|
Gặp gỡ tṛ chuyện với hậu duệ của cụ Mai Khắc Đôn, nghe kể một vài kỷ niệm về Hoàng Phi Mai Thị Vàng (Vợ vua Duy Tân, con gái của quan thượng thư Bộ Lễ Mai Khắc Đôn)
Nhưng tôi không biết chị là cháu nội của Cụ Mai Khắc Đôn (Quan Thượng thư bộ lễ dưới triều vua Duy Tân). Và cũng là cháu gọi Hoàng Phi Mai Thị Vàng bằng cô ruột. Hôm nay có dịp lên nhà thăm, chị mới kể cho tôi nghe. Thế là tôi làm một cuộc phỏng vấn nhỏ: Xin chị kể lại một vài kỷ niệm với người cô ruột Hoàng Phi của ḿnh! Đôi mắt chị nh́n xa xăm vào khoảng không như ngược miền kư ức chị bắt đầu chậm răi kể (điềm đạm, chỉnh chu và từ tốn là phong cách của chị và cũng là của phụ nữ Huế xưa). Chị kể: lúc nhỏ th́ mỗi lần đi chạp giỗ đều gặp bà Phi. Bà Phi đẹp và hiền lành. Bà sống qua các thời đại th́ thời đại nào bà cũng có được hưu bổng. Nhưng cũng eo hẹp sống giản dị. Hồi đó ḿnh lấy chồng rồi cũng bận rộn công việc và chồng con, chỉ mỗi khi kỵ giỗ Hiệp Kỵ các vua: Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân th́ bên Hoàng tộc mời con cháu qua. Ḿnh giờ nghĩ lại thật tiếc: “Có ngọc mà không biết trau” Lúc c̣n nhỏ có cơ hội gần bà Phi mà không thường xuyên gần bà để học hỏi. Bà hiền thục, giỏi dang lại chung thủy và hiếu đạo”. Có d́ em là d́ Yến (Trần Thị Yến Tuyết con người em gái của Hoàng phi Mai Thị Vàng (cháu ngoại của cụ Mai Khắc Đôn). Bà Mai Thị Vàng có hai người anh trai, ba cô em gái và ba người em trai. D́ Yến khi lập gia đ́nh rồi vẫn ở với ba mẹ. Bà Phi thường ghé thăm em gái của ḿnh nên d́ Yến có cơ hội gặp gỡ bà Phi nhiều hơn”. Rồi chị Thanh Xuân đưa tôi lên thăm d́ Yến ở đường Lê Ngô Cát (Huế) D́ Yến năm nay cũng đă 89 tuổi, vẫn minh mẫn, hồng hào và khỏe khoắn. Tôi gọi chị Xuân quen rồi nên chị Yến bảo gọi chị như Chị Xuân cũng được, cho gần gũi thân thương. Ở các chị là con cháu của Cụ Mai Khắc Đôn phong thái toát lên sự nho nhă, có kiến thức, am hiểu của những người phụ nữ ḍng dơi trâm anh, gắn bó với vùng đất Kinh Kỳ, với các món ăn Huế, rành rơi từ nguyên liệu đến cách chế biến, nghệ thuật trang trí,... Nghe hai chị hỏi nhau rằng: - Chị Trà đă mời d́ qua đám giỗ chưa? Hóa ra nghệ nhân Mai Thị Trà là chị em họ của hai chị và cũng là cháu nội của Cụ Mai Khắc Đôn. Cô Mai Thị Trà sau khi tốt nghiệp ĐHSP Huế, cô được bổ nhiệm dạy văn ở trường Nữ trung họcThành Nội, và trường Nguyễn tri Phương, năm 1976 cô về dạy văn ở trường Trường THPT Hai Bà Trưng. Năm 1986 cô dạy văn một số lớp, vừa dạy hướng nghiệp nữ công gia chánh. Ngoài ra cô thường xuyên được mời làm giám khảo các cuộc thi nữ công gia chánh của Tỉnh và Thành Phố Huế tổ chức. Cô