|
TỪ VŨ - NGƯỜI GIỮ "HOA LƯƠNG THIỆN" GIỮA HAI BỜ BIỂN
Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc ḿnh giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ ǵn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió. Ông không chỉ là người sáng tác thơ, tùy bút, truyện ngắn và truyện chuyển ngữ, mà c̣n cùng cộng sự sáng lập trang web vietvanmoi.fr từ những năm 2004 và giữ vai tṛ chủ biên, phu nhân của ông bà Nguyễn Thị Dị phụ tá chủ biên cùng với các thành viên khác (xem vietvanmoi.fr) - một không gian kết nối những người yêu văn học nghệ thuật Việt Nam trong nước và hải ngoại. Trong thời đại công nghệ, khi khoảng cách địa lư không c̣n là rào cản, ông cùng cộng sự yêu thích văn chương và Tiếng Việt cội nguồn, đă tạo dựng một diễn đàn để người Việt khắp nơi có thể gặp nhau bằng văn chương. Nếu phải chọn một h́nh ảnh để nói về ông, có lẽ đó là h́nh ảnh một người đứng giữa hai bờ biển: một bờ là kư ức quê nhà, một bờ là đời sống thực tại nơi xứ người và giữa hai bờ ấy, ông cùng ban biên tập kiên nhẫn bắc một nhịp cầu bằng chữ nghĩa.
Đó không chỉ là một trang web. Đó là một không gian
văn hóa. Ở đó, những tác giả trong nước và hải ngoại cùng hiện diện,
cùng chia sẻ sáng tác, cùng đối thoại. Một người từng tham gia xây dựng
tiêu chuẩn ISO châu Âu, nay lại kiên nhẫn xây dựng “tiêu chuẩn” cho chữ
nghĩa Việt bằng tinh thần tự nguyện và trách nhiệm. Sinh năm 1943 tại làng Quất Động, xă Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Đông, Bắc Việt, Từ Vũ mang trong ḿnh ḍng dơi nhà Mạc - phái hệ Thế Tử Mạc Phúc Đăng, con thứ vua Hiến Tông Mạc Phúc Hải và bà Quư Phi Bùi Thị Ban. Gia phả ấy như một mạch ngầm lịch sử chảy qua nhiều thế kỷ, nhưng cuộc đời ông lại là câu chuyện của thế kỷ XX - thế kỷ của chiến tranh, chia cắt và lưu vong. Tuổi thơ ông gắn với Hà Nội, học tại trường Quang Trung (Hồ Bảy Mẫu). Năm 1953, ông theo cha mẹ vào Nam. Những ngôi trường ông từng theo học - Trần Hưng Đạo Đà Lạt, Bá Ninh Nha Trang, Lê Quư Đôn Nha Trang, Nguyễn Bá Ṭng, Lê Bảo Tịnh, Trường Sơn Sài G̣n,… như những cột mốc của một hành tŕnh tuổi trẻ nhiều biến động. Ông từng là giảng viên chính trị tại các trung tâm huấn luyện Biệt Chính Vũng Tàu, Trường Sơn Biển Hồ Pleiku và Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Vũng Tàu, từng phục vụ trong Biệt Đội 1 Quân Báo thuộc Pḥng 2 - Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, làm việc bên cạnh Pḥng Nh́ Sư đoàn 1 Bộ binh Hoa Kỳ. Năm 1972, ông giải ngũ. Sau 30 tháng 4 năm 1975 t́nh nguyện đi kinh tế mới tại Long Châu Hà, học nghề đánh cá rồi đóng tàu vượt biên. Năm 1979, ông định cư tại Pháp. Từ một người lính, ông bước vào đời sống công nghiệp hiện đại châu Âu, trở thành cán bộ cao cấp trong các công ty sản xuất kỹ nghệ của Pháp như Weber & Broutin, Lafarge Réfractaires, Allia, Allibert & Sommer, Simpa… Ông c̣n là thành viên nhóm đại diện các công ty sản xuất Pháp