HOÀNG THỊ BÍCH HÀ

 

 

ĐỌC LẠI “V̉NG TAY HỌC TR̉”

SAU SÁU MƯƠI NĂM TÁC PHẨM RA ĐỜI

 

 

          Ṿng Tay Học Tṛ là tác phẩm tiêu biểu của nữ văn sĩ Nguyễn Thị Hoàng, được đăng nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa năm 1964. Tác phẩm được công chúng nồng nhiệt đón nhận và theo đó cũng hứng nhiều luồng ư kiến khác nhau, càng làm cho tác phẩm nổi tiếng hơn. Chính v́ vậy, từ khi xuất hiện, tác phẩm đă gây được tiếng vang lớn, làm xôn xao dư luận trong giới chuyên môn và công chúng độc giả, Hàng chục năm sau, lúc chúng tôi c̣n nhỏ, chưa đọc tác phẩm đă thuộc tựa đề v́ Ṿng Tay Học Tṛ gắn liền với tên tuổi tác giả. Nói đến Nguyễn Thị Hoàng người ta nhớ đến Ṿng Tay Học Tṛ.

Năm 1966, Ṿng Tay Học Tṛ (Nxb Kim Anh) xuất bản lần thứ nhất 5.000 cuốn. Sách bán chạy, đă tái bản bốn lần. Bẵng đi một thời gian, năm 2021 được Nhă Nam tái bản và vẫn được công chúng đón nhận với tất cả niềm yêu thích dành cho tác phẩm này. V́ sao tác phẩm có độ hót cách đây 60 năm khi mới ra đời, và bây giờ vẫn thu hút đến vậy? 

  Điểm qua vài nét về nữ văn sỹ Nguyễn Thị Hoàng, bút danh khác Hoàng Đông Phương sinh năm 1939 tại Huế, học trung học Đồng Khánh Huế. Năm 1956 theo gia đ́nh vào Nha Trang học trường Vơ Tánh. Năm 1960, học đại học Văn Khoa, đại học Luật khoa tại Sài G̣n, 1962 lên Đà Lạt dạy học. Năm 1963, bà về Sài G̣n và viết tác phẩm Ṿng Tay Học Tṛ. Phải nói rằng Nguyễn Thị Hoàng đă thổi một luồng gió mới, cho văn học miền Nam thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Bởi bà dám bứt phá vượt ra khỏi cái truyền thống g̣ bó, lễ giáo trong đường ṃn của văn chương trước đó. Bất chấp khen chê, dám sống thật với ḷng trên từng trang viết. Nữ văn sĩ cũng đủ bản lĩnh để đương đầu với sóng gió dư luận.… Trong giai đoạn đó, thật ra th́ t́nh yêu học tṛ với thầy cô giáo từ chỗ mến mộ, đến mê say rồi… yêu so với thời 1963- 1964, chắc chắn không phải không có. Nhưng chưa có ai dám viết ra. Chỉ có Nguyễn Thị Hoàng đi tiên phong. Đó là sự dấn thân táo bạo của người điều khiển con chữ có đầu óc tân tiến, tiếp cận sớm với tư tưởng tiến bộ Tây Phương (mà trực tiếp có lẽ là ảnh hưởng của văn học lăng mạn của Pháp), chủ nghĩa hiện sinh và ng̣i bút tài hoa của bà. Trước khi bà viết văn th́ bà đă là nhà thơ. V́ thế trong truyện Ṿng Tay Học Tṛ cũng đầy chất thơ.