Trà năm nay cũng đă 91 tuổi vẫn minh mẫn và khỏe mạnh. Hai chị kể: chị Trà bây giờ làm việc c̣n nhanh nhẹn làm việc giỏi hơn cả hai chị nữa. Các chị được gia đ́nh cho học chữ, rồi được mẹ, cô, d́ dạy cho cách làm các loại bánh, nấu các món để cúng tổ tiên. Riêng nghệ nhân Mai Thị Trà th́ có duyên gắn bó với bộ môn ẩm thực. Cô nổi tiếng với nấu các món Huế từ cung đ́nh đến b́nh dân và cô trở thành nghệ nhân ở lĩnh vực này. Năm 1991, sau khi nghỉ dạy văn hóa ở trường, cô Trà dành trọn tâm huyết để truyền đạt kinh nghiệm, bí quyết chế biến những món ăn cung đ́nh, truyền thống Huế cho các thế hệ học viên ở trung tâm đào tạo nghề của Tỉnh hội phụ nữ và thành hội phụ nữ Huế. Con cháu của quan Thượng thư: Mai Thị Thanh Xuân, Trần Thị Yến Tuyết, Mai Thị Trà,…, xuất thân trong gia tộc quyền quư. Nay đều ở ngưỡng trên dưới 90, nhưng vẫn minh mẫn, đằm thắm, ân cần khi tiếp chuyện, trong phong thái của những người phụ nữ vốn ḍng dơi trâm anh thế phiệt. Giọng Huế ngọt ngào, điềm đạm và dịu dàng. Nét đẹp duyên xưa vẫn c̣n lưu lại trên khuôn mặt, dẫu đă ghi dấu ấn thời gian, cuối mùa thu của cuộc đời. Được các chị giới thiệu, hôm 5/10/2025 tôi lên thăm phủ đệ (nay là nhà thờ) của cụ Mai Khắc Đôn ở đường Lư Nam Đế thuộc hậu thôn Kim Long. Được thăm lại nơi ở, nơi thờ tự của cụ và Hoàng Phi Mai Thị Vàng. Ḷng tôi rưng rưng tràn đầy xúc cảm khi nh́n cảnh cũ nhớ người xưa, những con người đă để lại dấu ấn tốt đẹp trong lịch sử. Tôi quyết định ghi lại một chút ǵ đó của lớp người hậu thế, góp một phần nhỏ nhoi để tri ân và tưởng nhớ về những vị tiền nhân đă lưu lại tiếng thơm cho một giai đoạn lịch sử, đầy biến động. Phủ đệ của cụ Mai Khắc Đôn là một ngôi nhà cổ giản dị, lợp bằng ngói liệt xưa. Tọa lạc tại một mảnh vườn xanh tươi cây trái, ở một vùng quê thanh b́nh thuộc phường Kim Long, TP Huế. Ngôi nhà chịu ảnh hưởng của mưa nắng thời gian, được con cháu trùng tu năm 2009. Căn nhà trên kiểu nhà rường bằng gỗ, đẹp thanh nhă. Ở gian giữa có bức hoành phi: “Đức Lưu Quang” dọc hai bên có hai câu đối của người dân Quảng Trị (cũ) tặng cụ nội dung là: Khí tiết thanh cao, đức dày như núi Ngự/ Ân đức từ ái thấm sâu như sông Thạch Hăn”. Hai câu đối đă nói lên khí tiết, đức độ và tài năng của cụ, qua đó thể hiện được t́nh cảm của người dân Quảng Trị dành cho vị quan tuần phủ của địa hạt ḿnh. Tôi được gặp bà Nguyễn Thị Mai (cháu dâu) thường gọi là bà Lưu. Bây giờ là chủ nhân của phủ đệ. Chồng bà là ông Mai Khắc Lưu (đă mất) là cháu nội của cụ Mai Khắc Đôn, Bà Mai năm nay đă 89 tuổi, nhưng bà vẫn minh mẫn và ân cần vui vẻ tiếp chuyện. Bà là người