|
HOÀNG THỊ BÍCH HÀ
SẮC ĐIỆU TRỮ TÌNH VÀ CẢM XÚC THẨM MỸ
TRONG THƠ MY THỤC QUA HAI TÁC PHẨM
RỒI CŨNG TRĂNG VỀ & TRÊN MẤY DẶM VỀ
XƯA

Tôi biết My Thục thông qua nhà
thơ Hoàng Lộc, anh là bạn thân của bố cô. Gặp nhau trong đời hay trên
thơ đều cũng do một chữ duyên. My Thục tên thật là Nguyễn Thị Mỵ, sinh
năm 1979, quê quán Hà Nhuận, Duy Xuyên, Quảng Nam. Hiện đang công tác
tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
My Thục gửi tặng tôi hai tác phẩm: Rồi cũng trăng về (Nxb Đà
Nẵng, tháng 10/2021) và tác phẩm vừa mới Trên mấy dặm về xưa (Nxb
văn học, tháng 8/2024). Hai tập thơ là hai ấn phẩm xinh xinh, được trình
bày bắt mắt, mỗi tập gồm 81 bài thơ trữ tình. Thế là qua 162 bài thơ,
tôi đã đi vào thế giới tâm hồn của nữ thi sĩ My Thục để khám phá vẻ đẹp
hai tập thơ mà nàng gửi tặng. Phần lớn là thơ tình. Thơ tình My Thục đẹp
mà buồn. Nỗi buồn cũng sang trọng và quý phái. Xuyên suốt hai chặng
đường thơ là lời tâm tình nhẹ nhàng sâu lắng. Ở đó có mối tình đầu một
thuở. Ngược miền thời gian cùng thơ để nghe tiếng lòng tan chảy say đắm,
ngọt ngào, của cả đổ vỡ chia biệt, ly tan. Dĩ nhiên vẫn có những bài thơ
tươi vui hạnh phúc một thuở yêu người. Nhưng thơ tình buồn chiếm phần
lớn trong cả hai tập thơ. Thơ My Thục diễn tả các cung bậc của tình yêu:
tha thiết, đắm say và lãng mạn. Điệu buồn trong thơ cũng nhẹ nhàng nhưng
da diết. Tình xưa giờ đã là dĩ vãng, dẫu không đi trọn đường tình nhưng
vẫn là một tình yêu đẹp, để lại những ấn tượng sâu đậm trong thơ.
Trước hết chúng ta đến với những vần thơ tình thời áo trắng: “Cái
nhìn nhau nhớ mà thương/ để em sớm đến sân trường còn vui” (Nhớ
trăng) .
Tình yêu đầu đời nhẹ nhàng như hương bưởi, có nét vui tươi của tiếng
chim chuyền cành, có tiếng gió thì thầm trong lá lao xao như kể chuyện
mình. Cũng là tiếng lòng rộn rã trước tín hiệu chớm nở tình yêu. “Ơi
anh mùa cũ đang hè/ Cây bòn bon cũ vừa nghe chim chuyền/ Em ngồi ngó lá
vườn bên/ Xôn xao như thuở chuyện mình xôn xao” (Của lứa bòn bon)
Ở tập thơ Rồi cũng trăng về dù là tập thơ đầu tay của tác giả
nhưng cũng đã có những bài thơ hay, câu thơ hay. Hé lộ một hồn thơ lãng
mạn và đầy sức quyến rũ: "Em hãy mời xuân một cốc đầy/ Xuân tràn trong giấc mộng em đây/ Nếu em
có thể yêu như thể/ Hãy nở một lần cho đắm say" (Em yêu đi- Rồi cũng
trăng về)
Thơ tình buồn là có chia biệt, ly tan, có lẽ tình yêu chưa đủ chín khi
tuổi đời còn xanh, qua tín hiệu ở câu hỏi tu từ trên thể thơ bảy chữ: “Có
lẽ vầng trăng xưa mọc sớm”, mọc chưa đúng thời điểm chăng? Nên vì
thế “cả đời nhau phải cách chia”: “Em ở quê lại thương chiều
quê/ Thương anh là khách những khi về/ Có lẽ vầng trăng xưa mọc sớm/ Mà
cả đời nhau phải cách chia”.
