|
VỀ VỚI KINH BẮC QUA VĂN TRUYỆN CỦA TRẦN THANH CẢNH
Đất Kinh Bắc được biết đến là vùng đất của khoa bảng, của thi ca và quan họ. Bạn hẳn đă từng về “Bên Kia Sông Đuống” qua thơ của thi sĩ Hoàng Cầm, Nguyễn Phan Hách, và hơn một lần nghe nhạc phẩm Làng Quan Họ Quê Tôi: Thơ Nguyễn Phan Hách, nhạc Nguyễn Trọng Tạo. Về Bắc Ninh không chỉ để được đắm ḿnh với những làn quan họ ngọt ngào, huê t́nh… mà c̣n được hiểu thêm về t́nh đất, t́nh người qua văn truyện của nhà văn Trần Thanh Cảnh. Ở đó có hiện thực cuộc sống trong thời kỳ chuyển ḿnh đổi mới của một vùng Kinh Bắc qua ng̣i bút tả chân sắc nét, thoáng chút trào lộng, dí dỏm của Trần Thanh Cảnh. Ông được mệnh danh là “Người Kể Chuyện Kinh Bắc”
Các tác phẩm đă xuất bản: Kỳ nhân làng Ngọc, Mỹ nhân làng Ngọc, Quái Nhân Làng Ngọc, Đại Gia, Chân Nhân và Đức Thánh Trần,… Trong các tác phẩm của TTC giàu chất hiện thực và đẫm hơi thở cuộc sống đương đại. Các nhân vật trong truyện đều có trong nguyên mẫu ngoài đời, qua góc nh́n của ông, dĩ nhiên ít nhiều có hư cấu để tăng tính nghệ thuật trong văn chương. Người đọc thấy nhân vật sinh động và rất quen, có thể gặp họ ở đâu đó ngoài đời, ở trên tất cả mọi làng quê Việt Nam chứ không riêng ǵ Kinh Bắc. Bởi v́ làng quê ở Kinh Bắc cũng điển h́nh tương tự như cảnh và người ở những làng quê khác. Tuy nhiên, tên người, tên làng, ông có thể sáng tạo ra những danh xưng khác. Đó là những chuyện đời, chuyện người theo phong cách tả chân và có chút ảnh hưởng của phóng sự văn chương để phản chiếu cuộc sống. Những tác phẩm của Trần Thanh Cảnh thể hiện ng̣i bút có năng khiếu thiên bẩm. Bởi v́ ông là dân dược, dĩ nhiên không đi sâu vào chuyên môn viết lách nhưng ông vẫn viết hay như thường. Có lẽ cùng với thú “gặm sách”. Đó là những người thầy ḿnh tự chọn với vốn sống được tích lũy, và “cháy hết ḿnh” với lao động nghệ thuật, ông mới viết được những câu chuyện thú vị, những tác phẩm hấp dẫn người đọc như thế! Các truyện ngắn của TTC lấy chất liệu cuộc sống. Từ cuộc sống đi vào tác phẩm qua cảm quan nghệ thuật của nhà văn là hiện thực rất đời được chọn lọc, chưng cất rồi truyền vào đó tư tưởng thẫm mỹ, tác giả đă gửi gắm nhiều thông điệp. Người đọc, ngẫm ngợi, suy tư sau mỗi câu chuyện, mỗi t́nh huống và mỗi nhân vật. Khi làng quê Kinh Bắc chuyển ḿnh đổi mới theo hướng kinh tế thị trường, nhịp sống trở nên hối hả hơn. Về vấn đề nông thôn mới có những giá trị truyền thống đă bị mai một. Những nét đẹp làng quê như cảnh vật: cây đa, bến nước, sân đ́nh được thay bằng những ngôi nhà bê tông nhiều tầng san sát,… Những làng nghề truyền thống bị thu hẹp do phải chuyển đổi để mưu sinh (Truyện Mặt Ma).Tùy thị hiếu khách hàng. Ngày xưa, tết đến nhà nhà đều mua tranh Đông Hồ như tranh hội làng, vinh quy bái tổ, tranh tứ quư (Tố nữ, bốn mùa, mai- lan- cúc- trúc) về treo cho vui cửa vui nhà th́ nay nhu cầu đă giảm do thị hiếu khác xưa đi ít nhiều. Làng tranh đông Hồ nhiều người chuyển đổi sang làm mặt ma, giấy tiền vàng âm phủ. Nhưng may thay vẫn c̣n người tâm huyết với nghề gia truyền đă xây dựng nhà bảo tồn, sản xuất, giới