gần gũi với bà Phi Mai Thị Vàng trong những năm tháng cuối đời. Bà Mai kể: “Bà cô tôi đẹp mà hiền lắm! Ít nói, sống giản dị và rất thương con thương cháu”. Tôi cũng được gặp gỡ, tṛ chuyện với chị Mai Thị Nhàn con gái bà Lưu, chắt nội của cụ quan thượng thư Mai Khắc Đôn. Trong nhà thờ c̣n lưu giữ nhiều sắc phong được vua ban tặng cho cụ Mai Khắc Đôn và song thân của cụ. Các chị kể là các con dâu của cụ khi nói về bố chồng là cụ Mai Khắc Đôn rằng: Ông hiền như Phật. Cụ là niềm tự hào về trí tuệ, đức độ của con cháu. Bà Mai Thị Vàng sinh trưởng trong một gia tộc quyền quư như thế, được thừa hưởng truyền thống văn hóa, nền giáo dục nghiêm cẩn của gia đ́nh, bà thông minh, đức hạnh, đẹp người và đẹp nết. Qua câu chuyện của các chị Mai Thị Thanh Xuân, Chị Trần Thị Yến Tuyết, bà Nguyễn Thị Mai và chị Mai Thị Nhàn,… và t́m đọc thêm tư liệu trên Wikipedia tôi xin tóm tắt lại như sau:
Trong lúc trong phủ phụ chính có nhiều người học vị
tiến sĩ c̣n cao hơn học vị của cụ lúc bấy giờ (cô Mai Thị Trà kể). Lúc
trước cụ Mai Khắc Đôn làm quan tuần phủ tỉnh Khánh Ḥa (vị quan đầu
tỉnh), theo lệ lúc này tỉnh nào lớn như Quảng Nam, Thanh Hóa, Nghệ An,…
th́ có quan Tổng đốc đứng đầu, có hai vị phó là: quan bố chánh (phụ
trách về điền địa và vơ binh) c̣n một vị phó nữa là quan án sát (phụ
trách về tư pháp và hành chính). C̣n các tỉnh nhỏ như Khánh Ḥa, Phú
Yên, Quảng Trị (cũ), th́ chỉ có một vị quan đứng đầu tỉnh là quan tuần
phủ và thêm một vị phó nữa gọi là quan án sát). Sau đó cụ Mai Khắc Đôn
được điều động ra làm quan tuần phủ tỉnh Quảng Trị. Lúc này ở các tỉnh
miền Trung nhân dân nổi dậy chống sưu thuế (chỉ trừ Huế là gần triều
đ́nh nên họ sợ không nổi dậy, c̣n Quảng Nam, Quăng Ngăi, Quảng Trị nhân
dân nổi dậy chống đối sưu thuế. Các quan đứng đầu các tỉnh đều dùng vũ
lực, trấn áp nhân dân. Ở tỉnh Quảng Trị quan tuần phủ mai Khắc Đôn không
dùng vũ lực mà chỉ mời người thủ lĩnh của phong trào đến đàm đạo, nên
hay chưa nên chống đối. Cụ đă khéo léo giải quyết vấn đề một cách ôn
ḥa, chí t́nh chí lư. Sau đó t́nh h́nh êm đẹp, nhân dân đoàn kết, lo chí
thú làm ăn và rất kính trọng quan tuần vũ Mai Khắc Đôn. Nghe được chuyện
này, vua Duy Tân dù lúc đó c̣n nhỏ nhưng được đặt lên ngay vàng, vua
cũng sớm bộc lộ bản lĩnh, thông minh và trọng nhân nghĩa. Ông chọn thầy
v́ như vậy. Các quan dạy các môn và dạy tiếng Pháp cho vua Duy Tân nhưng
theo cô Trà học tiếng Hán và học làm người: yêu nước thương dân và khơi
gợi chí lớn là cụ Mai Khắc Đôn. Cô Trà kể: có lần hai thầy tṛ đi biển
cửa Tùng, vua Duy Tân nói: “Ngồi trên nước mà không ngăn được nước”.
