫn đến hư hại, mất mát. Bản chính tự tay tác giả viết không t́m thấy điều này đă gây tranh căi cho tốn biết bao công sức giấy bút, để cho hậu thế nhiều suy đoán theo ư riêng.
Hy vọng một ngày không xa,
khoảng cách dị biệt giữa các bản Kiều nôm sẽ được thu
hẹp dần qua công tŕnh nghiên cứu của Hội Kiều Học Việt Nam đang h́nh thành và
phát triển trong cũng như ngoài nước.
|