La Thụy

 

BAO LA, MÊNH MÔNG, BÁT NGÁT

GIỐNG VÀ KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO ?

 

 

         

BAO LA

Chúng ta thường dùng “bao la” để chỉ thứ ǵ đó “rộng lớn đến mức vô cùng tận” (Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên), chẳng hạn như “vũ trụ bao la”, “biển rộng bao la”… Tuy nhiên, nghĩa đen của từ này không hẳn ai cũng rơ.

Thực tế, “bao la” là một từ gốc Hán, vốn có Hán tự là 包羅. Trong đó: “Bao” (包) là “bọc, gói”, cũng là “bao" trong “bao quát”, “bao hàm”

“La” (羅) nghĩa là “cái lưới”, cũng là “la" trong “thiên la địa vơng”, “la liệt".

Như vậy, “bao la” có thể được hiểu một cách đơn giản là “cái lưới dùng để bao bọc tất cả”.

 Nói đến không gian rộng lớn, ta c̣n có từ “bát ngát". Thực tế, từ này vốn có nghĩa gốc là “thương nhớ, lo buồn" (xem Tiếng Việt ân t́nh, tập 1)

Tóm lại, “bao la” là một từ gốc Hán, có nghĩa đen là “cái lưới bao trùm tất cả”.

Lê Trọng Nghĩa 

*

 

Phiếm luận của La Thụy:

“Bao la” là một từ gốc Hán, vốn có Hán tự là 包羅. Trong đó:

“Bao” (包) là “bọc, gói”, cũng là “bao" trong “bao quát”, “bao hàm”

“La” (羅) nghĩa là “cái lưới”, cũng là “la" trong “thiên la địa vơng”, “la liệt".

Như vậy, “bao la” có thể được hiểu một cách đơn giản là “cái lưới dùng để bao bọc tất cả”.

 

Từ định nghĩa trên, tôi liên tưởng đến Thánh kinh: “Ta là Alpha (A) và là Ômêga(Ω), là Khởi nguyên và là Cùng tận!”

Điều này nói lên rằng Vua Giêsu Kitô là căn nguyên và cùng đích của mọi loài. Trước khi tạo dựng vũ trụ này, Người đă hiện hữu; và khi vũ trụ này qua đi, người vẫn hiện hữu.

Chúa là Vua Vũ Trụ, Chúa là Alpha và Ômêga, là Đấng Toàn Năng.

 

 

MÊNH MÔNG

 

Mênh mông 冥 蒙 (chữ Nôm):  rộng lớn đến mức như không có giới hạn.

Tra từ điển Hán Nôm, tôi thấy chỉ có MÊNH chữ Nôm, không có MÊNH chữ Hán.

Có 5 kết quả về MÊNH chữ Nôm đều nói về “mênh mông” .

冥 mênh • 明 mênh • 溟 mênh • 𣷠 mênh • 𫸏 mênh

 

MÔNG濛 (chữ Nôm)

Cả MÊNH và MÔNG chữ Nôm, mỗi từ không có nghĩa riêng biệt, đều chỉ về MÊNH MÔNG

MÔNG (chữ Hán) có đến 20 kết quả và nhiều nghĩa khác nhau, tôi thấy có chữ Hán có thể có ư nghĩa liên quan đến chữ “bao” 包 trong “bao la” đó là:

MÔNG 蒙 (chữ Hán): Che, đậy, trùm.

 

*

Phiếm luận của La Thụy:

Như vậy MÊNH MÔNG là từ thuần Việt từ láy âm đầu, và là từ láy tượng h́nh có nghĩa “rộng lớn đến mức như không có giới hạn”

Vd:

đồng ruộng mênh mông

"Núi cao biển rộng mênh mông,

Cù lao chín chữ ghi ḷng con ơi!"

(Ca dao)

 

BÁT NGÁT

 

Bát ngát 叭兀 (chữ Nôm):

Đây là một từ thuần Việt, có nghĩa là rộng lớn, mênh mông, vượt xa tầm nh́n của con người

- Tra chữ Hán th́ BÁT có đến 32 kết quả với những ư nghĩa khác nhau, nhưng tôi không t́m thấy ư nghĩa nào có liên quan đến “sự rộng lớn”

- Tra chữ Nôm th́ BÁT có đến 17 kết quả với những ư nghĩa khác nhau, trong đó có 叭 được dùng với “bát ngát”

Tra từ điển Hán Nôm, tôi thấy chỉ có NGÁT trong chữ Nôm, không thấy có NGÁT trong chữ Hán.