Thầy trả lời: “Buông câu ra đă lỡ phải lần”. Tôi nghĩ rằng ư cụ là động
viên tinh thần, của một chí lớn, trước khó khăn như vậy khi đă khởi sự
th́ cứ b́nh tĩnh, nghĩ cách và tuần tự tháo gỡ,..Cô Mai Thị Trà kể tiếp:
Khi vua chạy trốn cùng với các cộng sự kháng chiến của ḿnh bị lính Pháp
bắt được ở Ngũ Tây. Vua cũng mặc áo dân thường như những người khác, lúc
này có lẽ là cụ Thái Phiên và cụ Trần cao Vân. Nghe tin vậy cụ Mai Khắc
Đôn tới, khi đi lên đó có qua một cái cầu nhỏ, xe không đi được, nh́n
thấy vua Duy Tân bên kia cầu, cụ Mai Khắc Đôn liền bước xuống xe (mặc dù
là thầy dạy và là cha vợ nhưng cụ vẫn giữ đạo vua -tôi, liền quỳ xuống
hành lễ, th́ bên kia vua Duy Tân cũng bái lạy thầy. Khi đó lính Pháp mới
biết ai là vua Duy Tân, từ đó đối xử khác, có vẻ nhẹ nhàng hơn. Họ mời
ngài lên xe và chở đi. Khi lên vua16 tuổi, hai người mẹ vua là bà Nguyễn Thị Định thứ phi của vua Thành Thái (gọi là bà Sanh), Hoàng quư phi Nguyễn Gia Thị Anh chính thất của vua Thành Thái, vua Duy Tân gọi là mẹ đích, và các quan thúc hối việc nạp phi để có người nối dơi th́ vua đă chọn tiểu thư Mai Thị Vàng. Mặc dù trước đó, vua thường hay hỏi thầy là: Thầy có con gái lớn không? Thầy bảo: Con thần đều c̣n nhỏ dại cả”. Ư là cụ không muốn gả v́ biết làm vợ vua sẽ khổ. Vua nói: Thầy yên tâm! Thầy gả em Vàng cho con, con sẽ yêu quư em để đền ơn thầy dạy bảo. Vua muốn đền ơn giáo dục của thầy Mai Khắc Đôn v́ đă dạy cho ông những điều mà không một đại thần nào dưới sự điều khiển của Pháp dám dạy.
Những giai thoại về việc lấy vợ của vua: Khi nghe triều đ́nh chuẩn bị nạp phi cho vua các quan đại thần và các mệnh phụ đều muốn con gái ḿnh có cơ hội làm vợ vua, nhưng vua nói với hai người mẹ là “con có người yêu rồi!”. Hỏi người yêu đâu? Th́ vua bảo: mời mẹ ra biển cửa Tùng. Thế là đoàn đi biển cửa Tùng, qua 4 ngày rồi, không thấy bóng hồng nào. Mà chỉ thấy ngày nào vua cũng ngồi vốc cát lên chơi. Hỏi th́ vua bảo: Đăi cát t́m vàng. Nếu mẹ không thấy th́ ngày MAI vô Huế sẽ thấy. Người mẹ đích hiểu và nói với mẹ đẻ vua rằng: Vậy là vua đă chọn ư trung nhân họ Mai: Tiểu thư Mai Thị Vàng (con quan Thượng thư Bộ lễ) Cuối năm 1915, lễ hỏi giữa Hoàng đế Duy Tân và Mai Thị Vàng được cử hành, ngày 12 tháng chạp năm Ất Măo tức ngày 16 tháng 1 năm 1916, lễ nạp phi được tổ chức trọng thể ở bộ Lễ. Bà Mai Thị Vàng năm đó 17 tuổi được phong làm đệ nhất giai phi của vua Duy Tân. Theo lệ cũ từ thời vua Minh Mạng nhà vua không lập Hoàng hậu. Danh hiệu Đệ nhất giai phi là cao quư lúc bấy