Kim Hài

 

HÃY TIN YÊU CUỘC SỐNG

 



         
Tư Giang Hồ. Người ta gọi tên chị là vậy. Cái tên mới nghe qua khiến mọi người đều tưởng tượng đến biệt danh của những kẻ hoặc lừng lẫy trong chốn giang hồ, hoặc là kẻ suốt đời bôn ba rày đây mai đó. Lạ thay, cái tên ấy cột chặt vào cuộc đời của một phụ nữ hiền lành, phụ bán cà phê cho một cái quán nhỏ xíu nơi góc đường và do chính chị tự đặt cho mình. Giang Hồ chỉ là một cái tên gợi nhớ về một nơi chốn thân yêu mà chị đã bỏ ra đi từ năm 16 tuổi. Một cái hồ vô danh, bé nhỏ, bờ bên nầy nhìn thấy bờ bên kia rõ mồn một. Vậy mà gia đình chị vẫn không thể bước lên bờ để thỏa mãn nỗi khát khao đất liền của một cô bé. Họ sống trong một căn nhà nổi giữa hồ để chăn nuôi bè cá, nguồn sinh sống duy nhất của gia đình. Đã bao nhiêu lần, từ trên nhà bè, chị nhìn những rặng cây xanh ngắt chập chùng dọc theo hai bên bờ, nhìn những sợi giây điện băng ngang qua hồ, đeo mình trên những hàng cột sắt, cách khỏang, nối nhau xa tít tắp. Và trên cao hơn, những đám mây dập dồn trôi, đua tài với những chiếc máy bay hướng đến cuối chân trời, để rơi lại tiếng u u ầm ầm như lòng hồ vào những đêm nhiều gió. Sau những rặng cây đó là cái gì? Những đường giây, những đám mây, những chiếc máy bay đó sẽ đi đến tận nơi đâu? Những câu hỏi tò mò đầy ắp trong đầu đứa trẻ chị, rồi dần dà, biến thành nỗi ước ao cháy bỏng muốn được biết, được hiểu.

Năm chị lên mười, một hôm không nén nổi lòng, chị cởi áo quấn ngang đầu bơi vào bờ.Chưa qua hết hai căn nhà bè hàng xóm, chân chị vướng giây lưới ai thả. Chị vùng vẫy, kêu la. Càng vùng vẫy chị càng bị lưới cuốn. Chị không thể nào quên được cái cảm giác bị trói chân trói tay trong mảng lưới mềm mại chìm dần xuống tận đáy. Trước khi ngất đi, chị vẫn nhìn thấy rất rõ những con cá trong bè lưới sắt giương mắt nhìn chị thản nhiên. Số chị vẫn còn đỏ. Một đứa bé trai nhà cạnh nhìn thấy chị vướng lưới kêu cứu, và chị đã được cứu. Khi mạnh khỏe hẳn, chị kết bạn với cậu bé hàng xóm đó: Hải. Có Hải, chị ít khi nhìn về phía bờ hoặc ngước mắt nhìn trời. Hình như chưa ai có nhiều trò chơi như Hải. Hôm nào nó cũng bơi sang bè nhà chị cùng chơi một trò gì đó.

Tài gấp thuyền, gấp phi cơ của Hải là vô địch. Hải thường dùng những tấm lịch tờ, xếp những chiếc thuyền to đùng để chở rong rêu hoặc những con cá bé tí mà chúng vớt hoặc câu được. Đôi khi, Hải dựng lên những căn nhà bằng thùng mì ăn liền, trang trí lên những sợi rong, những mảnh giấy hoa tìm được đâu đó . Có lần Hải chừa một căn phòng rộng nhất, dán nhiều giấy hoa nhất và nói đó là phòng của Tư:

-Vậy Hải ở đâu?

Chị ngây thơ hỏi. Hải mải cắt hình, trả lời mà không nhìn chị:

-Tư ở đâu là Hải ở đó!

Một chút xao xuyến khiến má chị ửng hồng. Cô bé 13 tuổi trong chị đã đón nhận tình cảm của người bạn khác phái tự nhiên như cây cỏ.