thiệu tranh phục vụ du khách trong nước và quốc tế. Cuộc sống êm đềm nơi làng quê có niềm vui, nỗi buồn pha lẫn tiếc nuối phôi phai các tập tục truyền thống văn hóa. Cũng v́ tiền trong thời buổi kính tế thị trường mà có những con người không giữ nổi ḿnh mà tha hóa nhân cách. (Truyện Mỹ Nhân Làng Ngọc) Những câu chuyện tác giả ở vị trí khách quan để kể bằng ngôn từ b́nh dị, gần gũi đời thường của vùng Bắc Bộ. Ông trăn trở trước những cái được và mất của làng quê khi chuyển ḿnh sang trang. Ông quan sát và so sánh sự mất mát của làng này, và tự hào vẻ đẹp vẫn c̣n nguyên bản của làng kia trên vùng Kinh Bắc quê ông. “Bên làng Ngọc, hầu như không c̣n tồn tại chút ǵ của “Làng”, theo nghĩa xưa. Đứng ngoài nh́n vào, thấy toàn nhà cao tầng, bê tông lô nhô xám xịt. Cả làng không c̣n một cây tre nào, mà thay vào đó, mỗi nhà có một vài thứ cây thời thượng của cánh nhà giàu mới nổi”. “Bên làng Ao Xá, lại khác hẳn…Trong làng vẫn là những cây trái xum xuê: mít, bưởi, xoan…, phủ bóng lên mái nhà cũ kĩ xám nâu. Từ xa xưa đến nay, những ngôi làng ở nước Việt đă là một thực thể văn hoá, kinh tế, chính trị rất kỳ lạ. H́nh như không có ở nơi đâu trên trái đất này lại tồn tại một cộng đồng những ngôi làng như ở nước ta.” Những đổi thay trong quá tŕnh đô thị hóa nông thôn, không tránh khỏi những mất mát đáng tiếc. Và những toan tính vụ lợi của một số nhân vật có chức, có quyền đă góp phần làm nghèo đi đất nước. Giọng kể có phần hài hước nhưng sau mỗi t́nh tiết hóm hỉnh là nỗi đau đời, trăn trở trước những mặt trái của xă hội Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ xin dừng lại kỹ hơn ở truyện ngắn Giáo Sư Kê của ông. TTC khắc họa chân dung những kẻ hănh tiến, xuất thân hạ đẳng, thuộc thành phần cuối của xă hội phong kiến như làm mơ để sai vặt và dọn cỗ. Thời thế đổi thay, lư lịch ấy cho cha con ông Khánh mấy đời cứ thế mà “phất”. Dĩ nhiên tính tham lam truyền đời, lươn lẹo toan tính cha con ông leo lên chức tước địa vị trong xă hội, tạo thành ổ tham nhũng có tổ chức để đục khoét ngân sách và tư lợi từ đời cha đến đời con và sang đời cháu. Mỗi thế hệ có cấp độ cao hơn về cả chức quyền và lượng tham nhũng. Có ai đó đă từng nói: “Hậu duệ làm lănh đạo là hồng phúc của dân tộc”. Hồng phúc ở đâu chứ trường hợp trong truyện Giáo sư Kê là một lũ bất tài, giá áo túi cơm. Mơ Khánh leo lên danh vọng đứng đầu tỉnh với những cái bằng bổ túc măi mới xong cấp ba. Đến thằng Kế (con Mơ Khánh) th́ chi tiết hài hước lúc nhỏ cũng báo trước một phần tính cách sát gái sau này của gă. Đi qua Nga chủ yếu là đi buôn cũng kiếm về mảnh bằng phó Tiến sĩ rồi leo lên chức viện trưởng viện hàn lâm súc sản, đến đời cháu th́ nó c̣n leo tuốt vào nhà trắng, nhà đỏ cao hơn cha ông nó nữa cơ! Trở lại chuyện cu Kê sau này là giáo sư Kê, gs Gà. Khi là sếp GS, TS Giang Đ́nh Kê “luộc” các nữ nhân viên dưới quyền dễ như gà trống đạp mái. “Giáo sư Kê bất giác cười thầm. V́, ngài tự liên hệ, thấy ḿnh cũng hơi giống con gà trống. Ngày c̣n đương chức viện trưởng, ngài cũng hay tốc váy em thư kí, đè ngửa vào cạnh bàn làm luôn một