|
Lê Minh Hiền
XÓM CỔNG QUÊ NGOẠI CÒN ĐÓ MÀ ĐÃ MÙ SA*

Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê Ngoại ruột đau chín chiều... (Ca dao)
Tôi
có rất nhiều kỷ niệm đẹp với Quê Ngoại. Tôi sinh ra, sống những ngày
tháng đầu đời ở Xóm Cổng, Quê Ngoại. Quê Ngoại tôi thanh bình lắm! Hơn
30 năm định cư ở xứ người, khác tiếng nói, khác màu da, khác sinh hoạt
văn hóa, khởi đi từ lúc còn lạ nước lạ cái đến hôm nay, quá đủ lâu để
nên cố quận, nhưng những kỷ niệm thuở ngày xưa còn thơ ấu ấy ở Quê Ngoại
ngày càng vừa vời vợi mờ xa, vừa rõ ràng hơn bao giờ hết trong tâm hồn
tôi. Những hình ảnh thân thương bên Ngoại càng ngày càng lắc, càng đầy
trên con đường dài lần theo dòng thời gian của một đời người… Cái cảnh
thanh bình ấy mỗi khi nhớ về, tôi lắng nghe tiếng lòng mình rung lên
những xao động khôn cùng lạ thường: “Xóm Cổng… Xóm Cổng Quê Ngoại
ngày xưa, cái tên mộc mạc…” (trong bài thơ Xóm Cổng Quê Ngoại
ngày xưa). Tâm hồn tôi được ươm mầm lãng mạn thơ ca từ dạo ấy, cho đến
một ngày, ở tuổi vào chiều, tôi trở thành… một người làm thơ. Trong 10
năm qua, dòng thơ tôi, không tham, không sân, chỉ đầy ắp một hồn thơ si
mê yêu thương, và thăng hoa ở những bài thơ mang nỗi ám ảnh Freud chưa
bao giờ thỏa mãn vì hợp mà tan, luôn đến rồi đi qua hình ảnh giai nhân
mộng mị, nõn nà, non mọng của những cô gái đã và đang đi qua đời tôi tùy
duyên!, “…Cho tôi xin hương vị em thơm ngọt / thoảng nhẹ rất gần dưới
vạn ánh sao đêm…” (trích từ một bài thơ). Tôi đi tìm mãi vẫn không
đặt nổi cho mình một bút hiệu, và tôi dừng lại dùng chính tên mình, Lê
Minh Hiền, làm bút hiệu cho đến nay và chắc chắn mãi mãi, thầm tự nhủ
như một thái độ cảm ơn chính mình, một đời phiêu dạt với những mộng ước
không thành, và thầm tự nhủ như là một thái độ cảm ơn đến Ba Má, Ông Bà
— những bậc sinh thành đã từng trải qua những phận đời khác nhau, nhưng
tựu trung luôn luôn canh cánh trong lòng những nỗi lo toan dành cho con
cháu…
.
Quê Ngoại tôi mang một cái tên thật mộc mạc là Xóm Cổng. Từ thành phố
Qui Nhơn ngược hướng biển ra ngoại ô khoảng vài dặm, vừa qua khỏi chân
Cầu Đôi, ngay bên phải là một con đê nhỏ chạy ngang qua Xóm Cổng về
hướng Gò Bồi, huyện Tuy Phước. Xóm Cổng nhỏ bé, vài chục nóc nhà nằm bên
phải chân con đê ngăn đôi một vùng sông nước bao la, như một cái cù lao
nhỏ. Nhà Ngoại ở đầu xóm. Gió từ ngoài sông thổi vào Xóm Cổng quanh năm,
bốn mùa không ngừng nghỉ. Trước khi chạy vào xóm nhỏ, lũ gió ghé vào sân
nhà Ngoại chơi trò trốn tìm cả ngày lẫn đêm trên những tàu lá dừa. Những
cây dừa với những buồng dừa nặng trái có màu nâu vàng hườm như màu trái
dừa xiêm nhưng to như những trái dừa thường. Có lẽ nào là giống dừa
thường lai xiêm! Vì vậy mà nước dừa nhà Ngoại tôi vừa nhiều nước vừa có
mùi thơm mát, có vị ngọt thanh tôi chưa từng gặp lại ở bất kỳ nơi nào
khác! Ký ức về lũ gió chơi trò trốn tìm lao xao trên những tàu dừa trong
sân nhà Ngoại tôi ngày nào, tôi mang theo suốt đời mình! Hồi mới qua
định cư ở Mỹ, vào những ngày cuối tuần, Ba tôi — người bảo lãnh cả nhà
qua Mỹ — hay lấy xe hơi chở cả nhà xuống biển Huntington Beach, South
California chơi. Đi trên bãi cát trắng, biển xanh, ngay giữa nắng vàng
hè về, nhưng gió biển lạnh buốt sao lại bất chợt gợi trong tôi nhớ về
những cơn gió nồm miên man nơi miền sông nước Quê Ngoại! Những thoáng
nhớ ấy, tôi mơ hồ nghe hồn mình lạc lõng vô cùng nơi quê người, cách xa
Quê Ngoại nửa vòng trái đất, bên kia đầu bờ biển Thái Bình Dương!
.
Nhớ rõ làm sao như hôm qua trong bộ nhớ dài hạn rất bền của tôi, những
ngày xưa tôi còn bé xíu ở nhà Ngoại. Yêu làm sao những xế chiều về, Dì
Út Tám tôi trải chiếu trước hè cho tôi nằm chơi, còn Dì ngồi cạnh đan
lưới đánh cá. Hạ vàng ươm mật, và gió ngoài sông thổi vào mát rượi. Và
cứ vậy, những cơn gió nồm yên ả ru tôi vào giấc ngủ lúc nào không hay.
Đến khi tôi thức giấc thì đêm đã khuya. Ngoài sân, màu sáng trăng trong
vắt thủy tinh nhuộm vàng cả không gian. Lũ gió nồm vẫn không thôi từ
ngoài sông chạy về, nghe như chúng muốn thì thầm bên tai tôi một chân lý
vĩnh hằng vừa sâu lắng vừa đơn giản về ý nghĩa hạnh phúc đời người của
những con người an phận sống đạm bạc ở một vùng quê yên bình này. Những
lúc đó, bao giờ tôi cũng thấy Ông Bà Ngoại tôi đang ngồi uống trà nói
chuyện trong gian nhà giữa. Dì Tám chắc đã bỏ đi xuống nhà dưới, còn Cậu
Bảy Ời chắc đi chơi đâu đó trong xóm vẫn chưa về. Ông Bà Ngoại tôi có
tất cả 4 người con, từ Má tôi là chị cả thứ tư, tên là Ơi, rồi tới Dì
Năm Quơi, Cậu Bảy Ời, Dì Út Tám Hử. Tôi không nghe nói gì về người con
thứ hai, thứ ba và thứ sáu, có lẽ họ mất từ hồi còn rất bé chăng? Ông
Ngoại tôi, như bao người dân quê chất phác muôn đời thuở xưa, hay có cái
quan niệm đặt tên cho con cái sao cho nghe bình dân, thậm chí xấu xí, để
đứa bé không bị cõi trên quở làm ốm yếu, để chúng nhanh ăn chóng lớn.
Nên Má tôi, các Dì và Cậu tôi mới có những cái tên lạ lùng như vậy!
.
Với Ông Ngoại, tôi có một kỷ niệm rất ấn tượng dù chỉ nghe từ Má tôi hay
kể lại. Số là, vài ngày sau khi sinh ra tôi ở bệnh viện Đa khoa Qui
Nhơn, chính Ông Ngoại tôi đã chèo xỏng nhỏ rước Má và tôi từ Cầu Đôi về.