Tình yêu khi đã nhận ra dấu hiệu sự chia ly thì không thể níu kéo, lòng
tự tôn của lý trí trỗi dậy để nói lời dứt khoát với con tim. Tình lạnh
giá, cánh cửa lòng sẽ khép:
“Anh có đứng lại chờ em chăng nữa/ Thì đời kia có bớt những cơ cầu/
Thôi cứ chảy một đời cho mải miết/ Sông đời em băng cóng một dòng đau”
(Sông băng- Rồi cũng trăng về)
Tình ta thôi giã biệt: “Tạ Từ anh. Em về thay áo mới/ Mùa đông qua
tình cũng đã tan rồi” (Tạ từ-Rồi cũng trăng về)
Tuy từ biệt một mối tình nhưng không dễ gì quên, cảm giác thở cũng đau
nên mãi day dứt trong hoài niệm, cảm xúc dâng trào tác giả gửi tâm sự
vào thơ như nói với chính mình, và cũng tỏ bày cùng độc giả:
“Em vẫn chờ anh trên lối xưa/ Mây buồn nắng chảy lả theo mùa/ Hồn em
hơi thở đau từng phiến/ lá bỏ cành rơi theo nắng mưa” (Lối xưa-Rồi
cũng trăng về)
Cảm xúc của chia xa cô thể hiện vào thể loại thơ năm chữ diễn tả một mối
tình không trọn vẹn qua một tứ thơ hay. Nhìn thấy biểu tượng mùa thu
rồi, mùa thu gần lắm, nhưng đi hoài không thể tới. Chân cũng đã mỏi cho
thấy ít nhiều của sự thất vọng chán nản và bỏ cuộc: “Bên kia là mùa
thu/ em đi hoài chẳng tới/con đường như thật gần/ mà chân dường đã mỏi” (Mùa
thu bên kia)
Dẫu chấp nhận chia xa, song chủ thể trữ tình vẫn không nỡ dứt tình cho
quên hẳn luôn mà vẫn trân trọng, lưu giữ những gì là kỷ niệm trong góc
khuất ký ức được My Thục diễn đạt qua thể thơ tám, chín chữ: "Còn một chút nồng nàn thôi, em giữ lại/ Để mai qua sương khói sưởi
tim mình" (Còn chút nồng nàn)
Giữ lại những kỷ niệm cho riêng mình, và dặn lòng cũng như dặn người,
đừng về nữa và cũng không gặp nữa. Tác giả sử dụng điển tích, điển cố để
ví von nói hộ tấc lòng. Ở đây tác giả sử dụng tích cũ trong một tình
huống mới, thay vì “bắc cầu” (để nối đôi bờ thương nhớ cho Ngưu Lang
Chức Nữ gặp nhau) thì chỉ thấy “đá lấp mộ sâu”, nghe tiếng kêu khóc của
chim ô thước, không thấy cầu đâu cả. Đó là sáng tạo trong thi ca. Cô còn
sử dụng điệp từ, điệp ngữ làm tăng giá trị biểu đạt: "Anh đừng về
nữa, đừng về nữa/ Quê nhà không có bóng em đâu/ Có đôi Ô Thước vừa kêu
khóc/ Đá lấp mộ sâu thay bắc cầu" (Anh đừng về nữa - Rồi cũng trăng
về)
Vần thơ quằn quại đến xé lòng, miêu tả sự đớn đau đổ vỡ: “Em sẽ quẫy
tàn cơn khinh miệt/ Chữ tình đã nhuốm những oan khiên/ Người đừng thêm
nữa điều cay nghiệt/ Mưa cuồng gió nộ sấm đảo điên” (Anh đừng về nữa
- Rồi cũng trăng về)
Khi chia biệt là ngược đường nhau làm sao nói hết những điệu buồn trên
lối về hai hướng. Có chút mất mát và nuối tiếc ở nơi đây: “Anh không
về kịp mùa đông nữa/ ngọn gió chia hai nỗi lạnh lùng” (Ngày đông-
Rồi cũng trăng về)
Thôi đành chấp nhận ly tan với cõi lòng tan nát, não nề: “Thôi đành
ly biệt xưa đành vậy/ Ta phải đi cho kịp mây ngàn/ Có tiếng chim chiều
buồn não nuột/ Lòng ta- là gió- đẫm hoang mang” (Gió -Rồi cũng trăng
