|
TIẾNG VE SẦU NHỚ NGUYỄN VĂN VĨNH
Không biết các địa phương khác th́ thế nào chứ mùa hè ở Huế tiếng ve kêu inh ỏi ba lần mỗi ngày sáng trưa tối. Bọn trẻ chúng tôi thường đi bắt ve bằng mủ mít (nhựa cây mít), đem về độn chút lá chanh chút muối đem nướng có mùi thơm rất ngon lành. Ở tuổi học tṛ hể khi nghe tiếng ve kêu thấy hoa phượng đỏ lấp ló trên tàng phượng xanh mướt, ḷng nôn nao khó tả, báo hiệu ngày chia tay bạn bè sắp tới. Thời học tṛ ở trường Nguyễn Du, như một thông lệ, sau khi nghe Thầy Hiệu Trưởng tới lớp đọc kết quả Đệ Nhị Lục Cá Nguyệt ḷng cảm thấy nhẹ nhỏm, tiếp theo đó những ngày cận kề lăn xăn trao cho nhau những tờ “pơ-luya” mỏng xếp đôi đủ màu sắc, bạn nữ thích nhất màu xanh nước biển. Viết trong đó cảm nghĩ riêng ḿnh rồi rụt rè trao lại cho nhau ḷng hồi hộp v́ trong trang giấy đó đă trải bày tâm tư chưa bao giờ nói ra, nâng niu cẩn thận, về nhà đóng thành tập, đó là kỷ niệm khó quên nhất của tuổi dậy th́……Mấy ai c̣n giữ được lâu?. Ôn lại kỷ niệm cũ lại nhớ bài ngụ ngôn La Fontaine LA CIGALE ET LA FOURMI ( Con ve sầu và con kiến) của Nguyễn văn Vĩnh dịch ra Việt ngữ:
Con ve sầu, kêu ve ve Bài dịch này mang âm hưởng như một bài thơ mới “Em đi chùa Hương” sau này của Nguyễn Nhược Pháp, con trai út của tác giả, rất phổ biến nhiều người biết đến qua tài phổ nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy. Câu chuyện này ngụ ư chê bai kẻ say mê đờn ca xướng hát vui chơi, không lo “tích cốc pḥng cơ”, có vẻ không đúng với hiện nay rồi, giới ca sỹ ngày nay giàu sang rủng rỉnh, nhà cao cửa rộng, xe “xịn” muốn đi đâu tùy thích. Tin mới đây cho biết ca sỹ Hà Hồ qua tận Dubai du hí ở khách sạn 7 sao Emirates Palace dát vàng rực rỡ, ăn điểm tâm với bánh dát vàng. Ai bảo say mê ca hát sẽ bị thiếu ăn phải đi vay mượn? Có một dạo thành phố Huế rộ lên ở các nẻo đường trẻ con tụ tập đánh kiếm tự xưng là Đạt Ta Nhăn (d’Artagnan), nhân vật đánh kiếm rất đẹp trong phim Ba chàng Ngự Lâm Pháo Thủ được chiếu ở rạp Nguyễn văn Yến dân Huế nườm nượp đổ xô đi xem. Góc phố nào cũng nghe bàn tán, các bà bán hàng tạp hóa, hàng vải trong chợ Đông Ba, các ông đủ mọi lứa tuổi ở càphê Phấn, càphê Lạc Sơn, trong các tụ tập vui chơi bạn bè chuyện tṛ râm ran v́ câu chuyện rất quen thuộc với dân thị thành đă được ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra Việt ngữ vào thập niên 1920s từ văn học Pháp, rất được phổ biến trong giới tân học và người dân thị thành. Ông Nguyễn Văn Vĩnh có công dịch nhiều tác phẩm văn chương nổi tiếng của Pháp được phổ biến qua báo chí hay Tủ Sách Âu Tây Tư Tưởng (La Pensée de l’Occident) do ông chủ trương đă được thâm nhập sâu rộng trong giới tân học từ Hànội qua Huế đến Sàig̣n; trong số đó có Thơ Ngụ Ngôn La Fontaine (La Fable de La Fontaine), Ba chàng Ngự Lâm pháo thủ (Les Trois Mousquetaires của Alexandre Dumas), Những kẻ khốn nạn (Les Misérables của Victor Hugo), Mai nương Lệ Cốt (Manon Lescaut của Abbé Prévost, kịch Molière, và nhiều nữa. Nguyễn văn Vĩnh bút danh Tân Nam Tử, sinh năm 1882 mất năm 1936, ông hoàn toàn được giáo dục trong môi trường văn hóa Pháp ở Việt Nam đă hoàn chỉnh theo chủ trương của nhà cầm quyền Pháp. Ông quê làng Phượng Vũ, xă Phượng Dực, huyện Thường Tín tỉnh Hà Đông (nay là Phú