Tác phẩm gồm 11 chương, kể về câu chuyện t́nh ngang trái của cô giáo Tôn Nữ Quỳnh Trâm (gốc Huế - nơi lễ giáo nghiêm khắc) với học tṛ Nguyễn Duy Minh. Bối cảnh không gian ở thành phố Đà Lạt mù sương.Thời gian chỉ gói gọn trong vài tháng. Trước đó cô sống ở Sài G̣n hoa lệ. Rồi như bước vào một lối rẽ mới, Trâm rời Sài G̣n lênThành phố Đà Lạt mù sương, t́m an yên với nghề dạy học. Số phận đưa đẩy cậu học tṛ Duy Minh gặp gỡ cô giáo Quỳnh Trâm. Và việc ǵ đến đă đến, Không c̣n b́nh yên nữa mà thay vào đó là những đợt sóng t́nh phủ xuống hai trái tim đang hừng hực sức sống. Cô giáo trẻ với: “vẻ đẹp ngày xưa c̣n đó. Tâm hồn dạt dào khao khát yêu đương c̣n đó”. Cô rời Sài G̣n để đến với Đà Lạt như một sự “Lẩn trốn những đ̣i hỏi xôn xao của chính ḿnh, của một bản chất sôi nổi thèm sống, thèm yêu đến tột cùng, đến vô bờ vô bến.” Tâm hồn đa cảm, cô mở ḷng đón nhận t́nh yêu theo tiếng gọi con tim. Duy Minh là cậu học tṛ mới lớn với nhu cầu trải nghiệm về nhiều mặt trong đó có cả tâm sinh lư. T́nh yêu và những dằn vặt của diễn biến tâm lư, trên mỗi câu từ, trang viết đều lôi cuốn độc giả. Câu chuyện t́nh đi từ thiên đường hạnh phúc đến đớn đau đổ vỡ. Nguyên nhân v́ đâu: "Em nói dối một lần”. T́nh yêu không chấp nhận dối lừa, để rồi phải mất nhau trong đớn đau và nuối tiếc, day dứt cả một đời. Lời của nhân vật Minh: "Em nói dối một lần. Cô giết em một đời, cô biết không?". Những lời thoại của nhân vật có tính triết luận là tăng thêm sức hút của tác phẩm. Khởi đầu: cô giáo Trâm b́nh yên trong cuộc sống mới ở Đà Lạt, chỉ có t́nh cảm trong sáng đơn thuần của t́nh cảm cô tṛ. Với ngôn ngữ rất Huế, cô nhận xét về tṛ bằng góc nh́n sắc sảo trải đời. “Tướng con lấc cấc ham chơi chứ không phải cây gạo đâu mà bảo t́m chỗ tu luyện. Hai bàn tay trắng trẻo, thuôn thuôn từng ngón như thế là điệu con nhà giàu quen thói ăn chơi rồi. Lại khuôn mặt nữa. Cặp mắt nhanh như chớp, đôi môi hồng cứ nghếch nghếch chực cười chực nói ấy là cây đấu chuyện, gây lộn và ăn quà đấy nhé!” (chương 1). 

Giai đoạn tiếp theo, học tṛ và cô giáo đă vướng vào chữ T́nh. Phần kết của câu chuyện là cô tṛ chia tay trong đau đớn dằn vặt và nuối tiếc mang trong ḿnh những vết thương ngọt ngào và rỉ máu. “Trong hồn Trâm lúc đó là cơn đau thức tỉnh, vết thương mở lớn và mỗi khắc nh́n nhau giữa người đàn bà, gă con trai là một nhát dao chém lún xuống ḷng Trâm th́ thào tuyệt vọng.” (chương kết) 

Trong văn bản có những từ “ bất chấp”, “ liều lĩnh” trở đi trở lại vài lần như để nhấn mạnh vừa là từ dùng để miêu tả tính cách của nhân vật, của tiếng nói con tim, vừa là sự đột phá trong tư tưởng của nhà văn. Muốn thoát ra khỏi “cái cũ”, th́ phải dũng cảm vượt rào và dĩ nhiên không tránh khỏi những kỳ đà cản mũi của xă hội thời bấy giờ. Muốn vượt qua mọi sự ngáng trở th́ phải liều lĩnh và bất chấp. Dám sống cho ḿnh, nghe theo lư trí của của ḿnh th́ mới có tư duy sáng tạo làm nên cái mới. 

Nội dung tác phẩm c̣n đề cập về những vấn đề nhức nhối, những rào cản khác của cuộc sống, và những phiền nhiễu xảy ra trong các mối quan hệ xă hội, môi trường công việc. Môi trường dạy học vẫn c̣n nặng về lư thuyết và những nguyên tắc có phần khuôn sáo của nền giáo dục đương thời. Sau 60 năm ra đời mà tác phẩm đề cập những vấn đề họp hành, giáo điều ở trường học kèm theo những vụn vặt hăm he phe phái đâu đó cách nay chưa xa và cả ngày nay vẫn c̣n đó tính thời sự. Những buổi họp nặng nề, không đơn thuần bàn về chuyên môn mà c̣n kèm theo những vấn đề rắc rối khác trong các mối quan hệ xă hội len lỏi vào môi trường học đường. Hăy xem lại đoạn nhà văn miêu tả không khí buổi họp hội đồng: “Buổi họp sẽ tái nhóm giờ cuối cùng mỗi buổi sáng thứ ba hàng tuần. Những khuôn mặt này lại nh́n nhau, thông cảm hay hằn học, ḍ xét hay biểu đồng t́nh. Công việc được lập lại đều đặn như những cái nan quay tṛn quanh trục bánh xe. Người này mừng sinh đứa con đầu ḷng, kẻ khác vui sướng với chỉ số lương vừa tăng, kẻ nọ hân hoan được nhận dạy thêm một số giờ ở lớp khác. H́nh bóng cuộc đời phảng phất thường xuyên trong những cử chỉ, những lời nói, những nét mặt đó. C̣n Trâm, chơ vơ và lạc loài không bè phái, không bầu bạn, không ǵ cả, như người bị lưu đày trong một hành tinh riêng biệt. Cho nên xa cách ngay từ khi gần gũi. Biết bao nhiêu dặm đường thời gian biền biệt giữa Trâm với các người kia một ngày xa khuất nơi đây.”(chương 10) 