Hồi ấy, con đường đê nhỏ từ đường cái quan chạy ngang nhà Ngoại còn rất
hẹp, chỉ vừa đủ cho hai người đi ngược chiều nhau, và ngoằn ngoèo uốn
lượn quanh co, không thể dùng phương tiện xe bốn bánh để di chuyển, kể
cả xe lam rất phổ biến thuở ấy. Đã vậy, tôi ra đời vào giữa mùa mưa,
loại đất thịt đắp nên con đê thường sau một cơn mưa lớn nhanh chóng biến
dạng, trở nên nhão nhoẹt rất khó đi, nên Ông Ngoại tôi phải đưa Má và
tôi về bằng đường sông. Và tôi không thể không kể lai lịch tấm hình minh
họa bên trên tản văn này vì đâu tôi có. Tấm hình ghi nhận cả một vùng
sông nước với dãy núi xa xa, khởi đầu cận cảnh là Cầu Đôi. Có cái tên
Cầu Đôi, một địa danh cửa ngõ dẫn vào thành phố Qui Nhơn, là vì một bên
là cây cầu đường cái quan, song song là cây cầu đường tàu lửa bên kia.
Tấm hình do ai đó đã chụp, không phải của người thân tôi. Vậy mà có một
trùng hợp kỳ lạ là cũng vào mùa mưa năm 1957, có ghi rõ bên dưới tấm
hình, là năm tôi khởi sự có mặt trên cõi người ta này, có cả con đê nhỏ
và còn lạ lùng biết bao, trên sông còn có một chiếc xỏng nhỏ do một
người nào đó đang khua chèo như thể Ông Ngoại tôi đang khua mái chèo năm
xưa đưa Má và tôi về nhà Ngoại vậy. Tấm hình này xuất hiện trên fb một
người tôi quen biết ở Khu 6, trong thành phố Qui Nhơn, nơi tôi đã trải
qua một thời tuổi thơ sau vài năm đầu đời ở nhà Ngoại, mãi cho đến sau
1975, gia đình tôi dọn về quê Nội. Tấm hình tôi tình cờ có được sau khi
định cư ở Mỹ ba năm, như một ơn trên gửi tặng tôi, như một kỷ vật quý
báu nhất đời tôi, tôi có nằm mơ cũng không thấy! Tôi phóng to ra và treo
trang trọng ở phòng khách như mang theo bên mình một trời Quê Ngoại tôi
nơi xứ người!
.
Hồi ấy, mỗi lần về thăm Ngoại, đi trên con đê nhỏ nghe gió lớn thổi ù ù
hai bên tai đến nỗi chúng tôi phải nói to mới nghe nhau được. Đường về
nhà Ngoại qua nhiều cái cống nhỏ, tôi thích lắm mỗi khi dừng chân đứng
xem nước chảy ào ào qua mấy cái cống xả nước làm bằng cây này. Nước chảy
qua những cái cống trông thật dữ dội. Ký ức về chúng thật ấn tượng đến
nỗi mặc dầu sau này lớn lên phiêu dạt sông hồ khắp nơi, rồi sang Mỹ, đi
khắp thế giới, từng có dịp đứng trước những cái thác lớn, là những kỳ
quan thế giới, lòng tôi pha trộn nhiều cung bậc cảm giác khác nhau, song
vẫn không tìm gặp lại cảm giác ấn tượng như khi bước qua mấy cái cống
nhỏ quê Ngoại, nghe trong lòng vừa sợ vừa thích thú lạ lùng! Quê Ngoại
tôi có cái tên là Xóm Cổng, phải chăng do phát âm trại ra từ chữ “cống”
của những cái cống xả nước qua lại này chăng?, “…những cái cống xả
nước lên xuống nghe nước chảy ào ào trông dữ dội! / tuổi thơ sợ hãi ngập
ngừng khi đặt bước chân sang…” (trong bài thơ Xóm Cổng Quê Ngoại
ngày xưa)
.