về)
Tuy xa rồi nhưng dễ gì quên, đôi khi lòng chợt hỏi: “Người qua có bao
giờ ngoảnh lại/ nhặt bớt giùm tôi những ước thề” (Hoa bay- Rồi cũng
trăng về)
Khi yêu là ghen, yêu nhiều thì ghen lắm! Có khi còn ghen luôn cả quá khứ
thuở chưa là của nhau, rồi tưởng tượng ra anh đã từng cùng ai đó, đi
phố, cà phê,… Dẫu vẫn biết ghen là vô lý, nhưng tình yêu mà! Con tim có
lý lẽ riêng của nó. Ghen rất dễ thương: “Cũng từng trúc mã thanh mai/
Chưa có em anh với ai một thời/ Cũng từng xuống phố song đôi/ Chưa có
em- quán anh ngồi cùng ai (Bắt đền -Rồi cũng trăng về)
Lý giải cho nguyên nhân của sự cách chia, My Thục có những vần thơ năm
chữ, nhịp điệu ngắn, dứt khoát, rõ ràng: “Tình em là tưởng vọng/ Tình
anh là phiêu bồng/ Hai người về hai cõi/ làm nên mối tình không”
(Xuân rụng-Rồi cũng trăng về)
Cảnh vật thiên nhiên đi vào thơ My Thục cũng mang một ý nghĩa chuyển tải
thông điệp nhà thơ muốn gửi gắm: “Hoa vàng trước ngõ rồi kia/ Và con
bướm biết hẹn thề với nhau”. Trong thơ tả cảnh ngụ tình, dùng ẩn dụ
tượng trưng cho một tình yêu chớm nở. Tình yêu đôi lứa hẹn hò qua hình
tượng hoa và bướm biết “hẹn hò cùng nhau”
.
My Thục sử dụng câu hỏi tu từ làm tăng giá trị biểu cảm: “Chuyến sông
nào đưa người đi xa/ Sóng lan không dứt cõi giang hà/ Lòng em đau suốt
mùa tao tác/ nhánh tình hoài cũng cuối mùa hoa”.
Nguyên nhân xa nhau: “chuyến sông nào đưa người đi xa” để cho nỗi nhớ
niềm thương như những con sóng lan khắp cả một “cõi giang hà”. My Thục
sử dụng từ Hán Việt để nói đến dòng sông. Có thể dòng sông tự nhiên hay
dòng sông hoài niệm đều nâng giá trị lên, làm sang hẳn câu thơ. Nỗi
buồn, nỗi đau của chia biệt không ai là không biết và không nói ra được
nhưng ở đây tác giả dùng từ láy “tao tác” rất hiệu quả khi đặt bên cạnh
“mùa”- chỉ thời gian. Tao tác chỉ sự đớn đau và đổ vỡ: “Lòng em đau
suốt mùa tao tác” diễn tả nỗi buồn đau của dang dở, ly tan:
“Tình thu buồn quá ngày thu ạ/ Tiếng gì như tiếng của dở dang?”(Tìm
thu)
Thơ tình My Thục có đủ cung bậc của cảm xúc, có ngọt ngào, lãng mạn, có
buồn đau, đổ vỡ chia ly… nhưng nhân vật trữ tình bao giờ cũng làm chủ
cảm xúc. Chấp nhận sự thay đổi của vạn vật, dịch chuyển của thời gian và
định mệnh: “Khung trời cũ rồi có ngày cũng khép/ Mùa vàng xưa bao lá
sẽ bay đi”. Biết là vậy nhưng tại sao vẫn đau, vẫn buồn, vẫn ngậm
ngùi rơi lệ? Đơn giản vì rất yêu, một tình yêu tha thiết, khó phai. Hai
câu kết của một bài thơ thêm lần khẳng định: “Em, con sóng nhỏ trong
trời đất/ Cứ muốn cùng sông quấn quýt người” (Chiều quán gió)
Thời gian cứ trôi, tuổi xuân cũng không thể là mãi mãi. Nhân vật trữ
tình gửi câu hỏi tu từ: “Mai kia ai níu được xuân thì?”.Chúng ta
tự hỏi: để làm gì? “Cho em tìm gặp mùa yêu cũ/ Tìm gặp người - dỗi
cuộc phân ly”. Một sự hờn dỗi cũng thật nhẹ nhàng mà không dễ phôi
pha.