Tác phẩm là sự “nổi loạn” bứt phá với tiếng kêu bức bách đ̣i đổi mới, đ̣i bước ra khỏi những ràng buộc giáo điều. Những quy tắc lề lối xưa đă ăn sâu vào cách nghĩ, cách sống của tư tưởng thâm Nho hàng thiên niên kỷ được đưa lên bàn cân để xem lại, hướng đến tính nhân bản, nhân văn. Không theo kịp th́ ít ra cũng không quá lạc hậu so với văn minh tiên tiến của nhân loại đương thời. 

Ṿng Tay Học Tṛ hay bất kỳ tác phẩm nào khi ra đời dĩ nhiên không tránh khỏi những dư luận khen chê. Tác phẩm nào gây xôn xao nhiều th́ tác phẩm đó nổi tiếng v́ có ǵ đặc biệt mới được quan tâm nhiều như vậy. Những năm của thập niên 60, xă hội chưa thoát ra khỏi ṿng kiêm tỏa của luân lư giáo điều th́ không dễ được chấp nhận khi dám đề cập đến vấn đề xem như cấm kỵ về quan hệ thầy tṛ, mối t́nh giữa học tṛ và cô giáo được xem như chuyện “động trời”. Người thầy, người cô mô phạm, xuống khỏi bục giảng họ cũng là người b́nh thường, là phụ nữ, hay nam giới đến tuổi đương xuân vẫn có những rạo rực khát khao của t́nh yêu đôi lứa. Nhưng thử hỏi trong thực tế có thầy giáo trẻ, cô giáo trẻ rung động trước một bóng h́nh cô cậu học tṛ ở độ tuổi trung học phổ thông không? Chắc chắn là có. Bởi v́ ngoài trật trự thứ bậc của ngôi vị cô tṛ (thầy tṛ) th́ họ cũng là những nam nữ đang ở độ tuổi thanh xuân, và rung động của con tim vẫn là điều khó tránh khỏi. Nhưng mấy ai đă dám thừa nhận điều này trước Nguyễn Thị Hoàng ở Ṿng Tay Học Tṛ? Ở thời điểm đó và vài năm sau đó c̣n bị xem là có vấn đề về đạo đức. Họ cho rằng khó tránh khỏi tác hại từ sách nếu giới trẻ đọc rồi cuốn theo tiếng gọi thôi thúc thử nghiệm. Tṛ nam thanh lịch, ngoan, khi bước vào độ tuổi trưởng thành th́ cũng là đàn ông với những khát khao yêu đương của thôi thúc khám phá và trải nghiệm. Trước những thứ lớp trật tự của xă hội, nhân vật cũng từng ư tứ và rất dè dặt nhưng rồi cái ǵ đến sẽ đến.

Trong suốt tác phẩm là phong cách ứng xử, lời thoại chừng mực, tôn trọng- lễ phép lịch duyệt giữa các mối quan hệ gia đ́nh, cô tṛ, đồng nghiệp trong từng câu chữ diễn ra thường ngày trong cuộc sống. Trong tác phẩm không hề đề cập ǵ đến cảnh Sex, người đọc tự hiểu, tự đắm ḿnh với những đoạn tả cảnh, tả người, phân tích diễn biến tâm lư của các nhân vật để chiêm nghiệm câu chuyện t́nh yêu. Tư tưởng mới mẻ trong quan niệm văn chương của Ṿng Tay Học Tṛ được giới chuyên môn và công chúng quan tâm bởi giá trị nội dung và nghệ thuật đích thực của một tài năng văn chương. Sau bà đă có nhiều tác giả đă kế thừa thi pháp Ṿng Tay Học Tṛ để đề cập vấn đề t́nh ái và ngày càng bạo dạn hơn, cồn cào da thịt hơn. Mô tả đúng bản chất như t́nh yêu vốn có. Bởi v́ con tim vẫn có lư lẽ riêng của nó. Yêu là bất chấp, là liều lĩnh, là có thật.