trong hội đồng soạn thảo các quy luật phẩm chất ISO của Cộng Đồng Âu Châu về thiết bị vệ sinh. Gia đ́nh ông dù phải trải qua những sóng gió nhưng cũng gặp nhiều may mắn. Rủi may đă từng ... cuối cùng trôi dạt đến Pháp với cuộc sống ổn định. Giờ hai ông bà hưởng lương hưu. Các con cháu đều học giỏi, thành đạt ở cấp quốc gia và quốc tế. Điều đặc biệt là các cháu sống rất giản dị, nhân hậu (giúp đỡ người yếu hơn ḿnh về tinh thần, vật chất...) xứng đáng là hậu duệ của một vương triều tự ḿnh lập quốc và cũng có nhiều cải cách đáng ghi nhận (giúp xă hội ổn định trong một giai đoạn khó khăn, góp phần giữ ǵn truyền thống văn hóa- khoa cử của Đại Việt) cho đất nước thời bấy giờ. Một hành tŕnh như thế, từ làng Quất Động đến pḥng họp ISO châu Âu, đủ cho thấy biên độ rộng lớn của đời sống Từ Vũ. Nhưng giữa những vai tṛ chuyên môn nghiêm ngặt ấy, ông vẫn giữ một căn cước khác: người làm thơ, viết văn “tài tử” từ thời học tṛ.
“Anh, khách lạ phương trời xa biền biệt Trong thơ Từ Vũ, có hai không gian luôn song hành: quê hương và xứ người. Một bên là “biển quê em xanh mát”, “trăng Hạ - Lan hương ngào ngạt”; bên kia là “một trời mây u ám”, “trăng tây phương… ảm đạm”. Thiên nhiên trong thơ ông không chỉ là cảnh sắc mà là kư ức - một kư ức vừa dịu dàng vừa nhói đau. Bốn mươi năm xa xứ được ông gói trong một câu: “Bốn mươi năm… trôi nhanh như một thoáng.” Nhưng phía sau “một thoáng” ấy là cả một đời người. Thơ ông không cầu kỳ cách tân, không phá vỡ cấu trúc truyền thống; ông viết theo nhịp cảm xúc tự nhiên, như tṛ chuyện. Cái đẹp trong thơ ông không nằm ở kỹ thuật mà ở sự chân thành. Ở đó có một nỗi buồn, nhưng không phải nỗi buồn bi lụy. Đó là nỗi buồn của người từng “mộng vá trời” thuở trẻ, từng tin vào lư tưởng, từng nếm trải thất bại và mất mát, nhưng vẫn giữ được niềm tin vào giá trị của kư ức và yêu thương.
3. Nếu thơ Từ Vũ là tiếng ḷng, th́ truyện ngắn và truyện chuyển ngữ của ông lại cho thấy một tầng suy tư triết lư rơ rệt. Trong câu chuyện thần tiên nước Văn Lang, h́nh ảnh cô gái với chậu hoa không nảy mầm được chọn làm hoàng hậu v́ đă trồng được “HOA LƯƠNG THIỆN” là một ẩn dụ giản dị mà sâu sắc. Hạt giống đă bị diệt mầm - chỉ ai gian dối mới có hoa; người trung thực chỉ có chậu đất trống. Và chính sự trung thực ấy mới là loài hoa quư nhất. Triết lư này được ông bày tỏ rơ hơn trong đoạn văn “Hoa không tên”: “Nỗ lực tạo ra vẻ đẹp không phụ thuộc vào phong cách mà phụ thuộc vào chân lư… Những ǵ đẹp đẽ sẽ trường tồn.” Đối với Từ Vũ, cái đẹp không phải là sự phô trương h́nh thức, mà là sự hài ḥa giữa tâm hồn và hành động. Ông tin vào bản chất sáng tạo trong mỗi con người và tin rằng văn chương, trước hết, phải hướng thiện. Trong một thế giới nhiều biến động, khi những giá trị bị đảo lộn, việc ông kiên tŕ nhắc đến “lương thiện” như một loài hoa đáng trân trọng cho thấy một lựa chọn rơ ràng: đứng về phía chân lư và ḷng nhân ái.