Mùa đông miền Trung lạnh lắm, ai từng sống ở miền Trung hay có dịp trải
nghiệm đều đã thấm cái lạnh này nhưng chủ thể trữ tình với nỗi buồn xa
vắng không chỉ lạnh làn da mà còn lạnh cả cõi lòng: “Mùa đông đã lạnh
càng thêm lạnh/ Ngút ngát phía nào cũng gió mưa. Con đường cũ gió lê
thê/ Tóc em bay đã thôi kề vai anh” (Rối bời tóc gió). Tác giả dùng từ
láy “ngút ngát” là một sự sáng tạo trong ngôn ngữ thi ca: ngút trời, bát
ngát là những từ diễn tả không gian xa tắp, rộng lớn, không giới hạn. Cô
đưa về một từ “ngút ngát” nếu đứng một mình sẽ không rõ nghĩa nhưng thật
hiệu quả khi đặt trong ngữ cảnh “phía nào cũng gió mưa” rất hay. “Ngút
ngát phía nào cũng gió mưa”, phía nào cũng lạnh lùng, cô đơn và trống
vắng! Để rồi cuối cùng: “Đường xa sẽ mình em bước mỏi/ Vắng biệt bên
trời - vầng trăng xưa" (Buồn đầu đông).
Người nghệ sĩ càng cô đơn càng sáng tạo. Ngay cả khi có đông người và
xao động của thế giới xung quanh- người nghệ sĩ vẫn cô đơn, khoảnh khắc
cô đơn trong tâm hồn là cơ hội cho cảm xúc dâng trào và do đó mới có thơ
hay. “Em về từ tạ sao khuya/ bao nhiêu lấp lánh bấy mùa chia tan” (Dẫu
xanh chưa kịp).
“Chẳng là em nhớ nhung anh/ Hàng cây cực chẳng đã đành vào thu/ Cũng may
chưa có sương mù / Để ta khỏi phải mơ hồ về nhau” (Bắt đầu thu)
Mọi việc đến và đi theo thời gian của bốn mùa. Thu đến thì vào thu thôi,
mọi thứ đều thuận theo tự nhiên và em - anh gặp gỡ nhau rồi chia xa,…
cũng thế. Chưa có gì để phải vướng bận về nhau. Chỉ là để lại một kỷ
niệm đẹp của một thời mới lớn. Chỉ vậy thôi mà rung động lòng người.
“Lòng em cho dẫu trường giang/ Cũng trôi không hết nỗi buồn muốn trôi”
(Mà sao chân vấp)
Nhưng cuối cùng thì ai cũng sẽ có con đường đi của riêng mình, câu thơ
bình dị mà dồi dào cảm xúc: “Nhiều năm không gặp lại/ em đã sang nhà
người/ Anh thì hun hút phố/ hoa gạo đường thôn rơi” (Đường thôn hoa gạo)
Yêu và được yêu đó là điều hạnh phúc mà đôi lứa nào cũng khát vọng vươn
tới. Tuy nhiên khi tình yêu không thể cùng nhau đi trọn con đường thì
cũng biết buông bỏ để rồi có đau, đau chỉ một lần, không chần chừ do dự.
Thể hiện qua thể thơ năm chữ, nhịp thơ ngắn như tiếng nói nhanh gọn và
dứt khoát, không dây dưa: “Xin không thương anh nữa/ Lòng em đau quá
rồi/ Làm ơn cho em trả/ Đắm say này anh ơi!” (Trả)
Lần dở từng trang của hai tập thơ tôi khám phá hết vẻ đẹp của một hồn
thơ. Ở đó cho thấy một người thơ khiêm cung, chừng mực, tự nhận mình
“chẳng mấy hồng nhan”: “Đã mấy thu rồi lá ngủ yên/ vườn xưa cũng khép
những ưu phiền/ Em vẫn đôi lần thương nhớ quá /Chẳng mấy hồng nhan mà
truân chuyên” (Bỏ lại tàn canh)
Còn tính cách người thơ thì ít nói, kiệm lời nhưng cảm xúc gửi vào thơ
luôn dạt dào tươi mới: “Em quen kiệm nói, kiệm lời/ Quẩn quanh bè bạn
đôi người biết nhau” (Vẫn em)
Thơ tình My Thục nhẹ nhàng mà hiệu quả, miêu tả tình yêu không cần bão
liệt vồ vập cuồng nhiệt cũng chẳng cần có hơi sex mà chi, cứ tinh tế nhẹ
nhàng như thế mà đáng yêu: “Ngày xuân nở một chuyện tình/ Đơn sơ mà để
cho mình nhớ nhau”.