Nhưng cũng từ đó,các trò chơi giảm dần. Hải đã trở thành một thanh niên cường tráng. Hải phải làm việc nhiều hơn, giúp đỡ bố mẹ nhiều hơn, chăm lo cho bè cá. Chị cũng phải thay mẹ nấu nướng giặt giũ. Nhưng lúc rảnh rỗi, những đêm trăng sáng, hai đứa ngồi ở đầu hai nhà, thỏng chân nhìn nhau, vu vơ những câu chuyện nhẹ nhàng, pha chút trìu mến.

Bỗng một ngày mùa thu, cuối mùa cá. Hải bơi sang bè nhà chị và cứ ngồi vậy, kiên nhẫn chờ chị giặt xong chậu quần áo.

- Tư à, ngày mai nhà Hải dời bè đi rồi.

Chuyện nhà bè đổi chỗ sau mùa cá là chuyện tự nhiên. Nhưng đối với chị lại là điều bất ngờ. Chị giật mình thả rơi cái áo xuống, ngơ ngác hỏi:

- Tại sao dời đi? Đi đâu?

Xuống cuối hồ. Mùa vừa rồi, nhà Hải cá thất, bán không đủ trả nợ tiền thức ăn cho cá. Phải dời thôi! 

Chị bắt đầu nhớ lại thực tế hiển nhiên. Nhà chị cũng vậy. Rồi cũng dời bè cá đi, nhưng hể dời bè là rả làng. Mỗi nhà sẽ kiếm một chỗ mà họ cho là tốt nhất. Nước mắt chị rơi từng giọt xuống thau giặt tí tách đùng đục.

-Tư chờ Hải chớ? Rồi mình sẽ gặp lại nhau mà. Cũng trên hồ này thôi chớ xa xôi gì. Tư đừng khóc nữa. Vài năm nữa, bè lại hợp. Chừng đó Tư lớn rồi, thành thiếu nữ rồi. Hải… Hải… xin ba má cưới Tư làm vợ… Chờ Hải nhen…

Hải nói một hơi rồi nhảy cái ùm xuống hồ, bơi về bè nhà mình.
Chị ngơ ngác nhìn theo, không kịp nói tiếng nào. Mãi đến khi sực nghĩ ra, nhìn xung quanh, vắng bóng người, chị mới cảm thấy buồn, một nổi buồn mà chị chưa bao giờ biết, chưa bao giờ có. 

Buổi sáng hôm sau, vừa bước ra khỏi cửa,chị có cảm giác khang khác. Một khoảng trống mênh mông, một mảnh hồ lăn tăn. Chị chạy ra sau, chị chạy ra trước, hai bên. Bè nhà Hải đã ra đi tự lúc nào không biết. Chị dõi mắt về phía cuối hồ, những bè cá lô nhô, nhưng bè nào có Hải?

Rồi bè nhà chị cũng đổi chỗ ngược lên đầu hồ. Khoảng cách càng xa càng mênh mông. Bây giờ, chị có thói quen ngồi bó gối nhìn xuôi xuống. Mưa bão mùa Đông vùi dập những cư dân sống trên làng bè. Những con sóng dập dềnh đã bó chị sâu trong căn nhà lạnh. Qua cửa sổ nhỏ, chị lại nhìn thấy một bên bờ với những hàng cây, với đường giây điện cao thế vắt ngang, với những đụn mây bay rất nhanh về phía cuối trời. Nỗi khát khao ngày xưa trở lại, nguyên vẹn và còn sâu hơn nữa bởi sự căm ghét vô cùng kiếp sống lênh đênh vô định trên bè cá.

Mùa Xuân rồi mùa Xuân nữa lại đến. Chị tròn mười sáu tuổi. Mặt hồ đã im sóng dữ, hiền hòa, tĩnh lặng. Chị đã lớn và biết cách rời bỏ bè cá an tòan…

Chị hăm hở gia nhập vào đội quân nhập cư của thành phố, chấp nhận hòa nhập với cuộc sống đầy bất trắc, đầy hứa hẹn cả hai mặt tốt và xấu.