nháy. Nhưng lát sau, sang pḥng em kế toán trưởng, nh́n cặp chân trần trắng muốt của em, tḥ ra khỏi cái váy ngắn cũn, cứ ngó ngoáy, ngó ngoáy. Ngài lại nổi hứng, tốc váy em nó lên, đè sấp vào bàn, làm nháy nữa”. Khi “Về hưu rồi, nhưng cái thằng em nhỏ của ngài vẫn sung lắm, nên ngài vẫn phải kết bạn với một em ngoài phố để lấy chỗ đi lại”. “chim hoa cá gái”. Rồi GS Kê lại nghĩ ra kế để moi tiền nhà nước bằng đề tài vớ vẩn, kết hợp với nhà “nghiên cứu văn hóa nhớn” cũng vớ vẩn không kém. Đọc truyện cổ xong lại gán cho con gà đủ thứ danh hảo, ḷe những chức dịch sân đ́nh và cư dân làng Ao Xá chân chất hiền như hạt lúa củ khoai. Trần Thanh Cảnh xây dựng nhân vật có tính khái quát, điển h́nh. Nhân vật này, câu chuyện này tác giả kể trong không gian ở làng Ngọc, làng Ao Xá,…loanh quanh vùng Kinh Bắc. Nhưng người đọc lại bắt gặp loại nhân vật này không hiếm. Chúng có mặt khắp nơi, trên nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Nhà văn châm biếm những kẻ như Giang Đ́nh Kê chỉ với lực học tầm thường nhưng hănh tiến (thành phần con ông cháu cha) do bố mẹ có chức có quyền, xin được vào làm viện nghiên cứu cây con, rồi hàn lâm súc sản ǵ đó. Giao cho đề tài nào, nghiên cứu ǵ cũng thất bại tốn tiền của nhân dân mà không đem ra ứng dụng được. Có những đề tài vớ vẩn buồn cười như “ngỗng và thiên nga làm t́nh th́ khác nhau thế nào?”. Bày tṛ để đốt tiền nhà nước vào các “dự án” vô bổ. Chạy xin đi Nga để du học, qua bên đó thực chất là đi buôn. Chứ có hiểu ǵ đâu mà học, mà học có vào đâu! Đi buôn chán rồi về nước cũng có bằng Phó tiến sĩ như ai. (Sau này về nước một thời gian được hợp thức hóa thành tiến sĩ cho hợp với tiến tŕnh hội nhập.) “Vào giảng đường nghe các giáo sư Nga giảng, như vịt nghe sấm. Nản quá, đang định tính mua vé về nước. Th́ gặp ngay được mấy đại ca sang trước, bày vẽ cho: “Chú mày ngu lắm, đă sang được đến đây rồi th́ làm đéo ǵ mà phải về. Kiểu ǵ cũng phải có mảnh bằng đút đít. Không học được th́ nhờ anh Vodka nó học cho. Chú cứ theo bọn anh đi buôn áo bay, bàn là, xe cuốc, quần ḅ mà kiếm tiền. Lâu lâu vác một két Vodka đến nhà mấy ông giáo sư Nga tŕnh bày, rồi v́ t́nh hữu nghị, các ông ấy cho qua hết”. Chủ tịch Tỉnh Khánh có sẵn cái gen truyền đời là “tham như mơ”. Tư duy cán bộ nông thôn thời bấy giờ ông định hướng cho con: “Mày ngu lắm con ạ, nước ta bây giờ, nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, học trường ấy ra mới có nhiều cơ hội phát triển. Mày học Tổng hợp Văn để định đọc thơ văn trừ bữa hay đi cạo giấy mà ăn à?”. Con cái của “thành phần cơ bản” có đi học được đại học nông nghiệp, Khi vào viện công tác, lộ rơ sự bất tài, không nghiên cứu được ǵ. Giáo sư Kê chỉ vẽ ra các dự án trời ơi đất hỡi, xàm xí moi tiền nhà nước cũng là tiền thuế của dân. Nhưng vẫn thăng tiến đều đều. Trong thời gian công tác chỉ lo chuyện vẽ dự án, gái gú và đấu đá để tranh ghế. Ông lên chức viện phó rồi viện trưởng. Năm tháng trôi đi, không ai cưỡng lại được thời gian. Già th́ cũng phải về hưu. Luật này không tránh được. Thế là khi về hưu lại GS Kê lần nữa làm hại cơ quan, làm hại đất nước khi đề bạt đứa nhân viên rửa ống nghiệm lên chỉ huy lănh đạo viện nghiên cứu hàn lâm…Đứa kế nhiệm, cũng ngu dốt, cũng gái gú và tham nhũng không khác ǵ sếp tiền nhiệm. Dĩ nhiên về phần nịnh th́ nó “giỏi” không ai bằng. “Tay viện trưởng kế nhiệm ngài, vốn là một thằng nhân viên rửa ống nghiệm trong la bô. Nghe thầy cũ xin kinh phí tài trợ nghiên cứu về giống gà nổi tiếng, thầy lại bỏ nhỏ là: “Tao cắt lại cho riêng mày hai mươi phần trăm”, hắn kí cái xoẹt!” Về hưu vẫn chưa yên với ông, GS Kê lại tiếp tục tàn phá đất nước bằng cách nghĩ ra dự án ba xàm như tôn vinh loại gà nhiều thịt lên mức thánh thần huyền bí. “ngài coi đây là công tŕnh để đời của ḿnh. Khi c̣n công tác, ngài mải đấu đá để lên chức lên quyền. Có chức có quyền rồi, th́ ngài c̣n bận đi xin phê duyệt các“dự án nghiên cứu”. Sau đó tổ chức thực hiện, sao cho tiêu hết tiền nhà nước cấp một cách gọn ghẽ. Về hưu có thời gian ngẫm ngợi, ngài điểm lại thấy thật ra ḿnh có danh nhưng chả có sự nghiệp ǵ cả. Mang tiếng là giáo sư tiến sĩ, viện trưởng nghiên cứu. Nhưng cả đời, chả để lại được một cái tác phẩm ǵ cho ra hồn”. Gs Kê bày tṛ vớ vẩn, ấu trĩ và tự lừa ḿnh là “dự án để đời”. Để vừa có tiền xây nhà cho gái gú vừa lừa bịp chức sắc và dân làng thuần nông hiền lành, dễ tin người v́ lớp vỏ hào nhoáng nhưng rỗng trí tuệ của ngài GS tiến sĩ Kế thành Kê và cuối cùng là giáo sư Gà. Ông cũng tự ví ḿnh không khác ǵ con gà trống. Cũng đạp mái không mệt mỏi, đầu óc không hơn ǵ gà. “Càng ngắm đàn gà làng Ao Xá, Giáo sư Kê càng thấy hay. Với “chuyên môn sâu” của ḿnh, ngài giáo sư nhận thấy gà Ao Xá có rất nhiều ưu điểm vượt trội, đặc biệt là khả năng đạp mái của bọn gà trống th́ vô song”. Nh́n tục thờ gà làng ấy có giống gà ngon, nặng kư, người ta làm tượng gà bằng đất sét trộn mùn cưa để thờ trong đ́nh, lưu giữ h́nh ảnh giống gà quư của làng. Vậy mà về cứ suy nghĩ và thán phục vẻ đẹp của con gà trống, nh́n chúng đạp mái vô tư với mấy con gà mái, GS lại liên tưởng giống ḿnh quá. Nhiều chi tiết hài hước như: người dân làng Ao Xá sau này thấy “hậu duệ ngài Kê” tức là giữa đường gặp con gà, cũng nhường bước cho nó đi rồi mới đi, để tỏ ḷng tôn kính, ngài Kê từng giúp An Dương Vương xây thành cổ loa. Theo như hai tay “trí thức nhớn” nói thế, họ kết hợp với nhau để lừa đảo dân. Vẽ ra dự án“Công tŕnh nghiên cứu và phát huy giá trị kinh tế, văn hoá, tâm linh của gà Ao”. Rồi cũng tổ chức cúng tế hoành tráng, mời đài báo về tác hợp quảng cáo rầm rộ và dĩ nhiên là kèm theo phong bao, phong b́ vô tội vạ thật xót cho tiền của của nhà nước của nhân dân vào những tṛ vô bổ. Rồi việc GS Kê và nhà văn hóa lớn vào nhà nghỉ Hương Nhài để giao huấn các em nhân viên một buổi chiều về “văn hóa gà” và “kê giao”, sau khi đă nhậu món cường dương là Kê Cân. Đó là những chi tiết hài, nhưng bi. Cười mà đau mà thấm lắm! Một lũ ăn tàn phá hoại đất nước như Giáo sư Gà và nhà văn hóa nhớn kia với tṛ lố bịch hủ lậu, dốt nát và hănh tiến. Luôn t́m cách để tham nhũng. Những việc này, dân có biết không? Biết! Thông qua mẫu đối thoại này: “Có mấy tay quen thói châm chọc c̣n bảo, thằng cha ấy rồ, thừa thời gian không biết làm ǵ, lại đi sang cái làng âm lịch ấy nghiên cứu cái tṛ vớ vẩn, thi gà với cả chọi gà. Nhưng có mấy tay ra vẻ hiểu đời th́ nói: “Các ông toàn loại ngu lâu khó đào tạo. Không biết cái đinh là ǵ. Cái tay “gà sống thiến sót” Giang Đ́nh Kê làng ḿnh, sang bên đó, khuấy nước để kiếm cá đấy, khá lắm!”