|
HOÀNG THỊ BÍCH HÀ
VỀ MIỀN HƯƠNG NGỰ -
BẢN H̉A CA TRỮ
T̀NH ĐẦY XÚC CẢM

Tập thơ “Về Miền Hương Ngự” do Hội thơ xứ Huế tuyển chọn và biên tập,
Nhà xuất bản Hội Nhà văn (tháng 12 năm 2025) ra đời như một cuộc ḥ hẹn
thi ca đầy duyên nợ. Với sự góp mặt của 109 tác giả từ mọi miền Tổ quốc
và cả từ hải ngoại với 327 bài thơ.
“Về Miền Hương Ngự” không chỉ là một ấn phẩm văn học mà c̣n là một bản
hợp xướng trữ t́nh đa sắc cùng ngân lên một nỗi niềm chung là t́nh yêu
Huế, yêu người, yêu quê hương đất nước và những giá trị bền sâu của đời
sống tinh thần Việt, không đơn thuần là một tuyển tập thơ, mà tựa như
một cuộc hành hương tinh thần về với Huế-xứ sở núi Ngự Sông Hương của
những tâm hồn yêu thơ và yêu Huế. Tập thơ lấy cảm hứng trung tâm từ xứ
Huế và mở rộng ra những t́nh cảm thiêng liêng của con người: t́nh mẹ,
t́nh yêu, t́nh bằng hữu và t́nh yêu quê hương đất nước.
“Về Miền Hương Ngự” gợi mở một không gian vừa cụ thể vừa biểu tượng.
“Hương Ngự” là tên gọi gắn với sông Hương - núi Ngự, hai biểu tượng văn
hóa của Huế, mà c̣n là miền tâm tưởng, miền kư ức, miền trở về trong sâu
thẳm tâm hồn người Việt. Chữ “về” trong nhan đề mang sức nặng tinh thần
đặc biệt: đó là trở về cội nguồn, về với yêu thương, về với những ǵ
thân thuộc nhất. V́ thế, đọc tập thơ này, người đọc không chỉ “đi” qua
Huế bằng thị giác, mà c̣n “sống” trong Huế bằng cảm giác, bằng kư ức,
bằng rung động tâm linh. Huế hiện lên trầm mặc, dịu dàng, lặng lẽ mà sâu
xa - đúng như căn cốt văn hóa của vùng đất cố đô.
“Về Miền Hương Ngự” là về với không gian thi ca, một không gian Huế đa
chiều và sống động. Huế hiện lên không chỉ với vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc
vốn là chất liệu muôn thuở, mà c̣n rất đỗi gần gũi, thiết tha, có cả nét
u buồn của thành quách rêu phong lẫn niềm vui hội ngộ của những tâm hồn
thi ca.
Mạch nguồn xuyên suốt và cũng là điểm nhấn của tập thơ chính là t́nh yêu
quê hương trong những h́nh ảnh thân thuộc, b́nh dị. Các tác giả không
chỉ viết về những danh thắng, mà c̣n trân quư từng con đường, bến sông,
xóm làng. Đó là cây cầu “lộng vàng” ở Kim Long (Hải Đăng), là ḍng sông
An Lỗ “ch́m nổi lỡ bồi” gắn với “bóng mẹ tôi” (Đỗ Văn Tri). Đó là nỗi
niềm tự hào, yêu thương khi “kể sao hết những tên làng tên đất” (Trần
Giải) hay niềm vui trước cảnh “ruộng đồng bát ngát thắm t́nh duyên quê”
(Trùng Trùng Vân). Chất liệu đời sống này khiến thơ trở thành bản t́nh
ca về quê hương, xứ sở.
Ban Biên Tập mà người cầm trịch “ thuyền trưởng” Nguyễn Ngọc- nhà thơ Hà
Thi đă tạo nên sân chơi bổ ích là Hội thơ xứ Huế và h́nh thành sợi dây
kết nối hồn quê và t́nh thi hữu: gắn kết cộng đồng những người yêu thơ
tạo nên tập sách. Câu thơ “Cuộc đời tươi đẹp bao nhiêu / Hăy cho nhau để
nhận nhiều niềm vui” (Hoài Xuân) như một thông điệp đẹp về sự sẻ chia.
Tập thơ c̣n phản ánh sự giao thoa của thời đại, khi những cuộc hội ngộ
bắt đầu từ việc kết nối qua fb: Điều đó cho thấy t́nh yêu Huế, yêu thơ
có sức mạnh kết nối vượt qua mọi khoảng cách không gian và phương thức
giao tiếp.
Huế là trung tâm cảm hứng trữ t́nh chủ đạo của tập thơ
"Về Miền Hương
Ngự".