Nhưng có lẽ nhờ chị vẫn còn nguyên sự chân chất hồn nhiên của một cô gái chưa từng bị thói xa hoa lây nhiễm nên chị đã giữ được mình. Hoặc nhẽ chị gặp may. Khi chị vét hết đồng bạc cuối cùng để mua nửa ổ bánh mì khô khốc, rồi gục mặt vào ca nước lạnh của người bán vé số thương tật tốt bụng. Hình ảnh chị lọt vào mắt đôi vợ chồng già, chủ quán cà phê nhỏ xíu bình dân ở xế góc đường. Từ đó, chị phụ họ bán cà phê, an định cuộc sống, dù tâm trí chị vẫn còn chóang váng bởi sự đổi thay lạ lùng của số phận mình. Đôi vợ chồng già không con cái, thương chị như con. Nhất là bà cụ, luôn nhắc nhở chị:
- Con may mắn lắm đó. Biết bao nhiêu cô gái không gia đình, không nghề nghiệp, tiền bạc, phải đánh mất mình khi lăn lộn sống ngòai kia. Vì vậy đừng khinh bạc cái nghề nhỏ mọn nầy. Hãy cố học nghe con. Nghề nầy ngó dễ mà khó. Dễ vì nó đơn giản như nấu nồi cơm, nhưng khó ở chỗ làm sao khách chỉ thích uống cà phê ở đây hơn đi nơi khác. Có người đã thành đạt, rời xóm, nhà cao cửa rộng, nhưng hể có dịp là ghé quán mình, uống một ly đen.

- Cách pha cà phê của bà có khác?

- Tất nhiên mỗi người bán đều có cách pha riêng, cách trộn cà phê riêng mà người ta gọi là bí quyết, nhưng bà có một bí quyết, ai cũng biết được, nhưng khó có người làm được… Đó là pha cà phê bằng trái tim, tình yêu và tấm lòng mình!

Chị không hiểu.

- Con không hiểu, đúng không? Cũng phải thôi, nhưng khi con lớn thêm ít tuổi nữa, con sẽ hiểu. Làm chủ một công việc bằng trái tim, tình yêu và tấm lòng của mình không phải dễ đâu. Nhưng đó là con đường đưa đến thành công.

Chị trân trối nhìn bà cụ già. Đầu óc ngu dốt của chị không cho phép chị suy nghĩ hoặc lý giải mọi vấn đề khúc mắc như vậy một cách khoa học, rồi từ đó khám phá ra công thức pha cà phê như ý bà. Và chắc cả bà cụ cũng chẳng hơn gì, nhưng có lẽ cụ bà hơn chị ở chỗ đã có thời gian để chiêm nghiệm cái nghề mình theo đuổi gần hết cuộc đời. Vì thế, để dạy chị cách pha cà phê, bà chỉ hướng dẫn vắn tắt:

- Con phải luôn luôn nghĩ rằng ly cà phê con pha là cho con uống, mà con lại rất yêu rất thích mùi vị cà phê hơn bất cứ thức uống gì trong đời. Do đó, con phải tìm cách pha sao cho hôm nay đậm đà hơn hôm qua, và giữ như vậy được mãi mãi dù bên ngòai có biến động như thế nào, giá cả trồi sụt ra sao,khách uống là ai…v…v.

Không biết những lời nói của bà đã thấm vào chị, hay vị đắng của cà phê là nước đắng đời chị. Vị dịu đắng ngọt ngào ở phút tự do đầu tiên của con chim được sổ lồng đã vận vào ly cà phê chị pha chút hương khác lạ. Bà cụ nếm thử gật gù tán thưởng nhưng có chút ái ngại:

-Đừng làm khó mình như vậy. Cuộc sống không bao giờ ưu ái một chiều. Có được, có mất. Hãy sống vui với cái được và chấp nhận cái mất. Hạnh phúc chỉ đến với mình khi tự biết tại sao được, tại sao mất. 

Chị ngu ngơ nhìn bà cụ như nhìn một nhà hiền triết cao thâm. Chị đang cần một lời an ủi, thấu hiểu nỗi lo lắng bồn chồn và cả nỗi hân hoan trong lòng chị. Nhưng đi đâu chị cũng có cảm giác cô đơn dù hồ đã rất xa và đất liền vây quanh với trăm vạn ngã đường trước mắt.