4. Truyện ngắn “Mẹ con thằng Tuấn” có thể xem là tác phẩm tiêu biểu cho mạch tự sự của Từ Vũ. Viết theo lời kể của một bà mẹ, trộn lẫn ít nhiều kư ức thời thơ ấu của tác giả, câu chuyện tái hiện một giai đoạn lịch sử nhiều xáo trộn. H́nh ảnh cô Toan- người mẹ trẻ hiện lên như biểu tượng của sự kiên cường. Bị dồn ép, bị toan tính cướp mất đứa con bằng một tờ giấy đổi tên cha mẹ, cô vẫn giữ được b́nh tĩnh, đọc to văn bản trước mặt những người muốn lừa dối ḿnh, rồi dứt khoát từ chối. Ở đây, Từ Vũ không chỉ kể một câu chuyện gia đ́nh. Ông đặt ra vấn đề căn tính: tên cha, tên mẹ trên giấy khai sinh không chỉ là thủ tục hành chính mà là sợi dây nối một con người với nguồn cội. Đứa trẻ bị trói vào chân ghế, bị hạch sách, gào khóc gọi mẹ, đó là h́nh ảnh của một thế hệ lớn lên trong bất an, trong những đứt đoạn đạo lư. Nhưng truyện không kết thúc bằng bi kịch. Thằng Tuấn được đi học. Người mẹ giữ được con. T́nh mẫu tử thắng mưu mô. Ở đó, một lần nữa, “hoa lương thiện” lại nở.
5. Dịch thuật và ḷng trắc ẩn Ở mảng truyện chuyển ngữ, Từ Vũ cho thấy một trái tim nhân ái. Đoạn phỏng dịch về cây thông Noel của Chúa Kitô dành cho những đứa trẻ nghèo, chết đói, chết rét, chết v́ chiến tranh… không chỉ là bản dịch đơn thuần mà là sự đồng cảm sâu sắc. Ông không né tránh đau thương. Nhưng ông không dừng lại ở mô tả bi kịch. Ông mở ra một không gian an ủi, nơi những đứa trẻ trở thành thiên thần, nơi các bà mẹ được gặp lại con ḿnh. Văn chương ở đây trở thành nơi cứu rỗi tinh thần. Ở tuổi nghỉ hưu nơi đất Pháp, Từ Vũ vẫn tiếp tục viết. Ông không ồn ào. Ông không t́m kiếm danh vị. Ông viết như một nhu cầu nội tâm, như cách giữ ǵn một phần ḿnh. Từ ḍng dơi nhà Mạc đến đời sống lưu vong, từ chiến tranh đến công nghiệp châu Âu, từ thơ t́nh biển Nha Trang đến truyện ngắn về một đứa bé bị trói vào chân ghế. Tất cả hợp thành một chân dung nhiều lớp. Có thể nói, điều làm nên giá trị Từ Vũ không chỉ là tác phẩm, mà là thái độ sống. Ông tin vào cái đẹp gắn với chân lư. Ông tin vào lương thiện như một loài hoa. Ông tin rằng những ǵ đẹp đẽ sẽ trường tồn. Và có lẽ, chính niềm tin ấy đă giúp ông đi qua gần trọn một thế kỷ biến động mà vẫn giữ được tiếng Việt trong trẻo, ấm áp, không đứt đoạn. Giữa hai bờ biển: một bờ kư ức, một bờ hiện tại. Từ Vũ vẫn đứng đó, lặng lẽ ǵn giữ ngọn lửa văn chương. Một ngọn lửa không bùng cháy dữ dội, nhưng bền bỉ. Một ngọn lửa của “hoa lương thiện”.
|