Vượt lên trên không gian địa lư cụ thể, “Về Miền Hương Ngự” c̣n là hành
tŕnh đi vào miền xúc cảm của tâm hồn - nơi lưu giữ những t́nh cảm
thiêng liêng và sâu kín nhất và có sức đồng vọng rộng lớn.
Phần lớn các bài thơ trong tuyển tập dành cho Huế - bởi “Về Miền Hương
Ngự” mà c̣n là linh hồn của cả tập sách. Huế trong thơ không chỉ là địa
danh, mà là một “nhân vật trữ t́nh”, một người t́nh, một cố tri, một
miền thương nhớ day dứt khôn nguôi.
Huế được gọi tên bằng nhiều cung bậc:
“Huế trầm mặc gọi tên anh trở lại/ Nơi cố hương măi măi chốn t́m về”
(Chờ người nơi miền Hương Ngự - Hà Thi)
Huế là lời gọi thầm th́ của kư ức, là nơi “măi măi chốn t́m về”. Ở đó có
thôn Vỹ, có trăng quê, có miền Hương Ngự vừa thực vừa mộng. Cũng có khi
Huế trở thành lời mời gọi thân t́nh: “Bạn ơi từ Bắc - Nam xa ngái/Về Huế
cùng tôi một sớm mai.”
(Huế mời bạn về - Trần Quốc Ḥa)
Lời thơ mộc mạc, chân t́nh, như tiếng gọi bạn bè bốn phương cùng về
chung một mái nhà văn hóa. Huế trong thơ là nơi hội tụ, nơi kết nối
những tấm ḷng xa gần.
Huế c̣n là hoàng hôn trên đồi Vọng Cảnh, là hư ảnh câu ḥ, là t́nh yêu
xứ sở thầm lặng giấu trong tim:
“Mặt trời lặn phía sau đồi Vọng Cảnh/ Hoàng hôn buông trong hư ảnh câu
ḥ”
(Về cố đô - Ngàn Thương)
Huế hiện lên qua thiên nhiên, qua âm thanh, qua chiều sâu cảm xúc. Cảnh
và t́nh ḥa quyện, tạo nên nét đặc trưng của thơ Huế: ít phô trương,
nhiều lắng đọng. “Huế bây chừ vẫn rứa/ Trầm mặc bóng thời gian" (Huế bây
chừ vẫn rứa- Hoàng Thị Bích Hà)
Huế của đời sống thường nhật gần gũi và dịu dàng thể hiện qua thơ. Huế
không chỉ là của di tích hoàng thành, lăng tẩm. Huế trong tập thơ c̣n
rất đời, rất người. Đó là chè Huế, là cơn mưa, là chút b́nh yên được
“giấu kỹ” để dành tặng cho người thương:
“Về với em nếm thử chút chè đông
…
Em giấu chút b́nh yên đem giấu kỹ
Để tặng cho người thương Huế ở trong tim.”
(Chè Huế – Lê Thị Phương Loan)
Ở đây, Huế không xa cách, không cổ kính một chiều, mà gần gũi như một
bàn tay dịu dàng, như một tách chè ấm giữa ḷng người. Cũng có Huế mùa
đông mưa lạnh, gió buốt, nhưng chính cái lạnh ấy lại làm sâu thêm nỗi
nhớ:
“Huế mùa đông lạnh lại mưa
Gió mang buốt giá cho vừa nhớ nhung.”
(Trần Thiện Tuấn)
Giọng Huế đi vào thơ bằng âm thanh:
“Tiếng rao đêm cũng nhẹ nhàng đến thế.”
(Huế trong tôi -Nguyễn Hữu Quyết)
Huế v́ thế không chỉ được nh́n, mà c̣n được nghe, được cảm, được sống
trong từng nhịp thở đời thường. Những bài thơ không ồn ào, không kịch
tính, mà thiên về sự thủ thỉ, bền bỉ, thủy chung.
T́nh yêu đôi lứa và t́nh bạn đời cũng được thể hiện với nhiều cung bậc.
Có nỗi xót xa, ngậm ngùi nhưng cũng có sự dịu dàng, thủy chung gửi gắm
qua những kỷ vật tinh thần giản dị: “Em giấu chút b́nh yên… / Để tặng
cho người thương Huế…” T́nh cảm ấy ḥa quyện với t́nh yêu Huế, trở thành
một phần không thể tách rời của kư ức và hiện tại.
“Thương nhớ Huế và em luôn ái mộ/ Ngh́n câu thơ cứ dẫn độ anh về.”
(Hẹn rồi với Huế và em- Phạm Như Tư)
Huế ở đây gắn liền với “em” - người con gái, người t́nh, người tri âm.