Những năm tháng đầu tiên, chị háo hức đón nhận cuộc sống mới. Nhưng dần dà chị lờ mờ nhận thấy hình như đây không phải là cuộc sống dành cho mình. Chị không biết mình sẽ ra sao, sẽ về đâu và chuyện gì sẽ đón đợi mình. Hình như mọi thứ không dễ dàng. Chị cố gắng hy vọng, cố gắng trông chờ một ngày giống như cái ngày mà chị từng tưởng tượng khi lên kế họach rời bè cá năm xưa.

Thời gian qua nhanh. Cuộc sống thị thành khiến chị mỏi mệt. Quán cà phê bắt đầu giống như cái bè cá lẻ loi ngày thơ ấu. Tầm mắt chị không nhìn được xa quá con hẻm nhỏ. Chị cảm thấy bế tắc ngay trong cả suy nghĩ của mình. Chị bắt đầu có thói quen cúi đầu nhìn những giọt cà phê đen rơi chậm rãi xuống lòng tách. Và không hiểu sao, khi soi mình vào ly nước đen, bóng những chiếc bè cá trên hồ hiện ra như trong truyện cổ tích Trương Chi Mỵ Nương.

Một người khách hỏi tên tộc của chị. Chị trả lời:Giang, Tư Giang…Hồ…

Tiếng Hồ bật ra như chiếc khóa bung vỡ để lộ bên trong là nổi nhớ mong chất ngất, là bao hòai niệm về nơi chốn sinh ra, một thời thơ ấu và cả mối tình đầu nhẹ nhàng, ngây thơ, trong trắng.

Khuya hôm đó, bên chiếc gương tròn nhỏ, chị chải lại mái tóc và nhìn chăm chăm vào những dấu chân chim ở đuôi mắt, khóe miệng. Chị thẩn thờ:

-Mình đã bỏ đi bao lâu rồi nhì? Mình đến hôm nay vẫn còn đợi Hải, nhưng bè cá của anh có còn trên hồ xưa?

Chị đau đớn vì khó có thể tin Hải chờ mình như lời anh đã hứa. Ngày ấy thơ dại quá,và chị đã bỏ hồ ra đi biệt tích. Bố mẹ cũng không biết chị đi đâu mà tìm. Hải hẳn phải lấy vợ, sinh con,trở thành người chủ bè cá, nối tiếp cuộc sống của ông bà, cha mẹ anh. Chỉ có chị là muốn lìa bỏ để đi tìm, khám phá miền đất lạ. Nhưng chị đã không tìm được điều gì bởi chị đâu có điều kiện để chuẩn bị hành trang cho chuyến đi. Cái nghèo, cái khổ và sự ngu dốt không thể nào là hành trang tốt cho người đi khai phá. Bây giờ chị đã mất tất cả. Chị không còn chút hy vọng nào cho tương lai ngòai những ly cà phê đen thẩm như cuộc đời mình. Chị phải làm gì đây? Chị không hối tiếc vì đã ra đi nhưng chị buồn vì cuối cùng Tư Giang Hồ chỉ quẩn quanh bên ly cà phê, quay cuồng vì sinh kế, đến nỗi không có thời gian để nhìn lại mình được mất như thế nào.

Chị trở nên suy sụp. Ly cà phê chị pha khiến nhiều khách quen nhíu mày. Đôi mắt già của bà lão không thể không nhìn thấy. Bà nếm chút cà phê, lắc đầu rồi thong thả kéo chị ngồi xuống:

-Con không để tâm vào ly cà phê của khách?

Chị thở dài, nước mắt lưng tròng:

-Con xin lỗi bà. Nhưng con không thể. Sao cuộc đời con toàn những mất mát, chẳng việc gì ra hồn. Những quyết định của con đều ngu xuẩn. Con phải làm gì? Con nhớ bố mẹ, nhớ bè cá. Giá như con cứ ở yên một chỗ và tập sống tiếp cuộc đời của cha mẹ mình. Con hối hận quá.

Vầng trán già nhăn lại thật nhanh rồi giản bung ra. Môi già mỉm cười.

-Sao con lại hối hận? Con đã ra đi vì cái gì nào? Chẳng phải con ra đi vì muốn thực hiện khao khát của mình,muốn thóat khỏi cuộc sống mà con thấy buồn tẻ. Con muốn tìm một tương lai như con mơ ước. Ý nghĩ đó đâu có gì xấu. Làm người ai mà không mong ước sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Ai mà chẳng có lúc đấu tranh vì điều đó chớ? Nhưng tại sao đã bao năm rồi nhưng con vẫn chưa đạt được kết quả? Tại sao vậy? Con nói do tại con ngu dốt, nghèo khó hả?