. Như vậy dân thấy và dân biết. Có những việc chỉ lừa được một số người nhưng không qua mặt được cả thiên hạ. Câu chuyện GS Kê là hồi chuông báo động cho sự tuyển dụng nhân sự, không minh bạch, không căn cứ vào tài năng thực sự mà dựa vào” “quan hệ và tiền tệ”. Để cho những “thành phần cơ bản” ấy khi đă có trong tay chức quyền th́ nhân cách là chuyện nhỏ, lợi nhuận mới là chuyện lớn. Nếu muốn đất nước ngày càng thịnh vượng, dân giàu nước mạnh th́ cần loại bỏ những loại người vô dụng bất tài và tham nhũng để chiêu hiền đăi sĩ, trân trọng người tài. Kết thúc câu chuyện với âm ê hài hước. kê..ê.e và cuối cùng là Mê..ê.ê (như u mê) và như một lời dè bỉu, lêu lêu…mặt xấu mà trẻ con hay giỡn với nhau. Từ truyện ngắn Giáo sư Kê, sau này ông viết tiếp thành là một tiểu thuyết lôi cuốn đầy chất hiện thực và trào lộng sắc bén. Nhẹ nhàng sâu cay và thấm thía. Lũ quan chức trong truyện, mất nhân cách dù học hàm học vị đầy ḿnh nhưng dốt nát, bất tài và hănh tiến nhưng lại đi rao giảng đạo đức và cho chữ,… Những kẻ ăn tàn phá hại đất nước, kết hợp với nhau để tham nhũng đục khoét tiền của của nhân dân. Đó cũng là những băng nhóm tội phạm có tổ chức. Ngồi xổm lên pháp luật, coi thường kỷ cương phép nước, làm mất ḷng tin của nhân dân. Những con sâu tàn phá xă hội có hại cho đất nước. Hiện thực cuộc sống, ai cũng có thể nh́n thấy và bắt gặp nhưng đưa họ vào trang viết để người đọc có dịp nh́n rơ hơn th́ phải qua cảm quan của người sáng tạo. Trời phú cho nhà văn sự nhạy cảm, óc quan sát tinh tế, cùng với đam mê và trách nhiệm công dân với cộng đồng, với xă hội và cao hơn nữa là với dân tộc, với đất nước. Truyện ngắn của ông vừa có tính trữ t́nh và tự sự. Trong truyện ngồn ngộn hiện thực cuộc sống đương đại thông qua lăng kính của nhà văn. Người có óc hài hước đă đem vào trang văn tính trào phúng nhẹ nhàng. Truyện cũng rất có chất thơ, chất trữ t́nh ở những đoạn ông tả về vẻ đẹp làng quê. Ông thể hiện t́nh yêu quê hương qua những đoạn văn miêu tả vẻ đẹp của làng quê: “Cánh đồng lúa đang chuẩn bị vào vụ gặt, rực một màu vàng tươi trong nắng sớm. Những làn hơi sương lập lờ, lan man, bồng bềnh trong không gian tinh khiết của buổi sáng. Hương thơm của lúa chín tràn ngập mọi nơi, ấm áp và thanh b́nh”. TTC cũng thể hiện được dân tộc tính trong xây dựng nhân vật, qua hành động và ngôn ngữ. Ông xây dựng cốt truyện không cần nhiều kịch tính. T́nh tiết cũng không đi đến những xung đột cao trào hay giằng xé tâm can, nó cứ theo tŕnh tự logic của cuộc sống vốn có. Diễn biến câu chuyện phù hợp với diễn biến tâm lư nhân vật. Ông đă đi sâu vào đời sống xă hội nơi ông sống, những góc khuất của làng quê, của con phố để quan sát, miêu tả những số phận, những