Phần lớn tập thơ “Trên Mấy dặm Về Xưa”
được trình bày qua thể thơ lục bát truyền thống rất mềm mại. Cô không
nhất thiết phải gieo đúng vần chính mà có thể sử dụng “vần chị”, “vần
em” và tuân thủ luật đổi thanh vẫn tạo được giai điệu một cách nhuần
nhuyễn và có giá trị biểu đạt khi diễn tả về tình yêu hạnh phúc:
“Ngày của anh ngày của em
Đã cho mình có lần tìm được nhau
Tạ ơn cha mẹ, đất trời
Ơn anh- ơn của nhiệm mầu nhân duyên”
(Ngày tình yêu)
Tình yêu luôn được trân trọng trong thơ My Thục:
“Đã rồi anh thuộc về em
Để em có một trái tim dỗ dành
Và hoài em thuộc về anh
Câu thơ xin gởi tặng tình xưa sau”
(Ngày tình yêu)
Trái tim chủ thể trữ tình đón nhận tình yêu đích thực như đón một mùa
thu đẹp dịu dàng đầy quyến rũ: “Trái tim em thuở sương mù/ anh qua cho
cả mùa thu dịu dàng” (Tận cùng)
Tình yêu, nỗi nhớ, nỗi buồn của sự chia xa, người đọc phân tích dựa trên
những vần thơ là cảm xúc của thi nhân. Có thể thơ là đời, mà cũng có thể
thơ và đời không là một. Thơ là tiếng lòng. Và đó là cảm xúc, là sáng
tạo: có thể giải bày nỗi niềm của mình, cũng có thể hóa thân, nhập vai
cho một tình yêu mình bắt gặp được trong nhân gian. Phần lớn là bóng
hình chủ thể trữ tình, có thể mối tình đầu của thời hoa mộng đã xa nhưng
vẫn lưu lại dư ba len vào cảm xúc tạo nên một mối tình dành cho thơ. Mà
cũng chỉ có thơ tình buồn mới hay, thơ tình vui ít hay. Dù bước vào tình
yêu ai cũng muốn hạnh phúc trọn vẹn. Nhưng nghịch lý nếu viên mãn tròn
đầy thì đâu còn khắc khoải. Do đó khó dệt ra vần thơ tình hay da diết,
chạm đến trái tim người đọc. Để có được vần thơ hay thì tùy thuộc vào
tài hoa của người nghệ sĩ.
Quả thật niềm vui, nỗi buồn của tình yêu: hạnh phúc, chia biệt ly tan
trong thơ My Thục đều nhẹ nhàng nhưng lay đọng. Giọng điệu tâm tình, hồn
nhiên, ngôn ngữ thơ hàm súc, biểu cảm, lấy ngoại cảnh để diễn tả tâm
cảnh, giàu giá trị nhân bản và rất ấn tượng. Từ cảm xúc thẩm mỹ, đến các
biện pháp nghệ thuật được lựa chọn tinh tế. Tính hình tượng kết hợp với
tính truyền cảm tạo nên sắc điệu trữ tình sâu lắng cho thơ.
Thơ My Thục (ở các thể loại) được viết ra từ cảm xúc chân thành. Và đó
yếu tố quan trọng nhất để chạm đến trái tim người đọc, tuy nhiên yếu tố
kỹ thuật và ngôn từ cũng không kém phần quan trọng trong ba yếu tố cấu
thành thơ. Các chi tiết nghệ thuật có sự dụng công. Cấu trúc cân xứng,
hài hòa giữa ngôn từ, thanh điệu, hình ảnh và ý thơ.
Từ tập thơ Rồi cũng trăng về đến tập thơ
Trên mấy dặm về xưa tôi nhận
thấy My Thục viết ngày càng lên tay. Tập thơ sau nhiều bài thơ hay,
nhiều câu thơ hay hơn tập trước. My Thục còn rất trẻ, đời thơ vẫn còn
dài. Độc giả có quyền chờ đợi những bài thơ mới, những tập thơ mới trong
thời gian tới đem đến cho độc giả những điều thú vị. Phần trích dẫn trên
chỉ là gợi mở. Bạn đọc hãy đến với thơ My Thục để khám phá vẻ đẹp của
một hồn thơ đầy hứa hẹn!
Saigon, ngày 17/9/2024
Hoàng Thị Bích Hà
P/s* Những câu thơ trích trong các bài thơ ở tập thơ “Rồi cũng trăng
về”, có ghi bên cạnh tựa của các bài thơ. Còn những bài thơ khác chỉ ghi
tựa thì đó là những bài thơ trong tập thơ mới nhất “Trên mấy dặm về xưa”
của My Thục
art2all. net
|