Yêu Huế cũng là yêu người, và ngược lại. Không gian t́nh yêu v́ thế mang
màu sắc văn hóa, thấm đẫm tinh thần cố đô.
Một mảng thơ đặc biệt xúc động trong tuyển tập là thơ viết về Mẹ- miền
thiêng liêng của cảm xúc
Đây là những bài thơ giản dị, ít trau chuốt kỹ thuật, nhưng giàu cảm xúc
chân thành, mang sức lay động sâu xa:
“Mẹ về bóng đổ chiều tà/ Nghiêng nghiêng bóng mẹ áo hoa ngả màu.”
(Mẹ t́nh yêu thương con -Nguyễn Văn Ân)
Phần thơ về mẹ là những nốt trầm thấm đẫm xúc động. H́nh ảnh người mẹ
luôn gắn với bóng chiều tà, và nỗi nhớ thương da diết. H́nh ảnh người mẹ
hiện lên qua bóng chiều, qua dáng nghiêng, qua màu áo phai - tất cả đều
thấm đẫm thời gian và hy sinh. Cũng là nỗi đau đáu thương nhớ mẹ
trong mùa đông lạnh nơi quê nhà.
“Đông về lạnh mái nhà xưa/ Thương gầy bóng mẹ đong đưa liếp mành.”
(Thương mẹ- Nhạn Nhạn)
T́nh mẫu tử được ví với hương sen Tịnh Tâm “thơm ngát”, một “trời thương
nhớ thâm ân” (Hoàng Xuân Thảo), và đặc biệt tha thiết trong kư ức về lời
ru “à ơi” bên “bốn tao nôi” (Hạ Uyển). Những bài thơ về mẹ trong tập
không chỉ là lời riêng của từng tác giả, mà c̣n chạm đến kư ức chung của
nhiều thế hệ, nhất là trong không gian Huế - nơi đạo hiếu, t́nh thân
luôn được trân trọng. Những bài thơ này đă chạm đến mạch nguồn chung của
t́nh cảm bạn đọc dù viết trong cảm hứng Huế.
T́nh quê, t́nh đất nước- Chiều rộng của cảm hứng trong tập thơ. Bên cạnh
Huế, tập thơ c̣n mở rộng không gian về các làng quê, miền đất, từ Tam
Giang, Kim Long, Hạ Lang… Những địa danh hiện lên không chỉ như tên gọi,
mà như những mảnh hồn quê. T́nh quê trong thơ mộc mạc, chân phương, gắn
với ruộng đồng, bến nước, hàng tre, nhưng lại mang sức gợi lớn lao về
cội nguồn dân tộc.
“Về Miền Hương Ngự” không phải là một tập thơ t́m ṭi cách tân h́nh thức
hay phá vỡ cấu trúc truyền thống. Ngược lại, tập thơ đi theo ḍng thơ
trữ t́nh truyền thống, coi trọng cảm xúc, nhạc điệu, h́nh ảnh quen
thuộc. Nhưng chính sự “không cầu kỳ” ấy lại tạo nên giá trị giản dị mà
chạm vào ḷng người bằng sự chân thành.
Việc quy tụ đông đảo tác giả trong và ngoài nước cho thấy sức lan tỏa
của Huế như một miền văn hóa - tâm linh chung. Dù mỗi người một giọng,
một cách biểu đạt, nhưng tất cả đều gặp nhau ở điểm chung: t́nh yêu tha
thiết với con người, với cố đô, với những giá trị nhân văn sâu bền.
Có thể nói, “Về Miền Hương Ngự” là một cuộc trở về đầy ư nghĩa của thi
ca. Trở về với Huế với miền đất trầm mặc và thơ mộng, trở về với mẹ, với
t́nh yêu, với quê hương và rộng hơn, trở về với những ǵ tinh khiết nhất
trong tâm hồn con người.
“Về Miền Hương Ngự” là tác phẩm thứ 6- một thành công đáng ghi nhận của
Hội thơ xứ Huế. Tập thơ không chỉ là một món quà tinh thần dành cho
những người con xứ Huế, mà c̣n là một cánh cửa mở rộng, mời gọi bạn đọc
từ mọi nơi “về” để cảm nhận, để yêu thương và để thấu hiểu một vùng đất
giàu chất thơ và nhân văn. Nó như một bản giao hưởng đa thanh, nơi tiếng
ḷng của 109 tác giả ḥa quyện, tạo nên một khúc ca đẹp về Huế, về t́nh
mẹ, t́nh yêu và t́nh người. Qua những vần thơ ấy, Huế không chỉ là một
địa danh trên bản đồ, mà đă trở thành một không gian tâm tưởng, một điểm
tựa tinh thần, một miền kư ức đẹp đẽ mà ai đă một lần “về” th́ măi không
thể quên. Tập thơ xứng đáng là một dấu mốc ư nghĩa trong hành tŕnh lưu
giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa, tinh thần của cố đô Huế ra với
cộng đồng rộng lớn hơn.