giờ. Bà Phi họ Mai đẹp, thanh thoát, dịu dàng, đặc biệt đôi mắt rất đẹp. Bà được vua Duy Tân sủng ái, thường cho ngồi ăn chung. Vua c̣n so đũa, đưa muỗng cho vợ, nói chuyện thân mật cùng nhau bên mâm cơm. Đây là điều trái với điển lệ triều Nguyễn, vốn quy định các bà phi không được ngồi cùng mâm với Hoàng đế. Hai bà mẹ gọi vua lên quở trách. Nhưng vua bảo: Mẹ bảo con ngủ với vợ, sao lại không được ăn chung với vợ để tṛ chuyện tâm t́nh,..”.Từ đó về sau không ai nói về việc này nữa. Cuối năm 1916, vua Duy Tân khởi nghĩa chống Pháp không thành nên bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion, một thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ Dương, cùng với vua Thành Thái, Thân mẫu Nguyễn Thị Định (gọi là Ngài Sanh), bà Phi Mai Thị Vàng và công chúa Lương Nhàn, lúc đó 12 tuổi (tên thường gọi ở nhà là mệ Cưỡi- em ruột vua Duy Tân). Lúc theo chồng lên đường, bà Hoàng Phi đă có thai 3 tháng nhưng bị sẩy thai sau khi qua ở đảo Réunion. Theo Wikimedia: Nói về cuộc sống ở đảo Réunion, bà Mai Diệu Phi từng chia sẻ: "Ở đảo Réunion rất dễ chịu. Người dân toàn làm một nghề chài lưới. Họ vui vẻ lắm, mua bán cũng tử tế. Nhưng tôi không biết làm sao, ở đó phong thổ tuy tốt nhưng mà h́nh như sức khoẻ tôi không hợp, nên hay đau. V́ thế, tôi xin Ngài cho tôi về... Ngài c̣n cho phép tôi tự ư đi bước nữa... Con nhà nề nếp như tôi dầu thế nào cũng phải giữ danh giá. Vẫn biết tuổi trẻ chưa dám chắc ở ḿnh, nhưng bây giờ có nói đến việc ǵ cũng là khó. Thôi th́ tôi tưởng chỉ có hy sinh cái đời tôi cho Ngài cho trọn". Nhưng theo cô Mai Thị Trà (cháu nội của cụ Mai Khắc Đôn, gọi Hoàng Phi Mai Thị Vàng bằng cô ruột là: không phải bà Hoàng Phi tự ư xin vua về mà do vua phái vợ về để phụng dưỡng mẹ và chăm sóc em trai. Tại đảo ngài Sanh có thai và sinh Hoàng Tử Vĩnh Ḥe. (hồi đó đi bằng đường biển, lênh đênh hàng tháng trời, vất vả). Khi vua đi, triều đ́nh không cho bà đi, bà phải viết đơn xin Pháp cho đi theo chồng mà! Như vậy nguồn Wikimedia có những chi tiết cũng chưa thật sự chính xác. Do ở đảo khí hậu, thổ nhưỡng không hợp, bị đau ốm luôn. Bà Sanh lại vừa sinh con nhỏ là Hoàng Tử Vĩnh Ḥe- (ở nhà thường gọi là Mệ Hên) nên Vua Duy Tân đă cho bà phi Mai Thị Vàng cùng về Huế để hầu mẹ chồng và phụ chăm sóc em trai (khi đó mới 1-2 tuổi). Lúc này bà Hoàng Phi mới 19 tuổi. Chị Công Tôn Nữ Như Thanh (con gái của Hoàng tử Vĩnh Ḥe) kể “Năm 1916 Đức vua Duy Tân cùng vua cha Thành Thái bị đày th́ người em ruột cùng mẹ với Ngài đi theo là em gái, công chúa