Xuyên, Hànội) lên Hànội ở nhà bà Nghè Đại ( vợ ông nghè Phạm Huy Hổ) để kiếm sống. Lên 8 tuổi thường thả ḅ gặm cỏ ở băi sông Hồng rồi mon men đến đ́nh làng Yên Phụ đứng ngoài nghe thầy giáo Pháp giảng bài lớp học Thông Ngôn. Say mê về những điều mới lạ, quyết định bỏ nghề chăn ḅ xin một chân kéo quạt ngồi ở cuối lớp để có cơ hội trau dồi kiến thức, chăm chỉ nghe giảng nhờ vậy ông đă nói và viết thông thạo tiếng Pháp. Ông Hiệu Trưởng D’Argence rất chú ư cho phép ông dự thi cuối khóa, ông đỗ thứ 12/40 lúc đó mới có 10 tuổi. V́ c̣n quá nhỏ nhà trường đặc cách cho ông vào học chính thức, được cấp học bổng theo học trường thông ngôn (Collège des Interprètes ). Ông đỗ thủ khoa, nhiệm sở đầu tiên là thông dịch viên cho toà sứ Lào Cai ở tuổi 15, chuyển về làm Toà Sứ Hải Pḥng - Bắc Ninh. Thời gian này ông bắt đầu viết báo Courrier d’Haiphong và Tribune Indochinoise. Ông được Công Sứ Bắc Giang Henry Hauser đánh giá cao về khả năng nói lưu loát tiếng Pháp và tài ứng đối nhanh nhẹn tháo vát nên đặc cách giữ chức Chánh văn pḥng. Khi Hauser về làm Đốc lư (Thị Trưởng) Hànội cũng mang ông theo. Với uy tín cá nhân sẵn có, ông xin ông Thị Trưởng mở Đông Kinh Nghĩa Thục. Chính ông soạn thảo điều lệ Hội Dịch Sách để phổ biến sách nước ngoài (Pháp, Hán) ra chữ Quốc Ngữ. Năm 1906 theo Hauser sang Marseille dự Hội Chợ Thuộc Điạ. Năm 1922 ông lại đi dự đấu xảo ở Marseille lần nữa. Trong Pháp du hành tŕnh nhật kư, ông Phạm Quỳnh kể được ông Vĩnh đưa đi chơi Paris bằng xe hơi riêng của ông mua, và chính tay ông cầm lái. Thời gian ờ Pháp ông tận mắt thấy xă hội nước Pháp văn minh, qua sách báo hấp thụ tư tưởng tự do dân chủ Tây Phương, học cách làm báo, tham gia Hội Nhân Quyền Pháp. Ông bắt đầu suy tư về nước nhà quá lạc hậu, triều đ́nh Huế quan liêu khúm núm tŕ trệ, cần phải Âu hóa để canh tân đất nuớc mới mong thoát được nô lệ. Về nước ông xin thôi công chức và trở thành nhà báo tự do để thực hiện hoài bảo của đời ḿnh. Cơ may đến với ông. Lúc này chính quyền Pháp chủ trương xóa bỏ chữ Nho trên toàn cơi Việt Nam, băi bỏ thi hương (ở Bắc năm 1915, ở Trung năm 1919), công văn phải dùng chữ quốc ngữ thay chữ Nho (ở Nam Kỳ thuộc địa đă bỏ chữ Nho từ năm 1882). Ông dùng báo chí đẩy mạnh phong trào sử dụng, và truyền bá chữ Quốc Ngữ được chính quyền đồng t́nh. Ông đă để lại một câu nói đáng ghi vào lịch sử “ Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ ”. Khởi sự tham dự chính thức làng báo với tờ Đăng Cổ Tùng Báo (Thắp đèn đánh trống-1907) do ông làm Chủ Bút, Phan Kế Bính phụ tá, Đào Nguyên Phổ lo phần chữ Hán. Tờ báo đă thổi một sinh khí mới trong xă hội, có thể nói tờ báo là tiếng nói của Đông Khinh Nghĩa Thục. Năm 1906 Cụ Phan Châu Trinh viết kiến nghị Đầu Pháp Chính Phủ Thư bằng chữ Nho gởi Toàn Quyền Đông Dương, ông dịch ra tiếng Pháp, và phổ biến lên báo. Chính quyền thực dân lo ngại hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục gây không khí bất lợi, ra lệnh đóng trường và đóng cửa tờ báo (tháng 11,1907). Ông là người Việt đầu tiên và duy nhất cùng bốn người Pháp kư tên đ̣i trả tự do cho Cụ Phan Châu Trinh v́ vô tội (không xin ân xá, chỉ có tội mới xin ân xá), ông c̣n bảo lănh cho Cụ Phan Kế Bính, xin xét lại việc bắt giữ Cụ Ngô Đức Kế bị