Tuổi trẻ chúng tôi đọc Ṿng Tay Học Tṛ v́ sự đột phá khác lạ với truyền thống. Bởi câu chuyện đầy màu sắc của t́nh yêu, hạnh phúc và khổ đau với diễn biến tâm lư nội tâm rạo rực đam mê và giằng xé. Đọc sách để “khôn” ra, đôi khi cũng là cách trải nghiệm chuyện t́nh qua sách. 

Nếu lúc trẻ tuổi chúng ta đọc tác phẩm, tuổi trung niên đọc và những năm sau nữa tiếp tục đọc lại, đi qua những trải nghiệm của cuộc đời, chúng ta sẽ tiếp nhận tác phẩm ở góc độ chín chắn hơn, có chiều sâu hơn, và thậm chí là khác với những lần đọc trước đó trong cùng một tác phẩm. Sự nh́n nhận tác phẩm cũng biến thiên theo thời gian.V́ vậy tác phẩm có nhiều góc nh́n từ các giới, các lứa tuổi, ở các mốc thời điểm khác nhau. Theo thời gian càng về sau, tác phẩm càng được người đọc và giới chuyên môn nh́n nhận đúng hơn, chạm đến gần hơn những giá trị đích thực vốn có của tác phẩm. 

Hăy nghe tác giả tâm sự:“Truyện ḿnh viết thường là truyện t́nh bế tắc và đi xuống. Trong đó những vai nữ bao giờ cũng khát khao đi t́m một đời sống thật của ḿnh, nghĩa là t́m kiếm chính ḿnh. Những nhân vật nữ lang thang bất định, và xa rời với phận sự gia đ́nh. Chất liệu lấy từ những năm bất ổn lênh đênh trong cuộc đời đă qua của ḿnh, đôi khi được ráp nối với những câu chuyện thời sự, cộng với một phần tưởng tượng, phóng tác, vẽ vời... rồi ráp thành chuyện. Không biết bên đàn ông th́ sao, chứ cánh đàn bà thường mắc phải cái này là có những nét của nhân vật hoặc chính, hoặc phụ, thế nào cũng hắt bóng cá tính thói quen, đường nét và vóc dáng của tác giả.( Nguyễn Thị Hoàng)"

Đọc đoạn văn bà phân tích tâm lư nhân vật, tả cảnh ngụ t́nh chỉ vài ḍng cô đọng đă lột tả được sự day dứt đau đớn của đổ vỡ nghe nhói tận buồng tim người đọc: “Trâm nằm sấp xuống nệm, úp mặt vào cánh hoa hồng, một chiếc gai nhọn đâm vào má Trâm như một mũi kim sắt. Lịm người trong cái đau nhói truyền khắp những mạch máu đường gân, đầu Trâm gục xuống, đôi môi mím chặt cuống hoa hồng lởm chởm gai. Và nước mắt nàng lặng lẽ dâng lên, ướt đầm những cánh hoa tơi tả…”

Cuối tác phẩm là đoạn kết chuyện t́nh với những đoạn văn, những câu văn tài hoa tả cảnh tả t́nh hay đến nhức buốt tim gan:

Tôi chọn em làm đối tượng một đoạn đời ngắn ngủi. Từ đêm em đi là hết. Là hết. Những đoạn đời kế tiếp của em không thuộc về tôi nữa. Tôi không chấp nhận sự biến h́nh phản bội đó. Em đă hủy hoại ảo tưởng trong hồn tôi nâng niu để trở thành kẻ khác. Em trở lại là em những ngày tháng cũ trước ngày em đến đời tôi.” 