con người, nói lên tiếng nói của họ, thông cảm yêu thương những con người chính nghĩa bao nhiêu, ông lại chỉa ng̣i bút vào châm chọc những nhân vật phản diện. (ông đứng ở vị trí khách quan để tạo dựng chuyện, không gay gắt lên án, không phán xét. Có lẽ điều đó ông để dành phần cho độc giả). Chỉ ra mặt trái của xă hội, mặt trái của vùng quê trong cơn lốc của kinh tế thị trường với mong muốn bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống của quê hương và cao hơn nữa là mong muốn xă hội ngày càng tốt đẹp hơn! Nhà văn Trần Thanh Cảnh từng là người lính trên mặt trận chống chiến tranh biên giới 1979. Ông vào đời bằng ngành khoa học không liên quan đến văn chương. Ông cũng từng thành đạt trong lĩnh vực chuyên môn mà ông được đào tạo. Những lúc cực thịnh, gia đ́nh ông có cả nhà máy chế biến thuốc và chuỗi cửa hàng kinh doanh dược phẩm. Nhưng thực tế thương trường như chiến trường, thăng có, trầm có phải chấp nhận và đối diện. Khi gặp lúc “trầm” ông t́m một sở thích không liên quan đến tiền bạc tính toán mệt mỏi và thế là đến với văn chương như một cái duyên. Nhưng không phải cứ muốn là được mà sự viết đó được nuôi dưỡng, tích lũy thời gian dài, có khi hàng chục năm, đến nửa đời người hoặc hơn thế. Đến độ chín mới bật ra, dàn trải lên tác phẩm bằng bút pháp tả chân- trữ t́nh. Qua thủ pháp tạo dựng truyện, thế giới nhân vật của TTC như những h́nh tượng thực ngoài đời, người đọc cảm thấy nhân vật rất quen, như đă gặp. Hiện thực đời sống, qua bút pháp trữ t́nh làm cho hiện thực đó vốn chân thực sẽ càng chân thực hơn, đời hơn. Cùng với óc quan sát nhạy bén, tinh tế, có chút hóm hỉnh khiến câu chuyện ông kể rất có duyên. Nó nhẹ, sâu cay mà thấm thía. Mỗi nhà văn đều có góc nh́n riêng, cách chuyển tải ư tưởng bằng phương pháp nghệ thuật riêng song đều hướng đến con người và xă hội. Ông nói “Văn chương của tôi phần nhiều dựa trên sự trải nghiệm, những chất liệu có từ cuộc đời tôi và những quan sát chiêm nghiệm mà tôi cóp nhặt được hơn nửa thế kỷ có mặt trên cuộc đời để xây dựng tác phẩm”. Có thể nói, tôi là người sống cùng thời với ông, (tôi chỉ kém ông vài tuổi, ví như nếu học chung trường th́ trạc tuổi ông ở lớp cuối cấp, tôi vào lớp đầu cấp, mặc dù tôi chưa được gặp ông bao giờ) nên tôi cảm nhận những điều ông viết là thật, thật hơn cả sự thật ngoài đời. Tất nhiên sự thật nào cũng lọc qua lăng kính của người viết. Cùng một sự thật ấy nhưng góc nh́n người này lại sẽ khác với người kia và như thế mỗi sự vật hiện tượng khi được nâng lên tầm nghệ thuật th́ mỗi người sẽ có một “sự thật” rất riêng. Khi tiếp cận với văn bản, từ văn truyện của ông, thông qua cách kể, cách viết, đối thoại, diễn biến tâm lư của nhân vật trong truyện chúng tôi trong tư cách người đọc cũng hiểu về con người, không gian sáng tác và nhân sinh quan của tác giả. Thông qua lớp ngôn ngữ chúng ta thấy tư tưởng của người viết. Nó cũng cho thấy môi trường sống mà tác giả đă tạo dựng. Từ văn phong, ngôn ngữ, hành động suy nghĩ nội tâm của nhân vật đến cách xây dựng cốt truyện, mối quan hệ xă hội của các nhân vật