bắt v́ Đông Kinh Nghĩa Thục, khiến ông bị bóng gió đe dọa “nhà tù Côn lôn vẫn c̣n nhiều chỗ”. Ông bị cấm diễn thuyết, lưu hành và tàng trữ ấn phẩm của Đông Kinh Nghĩa Thục. Tính ra ông đă làm 8 tờ báo, đáng kể là các tờ tuần báo Đông Dương Tạp Chí, qui tụ hầu hết nhân sĩ hàng đầu Nho lẫn Tân học như Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Hoàng Tăng Bí, Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Đỗ Mục, Dương Bá Trạc, Tản Đà…. Báo dạy người dân cách làm văn bằng chữ Quốc Ngữ, tồn tại hơn 6 năm (3/1913-9/1919), bị đóng cửa ông ra tờ Học Báo do ông làm Chủ Nhiệm, Trần Trọng Kim Chủ Bút để tiếp tục nâng cao dân trí. Năm 1919 ông sở hữu tờ Trung Bắc Tân Văn, làm Chủ nhiệm kiêm Chủ Bút từ 1/1919 đến 4/1941. Sau khi ông qua đời báo vẫn hoạt động tổng cọng 7265 số...(Sau khi Nguyễn Văn Vĩnh mất báo do ông Nguyễn Văn Luận, Phạm Huy Lục phụ trách). Năm 1931 vay vốn ra báo L’Annam Nouveau ( Nước Nam Mới) bằng tiếng Pháp do ông làm Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút cho đến 1936 qua Lào t́m vàng trả nợ mới đ́nh bản báo. Báo viết bằng tiếng Pháp để khỏi bị kiểm duyệt theo luật định, chủ đích quảng bá bảo vệ chủ thuyết Trực Trị ( Administration directe) do ông đề xướng áp dụng phương thức xă hội dân chủ Pháp và chống lại chủ trương thực hiện Quân Chủ Lập Hiến do Phạm Quỳnh cổ xúy. Ông chống lại triều đ́nh nhà Nguyễn v́ sự tŕ trệ quan liêu phong kiến ḱm hăm bước tiến của dân tộc. Ông phổ biến bài viết Thể Chế Cho Xứ Đông Dương (Le Statut Indochinois) trên ba số báo liên tiếp 17, 18, 19 (tháng 4, 1931) nêu rơ lập trường chính trị của ông. Báo được giải GRAND PRIX tại Hội Chợ Báo Chí thuộc địa ở Paris năm 1932. Chính nội dung tờ báo này đă làm thực dân hoảng sợ cọng thêm việc ông đại diện các doanh nghiệp phản đối việc chuyển đổi đồng tiền Đông Dương từ ngân bản vị sang kim bản vị v́ có lợi cho Ngân Hàng Pháp mà có hại cho kinh tế Đông Dương. Ông không chịu kư vào biên bản của Đại Hội Đồng Kinh Tế Tài Chánh Đông Dương năm 1932. Sau buổi họp Tổng Giám Đốc Ngân Hàng gặp ông báo cho biết số tiền nợ 60 – 80 ngh́n đồng đă đáo hạn từ lâu, nếu chịu kư th́ được việc vẫn c̣n kịp, nếu không kư chúng tôi vẫn làm. Về tới nhà ông nhận trát đ̣i tịch thu toàn bộ gia sản để trừ nợ. Toàn Quyền Pasquier thấy ông sẽ là lực cản nguy hiểm rất lớn, đối tượng cần phải triệt hạ gấp, “nhờ người thân bắn tiếng đến tai ông nếu ông Vĩnh bằng ḷng ngưng công kích Bảo Đại, và bút chiến với Phạm Quỳnh, gấp đôi số nợ ấy cũng sẽ được trang trăi êm ấm mà không cần phải bận tâm ǵ hết.” (Hồi kư Vũ Bằng). Năm 1933 vua Bảo Đại mời ông giữ chức Thượng Thư, Ngự Tiền Văn Pḥng. Phạm Quỳnh mời ông vào Huế trao đổi ư kiến. Ông từ chối làm quan, trở về Hà Nội viết báo phê phán triều đ́nh Huế chỉ là bộ máy cai trị tŕ trệ chẳng ích lợi ǵ. Chính quyền Pháp chiêu dụ mở lối thoát khỏi bị tịch biên gia sản: Ông có thể điều đ́nh với ba điều kiện để đánh đổi: 1/ Chấm dứt đả phá Triều Đ́nh Huế và Thượng Thư Phạm Quỳnh, 2/ Vào Huế nhận chức Thượng Thư, 3/ Dừng toàn bộ việc viết báo. Cuộc mặc cả kéo dài tới 1935 không có kết quả, chính quyền đưa ra 3 điều kiện khác: 1/ Chấm dứt toàn bộ viết báo, 2/ Chấp nhận đi tù ( dù chỉ một ngày), 3/ Sang Lào t́m vàng để trả nợ.