Lương Nhàn, tên thường gọi ở nhà là Mệ Cưỡi. Ba của ḿnh là là hoàng tử thứ 19 của Đức Ông nội Thành Thái, em trai ruột cùng mẹ duy nhất của vua Duy Tân, hoàng tử Vĩnh Hoè th́ đến năm 1919 mới được bà nội Nguyễn Thị Định, tài phi của Đức vua Thành Thái sinh ra ở đảo Réunion. Ḿnh may mắn được ở chung nhà với bà nội và bác gái ờ ngôi nhà đó nên ḿnh biết khoảng thời gian cuối đời hai bà sống vọng phu cô đơn lặng lẽ, bởi v́ ba người con của bà nội đều mất sớm, bác gái th́ không có con. Đức Bác Duy Tân mất năm 1945, ba của ḿnh là con trai út của bà th́ mất 1953, Đức Cô công chúa Lương Nhàn mất 1956. Bà nội, tài phi của Đức Ông Thành Thái mất 1971. Bác gái Mai Thị Vàng mất 1980.” Cô Trà kể: “Năm 1945, Pháp đồng ư cho vua Duy Tân trở về nước. Nhưng đồng thời sau đó ông mất v́ tai nạn máy bay năm 1945, cái chết của vua Duy Tân vẫn c̣n là một bí ẩn”. V́ vậy khi nghiên cứu về các nhân vật lịch sử chúng ta sẽ tra cứu nhiều nguồn thông tin, đặc biệt dựa vào nguồn thông tin của hậu duệ, bà con trong thân tộc và người hiểu rơ về nhân vật lịch sử để có độ xác tín cao nhất có thể. Khi thực hiện bài này th́ tôi được gặp được một số hậu duệ của cụ Mai Khắc Đôn. Và sau khi bài viết đăng trên fb th́ cô Mai Thị Trà và chị Công tôn nữ Như Thanh cho biết thêm một một vài chi tiết nữa: Cô Mai Thị Trà cho biết thêm: Thời gian mới về, không có nhà ở nên bà Nguyễn Thị Định (bà Sanh của vua Duy Tân) và Hoàng Phi Mai Thị Vàng cùng em chồng ở gần bà con bên bà Sanh ở Long Thọ, gần khu vực Hổ Quyền, sau đó ổn định rồi mới thuê nhà khác để ở chuyển đi một vài nơi nữa. Chi tiết cấp nhà sau đây là do cô Yến kể và cô Trà cũng xác nhận là đúng như thế: Sau một thời gian về nước, thấy các bà mẹ vua và vợ vua không có nhà ở chính quyền miền Nam lúc đó cấp cho bà Sanh và bà Phi căn nhà (căn nhà có 3 pḥng) ở kiệt 1 đường Âm Hồn, sau đó đổi thành đường Nguyễn Hiệu (sau 1975 đổi tên đường Lê Thánh Tôn cho đến nay). Bà Phi rất hiếu để, hằng ngày chăm sóc mẹ chồng và em chồng. Khi em trai của chồng (hoàng Tử Vĩnh Ḥe) trưởng thành rồi vô Saigon học hành và lập nghiệp. Năm 1971 mẹ chồng mất. Lúc này bà Hoàng Phi đă 72 tuổi, bà xin hồi tôn về lại Kim Long sống cuộc đời c̣n lại ở phủ của cha mẹ ruột. Theo chị Yến th́ lúc về Huế bà vẫn được nhận hưu bổng. Quan khâm sứ Pháp rất mê bà: Nói với bà là: “bà lấy vua không sướng bằng tôi đâu, nếu bà đồng ư làm vợ tôi, tôi sẽ đưa bà đi khắp thế giới” Nhưng bà từ chối. Bà nói: “Xin lỗi ông, đời tôi chỉ có vua là chồng, vua là thiên từ, không ai có thể hơn vua” Mỗi lần đến kỳ lănh lương, ông khâm sứ lại sai người cho xe đến tận nơi rước bà về và mời vào pḥng làm việc tiếp đăi, rồi cho xe chở về, bà biết giữ ḿnh nên khi nào bà cũng đi cùng người anh trai của bà (d́ Yến gọi là cậu Năm) để tránh sự thân mật của khâm sứ Pháp. Đúng tinh thần như câu Kiều:
“Ǵn vàng giữ ngọc cho hay Theo lời kể hậu duệ của gia tộc Hoàng Phi và tham khảo ở nguồn Wikimedia, tôi xin tóm tắt các mốc thời gian quan trọng của Hoàng Phi: Đệ nhất Giai Phi nguyên danh Mai Thị Vàng sinh năm 1899, tại thôn Kim Long, Huế, năm 1915 đám hỏi, đám cưới ngày 16/1/1916, tức là đầu năm 17 tuổi đám cưới. Cuối năm 17 tuổi phải theo chồng đi đày, 19 tuổi trở về Huế. Khi ở đảo Réunion, Duy Tân vẫn thường gửi thư về cho bà. Năm 1925, Duy Tân đă gửi thư về cho hội đồng hoàng tộc kèm giấy ly hôn bà Mai Diệu phi, xin Hội đồng chứng nhận để bà đi lấy chồng khác. Khi đó, bà mới 27 tuổi nhưng bà không ly hôn mà vẫn ở vậy nuôi mẹ và em chồng. Cô Trà c̣n cho biết là vua Duy Tân rất thương nhớ bà Phi Mai Thị Vàng. Vua có làm một bài thơ nói lên tâm sự của ḿnh đăng lên báo bên Pháp và ông Trần Viết Ngạc (em người bạn thân của cô Trà) sang bên đó đọc được, và c̣n đọc thêm một số tài liệu liên quan đến vua Duy Tân và bà Hoàng Phi Mai Thị Vàng bằng tiếng Pháp. Cụ Mai Khắc Đôn đức cao vọng trọng nhưng cụ sống giản dị, thanh liêm và nhân hậu. Một nhà nho yêu nước, một vị quan thương dân và là một người thầy đáng kính của vua Duy Tân. Sau 8 năm học với thầy Mai Khắc Đôn, Vua Duy Tân trưởng thành, trở thành vị vua yêu nước và đứng lên chống Pháp. Tư tưởng của vua có ảnh hưởng tốt từ thầy dạy và là nhạc phụ Mai Khắc Đôn. Con cháu cụ kể lại là lúc làm quan, về nhà cụ c̣n dạy học cho học tṛ trong địa phương, làng Trúc Lâm không biết lấy ǵ để đền ơn cụ nên đă hiến một sào ruộng làm nơi an nghỉ cho cụ. Trải qua làm quan hai triều vua Thành Thái và vua Duy Tân, cụ đă để lại những dấu ấn tốt đẹp. Năm 1930 cụ an nghỉ, mộ cụ được xây giữa một cánh đồng lúa xanh rờn, khung cảnh yên b́nh, như tính cách và cuộc sống sinh thời cụ đă gần dân, yêu thương dân như thế! Hoàng Phi Mai Thị Vàng là ư trung nhân vua đă chọn: xinh đẹp, hiền thục, chung thủy và hiếu để. Bà xuất thân quyền quư, bước lên danh vọng đỉnh cao là đệ nhất Hoàng Phi nhưng lại sống giản dị. Là người có tấm ḷng trung trinh, thủ tiết với chồng cho đến khi qua đời (1980) tại Kim Long. Cuộc đời cụ Mai Khắc Đôn là tấm gương về tài năng, đức độ, yêu nước và thương dân, từ những tư tưởng tốt đẹp và kiến