trong truyện cho thấy nhà văn rất quan tâm đến đời sống xă hội, có t́nh yêu quê hương tha thiết và rất có trách nhiệm của người cầm bút, dù ông bước vào văn đàn chưa lâu. Nhưng điều đó không hề ǵ. Đến sớm hay muộn, không phải là yếu tố quyết định chất lượng tác phẩm. Thế giới h́nh tượng thông qua bộ lọc của nhà văn và ngôn từ, nhà văn chọn h́nh thức phù hợp để xây dựng tác phẩm. Văn bản biểu đạt bằng ngôn từ và nội dung tác phẩm chính là những ẩn ức của nhà văn khiến người đọc suy tư, trăn trở về nội dung văn bản và những lớp nghĩa trong đó sau khi đọc xong một văn truyện. Đọc tác phẩm của ông, tôi tự hỏi Nếu Trần Thanh Cảnh không gặp thăng trầm trong công việc kinh doanh th́ không biết ông có rẽ lối sang văn chương hay không? Nếu là không th́ thật tiếc một tài năng văn chương không được khai mở. Và nếu không th́ sẽ khuyết đi một cây bút kể chuyện Kinh Bắc theo phong cách Trần Thanh Cảnh. Văn chương là nghệ thuật ngôn từ. Do vậy qua ngôn ngữ Trần Thanh Cảnh đă tạo lập cho ḿnh một phong cách rất riêng của người kể chuyện Kinh Bắc. Văn phong câu chữ của ông không mỉa mai cay độc như bậc thầy hiện thực trào phúng Vơ Trọng Phụng, không nhẹ nhàng êm ái như phong cách Thạch Lam, không cay đắng nghẹn ngào đầy tính triết luận như Nam Cao và cũng không lạnh lùng kiêu bạc như Nguyễn Tuân. Nhưng Trần Thanh Cảnh ít nhiều có ảnh hưởng bút pháp của các bậc tiền bối trên văn đàn. Ông nói rằng: ông viết là do sự thúc bách ở bên trong, viết như là sự trả nợ mà trả nợ ǵ, trả cho ai th́ ông không biết. Chỉ biết rằng, sau khi viết ra một tác phẩm th́ ông cảm thấy nhẹ ḷng. Đó là lư do ông đến với văn chương. Những điều ông nhận thấy, trăn trở và viết ra để giải bày th́ cho thấy cái sự viết c̣n là trách nhiệm công dân của người cầm bút với cuộc đời. C̣n tôi trong vai tṛ người đọc, tác phẩm của ông đă đem đến cho tôi nhiều cảm hứng để tôi cầm bút ghi lại đôi ḍng nhận định của ḿnh cũng là do ḷng yêu thích văn chương và sự thôi thúc văn chương thuần túy ở bên trong. Đó cũng là sự “gặp gỡ” đồng cảm giữa độc giả và tác phẩm văn học. Tôi nhận thấy văn truyện của Trần Thanh Cảnh là những tác phẩm có giá trị bởi v́ nó tiềm ẩn “cái đẹp” vẻ đẹp về nội dung và nghệ thuật cần khám khá. Thế nào là cái đẹp th́ theo Socrate “cái đẹp là cái bổ ích”. Những ư kiến của tôi, có nhận được sự đồng t́nh hay cũng có thể có bạn chưa đồng t́nh. Dù sao th́ đây cũng chỉ là góc nh́n của cá nhân tôi. Chỉ cần bạn bỏ chút thời gian đọc đến đây th́ tôi đă biết ơn bạn rồi! Dù chê hay khen. Có thể ai đó sẽ nói rằng: Viết nhận định lẽ ra phải khai thác cái hay, cái dở của tác phẩm. Sao chỉ toàn nghe khen không vậy? Phận sự tôi chỉ khai thác cái hay của tác phẩm c̣n cái chưa hay, tùy bạn đọc. Từ cái hay sẽ đối chiếu t́m ra cái dở (nếu có) và tùy sở thích mỗi người. Nhưng rơ ràng các tác phẩm của TTC đă tạo được tên tuổi trong văn đàn đương đại. Xin chúc nhà văn Trần Thanh Cảnh sức khỏe, hạnh phúc và luôn thành công! Độc giả chúng ta tiếp tục chờ đợi những tác phẩm mới của ông trong thời gian tới!
Sài G̣n, ngày 20/9/2023
Hoàng Thị Bích Hà
|