H́nh ảnh tương lai lăng đăng yêu ma vừa thoáng đến đă thoắt biến đi rồi. Mớ tóc nàng xơa dài như một ḍng sông đêm. Không một chuyến đ̣ ngang dọc trôi về. Lềnh bềnh những vết hôn kỷ niệm, những khoắc khoải chờ mong. Và bao nhiêu cơn gió lốc. Bây giờ thôi hết. Chỉ c̣n bọt sóng tan lao xao. Tiếng chuông reo vi vút ở phương nào khuya khoắt, linh hồn ră mục như một cánh buồm sau băo táp gục xuống và chấm dứt.” (chương kết) 

Có những lời thoại đầy tính triết lư: 

“- Một ḥn sỏi làm ngă được cỗ xe, em biết không?” (Chương 11) 

Như lá trên cành, không đủ diệp lục tố nữa, úa vàng và tự rơi rớt xuống. Trong t́nh yêu, phấn đấu, hay b́nh diện nào của cuộc đời, mỗi người đều vâng chịu một định mệnh cô đơn. Điều ḿnh nhận được của tha nhân nhiều hay ít, tùy ở chất liệu ḿnh dâng trao gửi gắm. Tự ư em đă ĺa xa khỏi vùng hào quang ảo tượng của tôi bằng một lần dối trá, một chuyến tách rời. Từ nay tôi lạ em. Chỉ c̣n kỷ niệm. Kỷ niệm phảng phất sau lớp sương mù ảo vọng.”( chương 11)

Ṿng Tay Học Tṛ là một tác phẩm, tiêu biểu cho môt trào lưu mới trước hết v́ tư tưởng thẩm mỹ của nhà văn, vẻ đẹp của nội dung và giá trị nghệ thuật đặc biệt của nó, xứng đáng tác phẩm được xếp vào hàng quan trọng của giai đọan Văn học miền Nam Việt Nam 1954-1975. Nó gây chú ư không phải chỉ v́ việc làm xôn xao dư luận, mà c̣n đem lại giá trị đích thực và được đông đảo công chúng đón nhận. Minh chứng là xuất bản lần thứ nhất 5000 cuốn và đă tái bản bốn lần để đáp ứng nhu cầu. Tác phẩm cũng được giới chuyên môn soi chiếu từ nhiều năm nay bằng nhiều góc nh́n, nhiều ư kiến: 

Người th́ cho rằng Ṿng Tay Học Tṛ là một tác phẩm có vấn đề đạo đức, phá vỡ trật tự quan hệ thầy tṛ, người cho rằng bà là cây bút số Một của t́nh yêu, có người nh́n nhận Nguyễn Thị Hoàng là một cây bút hiện sinh. 

Ṿng Tay Học Tṛ và nữ văn sĩ Nguyễn Thị Hoàng rơ ràng theo khuynh hướng chủ nghĩa hiện sinh với chiều sâu trí tuệ của ḿnh, phản ảnh hơi thở của thời đại bà đang sống, đă làm xong sứ mệnh lịch sử văn học của ḿnh ở giai đoạn văn học đó, để rồi nhiều thập kỷ sau ai muốn khám phá, muốn t́m hiểu thời cha ông ḿnh, thế hệ trước sống như thế nào, đă yêu, bất chấp nghịch cảnh và dám nói thật ḷng ḿnh ra sao, nhất là tiểu thuyết t́nh yêu với bối cảnh xă hội thời tác phẩm ra đời, trước khi ḿnh xuất hiện trong cuộc đời này th́ Ṿng Tay Học Tṛ như một món quà tặng bất chấp thời gian. 

Chúng ta không thể lấy góc soi chiếu của 60 năm sau mà đánh giá tác phẩm cho công bằng được, phải lùi về thời gian đó để nhận xét, mới thấy hết sự tài hoa, ḷng can đảm của cây bút nữ “nổi loạn” này. Không phải tác giả xuất thân từ Hà Nội hay Sài G̣n, hai thành phố đô hội cởi mở đón nhận văn minh Tây phương, mà là xuất thân từ xứ Huế nơi vốn êm đềm trầm tư mặc tưởng. Đó là điều quá đỗi bất ngờ phải không? Huế lặng lẽ thâm nghiêm, kín cổng cao tường. Con người Huế, tính cách Huế nhất là con gái Huế trầm lắng, khiêm cung và thường an phận, lúc nào cũng dịu dàng e lệ. Ngày nay tính cách đó dần thay đổi để phù hợp với nhịp sống hiện đại. 