thức uyên bác của ḿnh đă truyền dạy, đào tạo một vị vua trẻ tuổi thành vị vua yêu nước th́ cuộc đời Hoàng phi con gái cụ là một người phụ nữ Huế tiêu biểu cho nhan sắc và đức hạnh. Nếu vua không bị đi đày th́ cuộc đời bà là hạnh phúc viên măn bên vua và sẽ là một mẫu nghi chuẩn mực trong triều lúc bấy giờ. Thời gian ở đảo như đă nói ở trên bà thường đau ốm do không hợp thổ nhưỡng, khí hậu và đă bị sẩy thai, sợ bà có bề ǵ, vua để bảo toàn sức khỏe cho vợ, mẹ và em trai, đă cho Hoàng Phi cùng mẹ là bà Định và em trai về Việt Nam sinh sống. Sau này, vua cũng có con với 3 người phụ nữ châu Âu. (Chị Công Tôn Nữ Như Thanh kể) “Đức Bác Duy Tân hồi c̣n ở đảo Réunion, Ngài có 3 người vợ không chính thức và có 6 người con. Bà thứ nhất có 1 con trai, Bà thứ 2 có 3 trai 1 con gái, Bà cuối cùng có 1 gái” . Các Hoàng Từ có trở về thăm quê cha. Năm 1987, họ đưa thi hài của vua Duy Tân từ Pháp về Huế an táng tại An Lăng (Huế). Các con vua Duy Tân cũng thường được nghe cha kể về Hoàng Phi Mai Thị Vàng (cũng xem như mẹ đích v́ bà Phi vẫn là vợ vua hợp pháp) các con của vua Duy Tân cũng yêu quư và kính trọng bà, lúc nào cũng gọi Hoàng Phi là Reine mère, nên dù lúc mất 1980, Hoàng Phi an nghỉ tại Kim Long, nhưng sau này các hoàng tử về xin đưa Mộ phần bà Hoàng Phi Mai Thị Vàng về cải táng tại An Lăng, gần mộ vua Duy Tân. (Năm 1994). Như vậy, cuối cùng, Bà Phi Mai Thị Vàng được an nghỉ bên cạnh vua Duy Tân, hai ngôi mộ gần nhau, con cháu thấy vậy cũng ấm ḷng v́ nghĩ rằng sang bên kia thế giới hai tâm hồn lại bên nhau sau bao năm xa cách và biến thiên dâu bể.Bà Nguyễn Thị Định mất năm 1971 tại Huế, được táng trong khuôn viên lăng Dục Đức cùng với vua Thành Thái và Duy Tân. Bà Hoàng quư phi Nguyễn Gia Thị Anh cũng được táng tại đây.Mời bạn đọc xem 2 video người viết bài có một cuộc phỏng vấn nhỏ với Chị Mai Thị Thanh Xuân (cháu nội của cụ Mai Khắc Đôn), chị Trần Thị Yến Tuyết (cháu ngoại của cụ Mai Khắc Đôn) một số h́nh ảnh thăm phủ đệ, gặp gỡ bà Mai (cháu dâu) và chị Mai Thị Nhàn, chắt nội của cụ Mai Khắc Đôn). Xem một số h́nh ảnh của Công Tôn nữ Như Thanh cung cấp, (con gái của Hoàng Tử Vĩnh Ḥe- Hoàng tử thứ 19 của vua Thành Thái) hiện sống tại Canada. Chị Như Thanh đă về dự Huư Nhật ba vua Dục Đức Thành Thái Duy Tân tại An lăng ngày 16/2/Ất tỵ (5/3/2025)
Hoàng Thị Bích Hà
Video gặp gỡ tṛ chuyện với chị Mai Thị Thanh Xuân
https://www.youtube.com/watch?v=pzDPN6BtgDE Video gặp gỡ tṛ chuyện với chị Trần Thị Yến Tuyết
https://www.youtube.com/watch?v=jMfQWmQd-s0
|