Ông thừa biết chính quyền
muốn ǵ. Tháng 3 năm 1936 ông chọn điều kiện thứ ba, sang Lào t́m vàng để được
quyền viết báo. Ngày 1 tháng 5 năm 1936, người dân địa phương phát hiện ông cô
độc trong một chiếc thuyền nhỏ, một tay cầm cuốn sổ viết về việc t́m vàng, một
tay cầm bút, trôi trên sông Sê Băng Hiên (một nhánh của sông Tchépone, Lào). Ông
được đưa vào bệnh viện cứu chữa nhưng quá muộn, và ông chết ngày 2 tháng 5 năm
1936 tại Tchépone (Sê-pôn), Nam Lào. Năm 1917 sau khi lên ngôi, vua Khải Định ra Hà nội yết kiến Toàn Quyền Đông Dương Albert Sarraut. Ông dẫn đầu đoàn Hội Đồng Dân Biểu Bắc Kỳ tham dự buổi lễ đón, bắt tay Toàn Quyền Đông Dương, tiếp theo bắt tay vua Khải Định theo phản xạ. Các quan lại Nam Triều rất sợ hăi, kết tội khi quân v́ dám chạm vào ngọc thể vua, lại c̣n phỉ báng ông theo Tây bán nước cho Tây. Ông thản nhiên đáp “Các ông bảo tôi bán Nước…Nước người ta đă bán từ bao giờ rồi c̣n đâu đến lượt tôi để mà bán !”. Ông yêu nước theo con đường riêng của ḿnh, ngầm giúp những nhà yêu nước khác. Bề ngoài ông rất thân cận với nhà cầm quyền, có khi phát ngôn theo chiều của giới cầm quyền. Ông thăm Cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự-Huế, và cùng nhau ra Thuận An đă bị cơ quan An Ninh phủ Toàn Quyền tra vấn ngày15 tháng 5 năm 1926. Trong điếu văn Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8-5-1936, Cụ Phan Bội Châu viết:
“Ngày tôi mới về Huế, được
gặp ông chủ báo Trung Bắc Tân Văn vào Huế thăm tôi cùng một xe hơi với tôi đi
Cửa Thuận. Xe nhà ông, ông cầm lấy lái. Nhân duyên xa lạp chưa trải bao nhiêu mà
đường lối Bắc Nam chốc thành vĩnh biệt. Tôi đau cảm quá nên có mấy hàng chữ điếu
ông: Ông chủ trương phải canh tân đất nước, trước hết phải mở mang dân trí, báo chí là phương tiện cốt lơi. Như đă thấy trong các điều kiện chính quyền thực dân Pháp đưa ra để đổi lại sự tịch biên gia sản đều đặt việc làm báo lên hàng đầu. Điều này chứng tỏ Pháp rất lo ngại ông. Lần thứ hai, điều kiện chấp nhận đi tù dù chỉ một ngày cũng đủ cho ông thoát khỏi việc bị tịch biên gia sản, chính quyền dụ ông sa vào bẫy “lư lịch có tiền án”, vi phạm luật để cấm ông viết báo v́ nếu cấm ông viết không hợp lư sẽ bị Hội Nhân Quyền can thiệp. Ông chọn con đường sang Lào t́m vàng để c̣n được quyền viết báo. Kế điệu hổ ly sơn của Pháp muốn đưa ông xa Hànội đến đất Lào hẻo lánh th́ bạn bè người Pháp của ông trong Hội Nhân Quyền hay báo chí không hay biết để dễ bề bịt miệng ông, và ông thà chịu chết chứ không chịu bỏ nghề viết báo hoặc tham gia bộ máy cai trị vô bổ của triều đ́nh Huế với chức Thượng Thư. Ông là một đại trí thức thực sự yêu nước có tầm nh́n xa trông rộng, và có tâm muốn cải cách đổi mới đất nước, trước tiên phải nâng cao dân trí theo kịp đà văn minh mới mong thoát khỏi ách thực dân, nhưng tiếc là triều đ́nh Huế là một bộ máy cai trị bù