Có 6 kết quả về “ngát” chữ Nôm đều nói về “bát ngát” hoặc “thơm ngát”

兀 ngát • 吃 ngát • 咯 ngát • 𠯪 ngát • 𠿸 ngát • 𬳜 ngát

Cả "bát" hoặc "ngát" riêng biệt đều không có nghĩa cụ thể.

Trang “Tiếng Việt giàu đẹp” viết:

“Ngày nay, hầu hết chúng ta đều dùng “bát ngát” với nghĩa là “rộng lớn, mênh mông”. Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên cũng giảng: “Bát ngát: Rộng lớn đến mức tầm mắt không bao quát hết được. Cánh đồng bát ngát. Bốn bề bát ngát”. Ít ai biết được rằng, từ này xưa kia vốn được dùng với nghĩa hoàn toàn khác.

Từ điển từ cổ của Vương Lộc giảng: “Bát ngát: Ở trạng thái lo buồn, thương nhớ dai dẳng, bâng khuâng”. Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của ghi chép ngắn gọn hơn: “Bát ngát: Lo xa, lo buồn nhiều nỗi”. Từ điển Việt - Pháp của J. F. M. Génibrel cũng đồng t́nh: “Bát ngát: U sầu, lo âu, nghĩ ngợi”.

Các tư liệu này không hề giảng sai. Bằng chứng là sắc thái “lo âu, thương nhớ” của “bát ngát” đă xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm văn học xưa, chẳng hạn:

 

“Bát ngát mặt ngừng chau giọt ngọc,

Dùng dằng chân ngại bước đường mây”

(Hồng Đức quốc âm thi tập, Nhân đạo, bài 34)

 

“Cảnh li biệt nhiều phần bát ngát,

Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi”

(Ai tư văn, câu 145, 146)

 

“Bát ngát thay cành hoa trôi nước,

Chiếc nhạn về nam”.

(Nguyễn Hữu Chỉnh, văn tế chị)

 

Như vậy, rơ ràng “bát ngát” xưa kia vốn được dùng với nghĩa lo buồn, thương nhớ. Và có lẽ từ đó mới h́nh thành nên cụm “bát ngát mênh mông” là cảnh vật rộng lớn, hiu buồn. Chắc hẳn do lưu truyền trong dân gian, “bát ngát” dần bị mất nghĩa, và do thường đặt cạnh “mênh mông” nên người ta đă hiểu từ này thành “rộng lớn”.

(Tiếng Việt giàu đẹp)

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=4122771034467773&id=296435410434707&set=a.4352358648175676

 

 

Phiếm luận của La Thụy:

Sự rộng lớn đến mức như không có giới hạn của “mênh mông”“bát ngát”, làm tôi liên tưởng tới từ ngữ “vô thủy vô chung”

 Vô thủy: không có điểm bắt đầu.

Vô chung: không có điểm kết thúc.

Cụm từ "vô thủy vô chung" có hàm ư chỉ những điều vô cùng vô tận, không có điểm khởi đầu, cũng không có điểm kết thúc. Tôi liên tưởng đến chữ ĐẠO 道 của Lăo Tử

Theo Đạo Đức Kinh:

“Đạo là Nguồn gốc của Vũ Trụ. V́ nó là một cái ǵ Lớn tuyệt đối nên mới nói: “nghinh chi nhi bất kiến kỳ thủ, tùy chi nhi bất kiến kỳ hậu” 迎之不見其首, 隨之不見其後

(Đón nó th́ không thấy đầu, theo nó th́ không thấy đuôi). Tức là “vô thủy vô chung” 無始無終 vậy.”

Cụm từ "vô thủy vô chung" làm tôi liên tưởng đến Phật giáo

Cụm từ này đồng nghĩa: Vô lượng vô biên 無量無邊

Chỉ PHẬT, theo tín ngưỡng, là không đếm được, không có giới hạn.

 

Như vậy, BAO LA là từ ghép Hán Việt, nhưng MÊNH MÔNG và BÁT NGÁT là từ láy thuần Việt. Chúng có ư nghĩa gần giống nhau, nhưng vẫn có điểm khác biệt.

Kỳ sau, nếu có thời giờ, chúng ta sẽ thử so sánh chúng với các từ "bạt ngàn", "ngút ngàn" nhé!

 

La Thụy sưu tầm và biên tập


 

 

art2all.net