Về mặt nghệ thuật có sự ḥa quyện giữa truyền thống và hiện đại, tuyển
tập cho thấy sự đa dạng trong cách thể hiện. Nhiều bài vẫn giữ cấu trúc
lục bát, song thất lục bát hay thơ bốn chữ, năm chữ truyền thống, tạo
nên âm hưởng nhẹ nhàng, sâu lắng, rất phù hợp với chất Huế. Ngôn ngữ thơ
phần lớn trong sáng, giàu h́nh ảnh và có tính biểu cảm cao. Các tác giả
khéo léo vận dụng những h́nh ảnh biểu trưng của Huế (sông Hương, núi
Ngự, hoa phượng, bóng mẹ, chiều tà…) để xây dựng một hệ thống biểu tượng
xuyên suốt, vừa quen thuộc vừa gợi cảm.
Bên cạnh đó, cũng có những t́m ṭi trong cách diễn đạt, đưa vào những
liên tưởng mới mẻ, cách nói của đời sống đương đại, tạo nên sự trẻ
trung, sinh động. Sự góp mặt của nhiều tác giả từ các vùng miền khác
nhau cũng mang đến những góc nh́n phong phú, khiến h́nh tượng Huế không
bị bó hẹp trong một khuôn mẫu cố định.
Cái chất “trầm mặc”, “buồn” vẫn là một nét phổ biến, tạo nên chiều sâu
tâm trạng cho tập thơ. Đó là “Huế buồn như câu thơ bỏ ngỏ” (Ngân Hà).
Cái trầm buồn thấm đẫm chất thơ, một nỗi niềm hoài vọng, một sự dịu
dàng, “cũng dịu dàng v́ có bóng em tôi” (Ngân Hà). Không gian ấy được
gọi tên qua những địa danh đă trở thành biểu tượng: sông Hương, núi Ngự,
thôn Vỹ, đồi Vọng Cảnh, Lăng Cô, hoàng thành... Mỗi địa danh gợi mở một
lớp lang cảm xúc: sự lắng đọng bên ḍng sông Hương, nỗi niềm hoài cổ nơi
lầu son gác tía, hay nỗi nhớ “âm thầm” của biển Lăng Cô. H́nh ảnh “Mặt
trời lặn phía sau đồi Vọng Cảnh / Hoàng hôn buông trong hư ảnh câu ḥ”
chính là một bức tranh tâm trạng điển h́nh, nơi thiên nhiên và ḷng
người ḥa làm một.
Tuy nhiên, bên cạnh vẻ trầm tư, Huế trong tập thơ này cũng rất sống
động, “xôn xao” và mời gọi. Giọng điệu chủ đạo là tiếng gọi thiết tha về
với Huế. Huế c̣n là nơi của những khoảnh khắc đời thường đẹp đẽ và ấm
áp: “Đón thu về ngơ phố xôn xao” (Ái Khanh), “Sáng nay Phượng đỏ vương
vương lối ṃn” (Nguyễn Hữu Tín).
Mùa hè của Huế đi vào thơ Văn Chung rất
tươi trẻ và yêu đời.
“Gửi Hạ nắng tháng Tư/ Nồng nàn và rực rỡ/ Bằng lăng hoa tím nở/ Phượng
hé nụ hồng phơi”.
H́nh ảnh Huế được cảm nhận qua những giác quan tinh
tế: vị ngọt thanh của “chén chè đông” có “cơn mưa ướt dầm nằm ở đó” hay
thanh âm “giọng Huế dịu êm”, “tiếng rao đêm” nhẹ nhàng . Cách tiếp cận
này khiến Huế không c̣n là một phông nền lịch sử xa xôi, mà là một không
gian sinh hoạt, một thực thể văn hóa có hơi thở, có hương vị, có âm
thanh, chạm được vào trái tim người đọc.
Tập thơ không chỉ dành cho những ai yêu Huế, mà cho tất cả những ai từng
có một miền thương nhớ để quay về. Trong nhịp sống hiện đại nhiều xao
động, “Về Miền Hương Ngự” giống như một khoảng lặng cần thiết, để người
đọc lắng nghe chính ḿnh, lắng nghe tiếng gọi âm thầm nhưng sâu lắng.
Đó chính là giá trị sâu xa mà tuyển thơ này mang lại cho đời sống văn
học và cho bạn đọc yêu thơ hôm nay.
Saigon, ngày 12/01/2026
Hoàng Thị Bích Hà
art2all. net
|