nh́n không ích lợi ǵ cho dân tộc như ông nhận định qua loạt bài đăng trên báo L’Annam Nouveau năm 1933 sau khi từ Huế trở về Hànội, hai lần từ chối Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp, và Kim Khánh Bội Tinh của Triều Đ́nh Huế. Ông chỉ là một cánh én không làm nên mùa xuân!!! Ông mất đi dân tộc mất một công dân yêu nước đầy nhiệt huyết, ngựi đương thời không hiểu thấu tâm can ông, kết tội ông đă bán linh hồn cho Tây. Ông như một con nhạn cô đơn bay qua bầu trời Việt Nam: “Nhạn quá trường không,
Ảnh trầm hàn thủy Thủy vô lưu ảnh chi tâm” (Không biết tác giả)* Lẽ thường việc khen chê một người phải đợi đến khi đóng nắp quan tài người đó xong mới bàn, gọi là CÁI QUAN ĐỊNH LUẬN. Với những nhân vật lớn có ảnh hưởng đến lịch sử th́ phải đợi có một thời gian nhất định tối thiểu phải 50 năm thậm chí cả 100 năm sau khi qua đời để khỏi bị chi phối bởi những ảnh hưởng quyền lực hay cảm t́nh th́ lời b́nh phẩm mới trung thực. Ông Nguyễn văn Vĩnh là một người đă làm nên lịch sử như đă thấy qua sự nghiệp của ông để lại. Từ ngày ông mất đến nay đă trăi qua một thời gian khá dài 80 năm đủ để mọi xao động chính trị có thời gian lắng xuống; sự nghiệp của ông cần phải được đánh giá lại, cần trả lại công bằng cho ông.
Qua t́m hiểu kẻ hậu sinh rất
ngưỡng mộ một con người thông minh, can đảm, thức thời biết vận dụng khả năng
phương tiện hiện có để mở lối nâng cao dân trí dân tộc bị trị ngang tầm với kẻ
thống trị mới mong có cơ hội tranh hùng thoát ṿng nô lệ; bất khuất không nhận
huân chương chức tước của thực dân và của triều đ́nh Huế bù nh́n là một thái độ
quả cảm “Phú quư bất năng dâm”.
Kiên cường tranh đấu tới cùng quyết giữ vững ư chí dùng báo chí để nâng cao dân
trí, và tố cáo kẻ thống trị một cách hợp pháp trên mặt báo là
“Uy vũ bất năng
khuất”. H́nh ảnh ông cô đơn một tay cầm bút, một tay cầm quyển sổ viết bài tường
thuật khi ông kiệt sức trong một con thuyền nhỏ trôi trên sông ở Lào là một
thông điệp nhắn gởi cho hậu thế, đấu tranh hợp pháp chống lại nhà cầm quyền là
“Bần tiện bất năng di”. Ông là một công dân Việt đầy tiết tháo bất khuất đương
đầu trực diện với cường quyền đang thống trị d́m dân tộc dưới gót giày thực dân.
Năm 2016 là ngày giỗ thứ 80 của ông, kính xin gởi nơi đây nén hương ḷng tưởng
nhớ Ông với ḷng ngưỡng mộ kính phục vô hạn. _____________ *
Nhạn quá trường không, -Có tài liệu cho rằng 4 câu này là của Thiền Sư Hương Hải ( 1627-1715) ghi trong Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quư Đôn (Nguồn: langmai.org). -Có tài liệu nói bài này là của Thiền Sư Thiên Y Nghĩa Hoài (993-?) trong Truyền Đăng Lục ( Nguồn: daophatngaynay.com) _______ a2a mời xem tranh :
“Sự ra đời của chữ Quốc ngữ (Cái chết siêu Việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh)” Tranh Nguyễn Đ́nh Đăng ( Nguồn tranh & bài viết: Đa Minh Việt Nam)
|