-Dạ đúng vậy? Trên bè cá, con đâu được học hành, đâu biết cái gì ngòai nước và cá. Với một người như vậy, không thể thóat ra được sự bần cùng, bà ạ. Đó là số phận của con!

-Sai rồi. Con vẫn có thể mà!

Chị cười méo mó:

-Bà đừng an ủi con. Đến từng tuổi này rồi, con sẽ làm gì với hai bàn tay trắng, với cuộc đời cô đơn? Con như người bị cầm tù trong cái lồng đời của chính con. Con còn có con đường nào để thóat ra?

-Không, con nhìn bà đây nầy, già cả, không con cái. Nhưng chỉ cần có ông lão già yếu của bà, là bà đã có một điểm tựa để đấu tranh với đời, để vui vẻ sống. Còn con, rồi con sẽ có một điểm tựa vững chải, trẻ trung cho cuộc đời của mình, con sẽ có con cái và hơn hết là con còn nhiều thời gian. Nhiều điểm tựa như vậy mà con lại không đứng vững sao?

Chị nhìn bà lắc đầu:

-Con không hiểu…

Bà lão nhìn ra ngòai. Ánh sáng chiều thu vẫn còn vàng rực rỡ. Bà cười đôn hậu, dịu dàng vuốt nhẹ đôi vai xuôi của chị:

-Thiên nhiên cũng như cuộc đời, đâu phải chỉ trăm năm mà tuần hòan tiếp nối con ạ. Sống là phải tin yêu và hy vọng. Còn hy vọng là còn sống. Những lời bà nói chẳng có gì to tát đâu. Từ từ tự con sẽ hiểu…

Hằng đêm, chị vắt tay ngang trán cố suy nghĩ những lời khôn ngoan của cụ bà bày biểu cho mình. Nếu chị được làm lại, chắc chắn chị không còn sợ hãi cái nhà bè không bao giờ cặp bến. Nếu được trở lại như thời niên thiếu, chị sẽ không để bố mẹ phải đau khổ, bất lực trước quyết định của con mình. Nếu chị lấy chồng sinh con, chị sẽ chẳng bao giờ để con ngu dốt, chỉ biết ngơ ngác nhìn hồ,mây nước như chị ngày xưa. Và ít ra chị cũng biết phải làm gì để cuộc sống không còn đơn điệu, u buồn.

Dần dà, chị đã hết sợ sự cô đơn và vây hãm của cuộc sống quanh mình. Nhưng cũng từ đó, chị tha thiết muốn trở về. Chị nhớ đôi mắt thất thần của bố của mẹ khi thấy chị quay lưng lìa xa bè cá. Chị nhớ người bạn trai đã hẹn chị ráng chờ anh và không hiểu anh có biết rằng chị vẫn hòai chờ đợi. Chị nhớ cái bè cá nhỏ lặng lờ khi hồ lặng và chao đảo bập bềnh vào những ngày Đông mưa gió. Chị nhớ những mẽ cá đầy bộn bề trong lưới, nhớ tiếng cá quẫy rập bập trong lồng cá chật chội… Nỗi nhớ chất chồng khiến cà phê chị pha mỗi lúc mỗi đắng. Nếm vị cà phê, chị biết lòng hòai hương của mình đã nặng lắm rồi.

Hôm ra đi, chị ôm siết người chủ già nghẹn ngào:

-Bà ơi, con cám ơn bà đã cưu mang, nuôi sống và truyền nghề cho con. Nhưng quý nhất là bà đã giúp con tự biết mình phải làm gì để những ngày tới thật sự có ích cho tương lai mình và cho cả những người thân yêu của mình.

Bà lão cười móm mém:

-Ừ, con về nhà đi. Nhưng con hứa phải đối xử với bản thân, với cuộc đời như pha một tách cà phê nhé.

Chị mỉm cười:

-Phải sống bằng trái tim, tình yêu và hết lòng với người.

Bà cụ gật đầu nói thêm:

-Và chẳng sợ mình cô đơn.
 

KIM HÀI.

 

Trang Kim Hài

art2all. net