Quay lại mối t́nh học tṛ. Thật ra khi thầy cô giáo mới ra trường sau 5 năm cũng chỉ hơn tṛ dăm bảy tuổi, so với học sinh trung học phổ thông th́ không lớn hơn bao nhiêu. Thực tế có những cặp vợ chồng, vợ hơn chồng bảy, tám tuổi thậm chí có những trường hợp hơn cả con giáp 12-14 tuổi nếu hợp nhau, họ vẫn sống hạnh phúc đấy thôi! Hơn 60 năm trước mà nữ sĩ Nguyễn Thị Hoàng, từ ngồn ngộn thực tế của cuộc sống, qua cảm quan nghệ thuật, kết hợp với những trải nghiệm, bà đă dám phản ánh một hiện thực rất đời. Người đọc có cảm giác đă gặp ở đâu đó hoặc đă trải nghiệm qua. Cuộc sống vốn thế, t́nh yêu vốn thế! Từ đó người đọc có thái độ ứng xử cho phù hợp. Không né tránh, không núp dưới lớp vỏ đạo đức, giáo điều để sống giả tạo. Tuy nhiên thời nào cũng vậy, những mối t́nh ngang trái chuốc lấy khổ đau nhiều hơn v́ t́nh yêu chưa đủ lớn (của một phía nào đó) không vượt qua rào cản. Tác phẩm chỉ cho thấy chuyện t́nh là có thật, nhưng không bền, dĩ nhiên cũng không khuyến khích ở môi trường học đường cứ yêu, cứ lấy. Không phải. Tùy theo tiếng gọi con tim khi t́nh yêu đủ chín. Sống bên nhau nếu cần nhau, chỉ thế thôi! Như vậy Nguyễn Thị Hoàng với một cách nh́n mới mẻ, đầy nhân bản như thế, giới tiếp nhận cũng đă tốn không biết bao nhiêu giấy mực để khen chê. Dù những luồng ư kiến trái chiều đi nữa th́ người đời cũng phải công nhận tài năng của bà. 

Sự đổi mới, vượt rào về tư tưởng mà được viết ra từ cây bút nữ giới lại xuất thân từ cố đô Huế là một điều bất ngờ. Từ ngỡ ngàng ngạc nhiên rồi công nhận khả năng sáng tạo của một tài năng văn chương, một đóng góp cho nền văn học Việt là điều không thể phủ nhận. Hành văn mượt mà, ngôn từ trau chuốt, giàu sức biểu cảm mà lại được bà viết nhanh, viết khỏe. (viết tiểu thuyết này chỉ trong ṿng một tháng).Viết không cần ḍ lại. Ng̣i bút bà say mê, với một vốn ngôn từ phong phú, đầy vẻ hàn lâm so với các tác phẩm đương đại, mới mẻ hiện nay. Đó là tài năng đích thực mà lớp hậu thế như chúng tôi thật ḷng ngưỡng mộ.

60 năm đă trôi qua tính từ khi ra đời, tác phẩm vẫn neo lại trong trong ḷng người đọc bởi vẻ đẹp và tính đột phá của nó. Đến nay dư âm tác phẩm vẫn chưa thôi khắc khoải. Nghiên cứu văn bản, người đọc có thể khám phá ra nhiều tầng nghĩa của câu chuyện để chiêm nghiệm, suy ngẫm và có cái nh́n cảm thông thấu hiểu trước những cảnh đời trong cuộc sống. Đến với tác phẩm là đi vào thế giới nội tâm của nhân vật mà nhà văn kư thác gửi gắm ở đó hàm lượng tri thức, vẻ đẹp văn phong, vẻ đẹp ngôn từ và qua khả năng quan sát tinh tế của nữ văn sĩ, trí tuệ và đài các đă rung động bao trái tim người đọc nhiều thế hệ. Tất cả nhờ tài năng của tác giả. V́ vậy đă có lượng độc giả lớn thưởng lăm. Rất nhiều cây bút phê b́nh xưa và nay vẫn đang hướng đến áng văn này.

Càng nghiền ngẫm tác phẩm, càng phát hiện ra những điều thú vị. Ṿng Tay Học Tṛ của Nguyễn Thị Hoàng vẫn có sức hút huyền diệu và bí ẩn, hấp dẫn người đọc và nghiên cứu, tiếp tục đi vào thế giới ngôn từ để khám phá những lớp nghĩa tiềm ẩn của nội dung lẫn vẻ đẹp nghệ thuật. Khám phá vẻ đẹp của văn chương là điều mà người đọc và nghiên cứu không ngừng khát khao vươn tới. Bài viết xin tŕnh bày một góc nh́n với Ṿng Tay Học Tṛ. Trân trọng những đóng góp quư báu của nhà văn tài năng Nguyễn Thị Hoàng với nền văn học Việt Nam. Những ǵ nhà văn cưu mang trăn trở gửi gắm trong trang viết măi vẫn c̣n ma lực cho những ai mến mộ văn phong nữ sĩ Ṿng tay Học Tṛ.


Sài g̣n ngày, 21/02/2024
Hoàng Thị Bich Hà


 

 

art2all. net