Bây giờ, Ông Bà Ngoại đều đã qua đời, cả Cậu Bảy Ời tôi đã mất lúc vừa
qua tuổi trung niên, không phải trong mùa chinh chiến điêu linh trước
1975 mà vì căn bệnh trầm cảm vài năm sau đó, bắt nguồn từ phận nước đổi
thay, Cậu Bảy Ời tôi phải sống những ngày nghèo khổ và bất đắc chí. Đâu
đây trong tôi vẫn còn hình ảnh Cậu Bảy Ời và ngón đờn vọng cổ nghe thật
mùi, thật tha thiết, một con người có tâm hồn nghệ sĩ như con ve sầu chỉ
thích ca hát suốt mùa hè! Còn Dì Út Tám lấy chồng là cán bộ Xây Dựng
Nông thôn. Sau 1975, Dì theo Dượng Hạt về sinh sống ở quê chồng tận
ngoài Tình Giang, thuộc huyện lỵ Tuy Phước, cách Qui Nhơn vài giờ đi xe
máy. Dượng Hạt, chồng Dì, mất mười mấy năm trước trong một cơn tái phát
đột quỵ bất thường lần thứ hai trên đường đưa đi vào Qui Nhơn cấp cứu.
Con cái Dì đã khôn lớn, đứa nào cũng trưởng thành, có gia đình riêng, và
sự nghiệp vững vàng. Tôi hay gọi video fb call về thăm Dì. Trong lần gọi
vừa rồi, tôi hay tin Dì vừa qua một cơn đột quỵ như Dượng Hạt nhiều năm
trước. May mà cứu chữa kịp thời, nhưng di chứng là miệng Dì hơi méo một
tí. Mấy chị em tôi cùng góp tiền gửi về cho Dì. Dì nói sẽ dùng mua thuốc
uống hàng tháng, cũng tốn kém khá nhiều. Và buồn nhất, chung quy vẫn là
Xóm Cổng không còn như những gì tôi hay mơ màng hồi tưởng. Vô thường
biến đổi, từ cảnh đến người. Đã có một con đường hai chiều đủ rộng cho
xe lớn chạy ngang, thay con đường đê nhỏ, chạy mãi ra tận các huyện lỵ
về hướng bắc. Nhiều phần sông đã được bồi lên thành những khu dân cư.
Đến nỗi nghe tụi em tôi về Việt Nam thăm chơi, tìm về Quê Ngoại, chúng
nó kể lại nếu không có tụi nhỏ con Cậu Bảy Ời dẫn đi, không khéo chúng
nó lạc đường mất.
.
Hai đứa con gái tôi sinh ra ở một phố nhỏ cách không xa phố chính Little
Saigon, thuộc Quận Cam, South California, một khu thương mại của cộng
đồng người Việt nổi tiếng ở hải ngoại. Tuổi thơ của chúng không sống gần
gũi thiên nhiên sông nước thanh bình như tôi ngày xưa còn thơ ấu ở Xóm
Cổng Quê Ngoại, mà giữa một phố nhỏ vật chất dư thừa. Dẫu vậy, bù lại
tôi biết dành cho chúng một tình yêu bao dung nhất, một vốn kiến thức
quê hương nhiều nhất có thể của một người Bố bản chất vốn đầy ắp tình tự
quê hương! Trước khi đến tuổi vào trường nhập học của hai bé, tôi đã bắt
đầu dạy chúng học tiếng Việt. Nhờ vậy, hai đứa con tôi đọc thông viết
thạo tiếng Việt, và khi nào quây quần trong nhà, cả nhà tôi chỉ nói với
nhau bằng tiếng Việt như một gia đình người Việt ở trong nước. Ngoại
cảnh có khác: Quê Ngoại và ở Mỹ, nhưng tình người thì muôn thuở vẫn như
nhau. Ngoại cảnh chỉ là phương tiện chuyên chở tình người đến những bến
bờ hạnh phúc. Nhìn con, lòng tôi bồi hồi nhớ lại mới ngày nào Bà Ngoại
tôi hay nói nửa đùa nửa thật,“*Chừng nào con lấy vợ hử* con, Hiền…”, mỗi
khi Bà gánh cá đi xuống Chợ Lớn Qui Nhơn bán, tiện chân ghé thăm các
cháu.
.
Tôi giờ đã hơn nửa đời người, tuy lập gia đình có muộn màng, nhưng may
mắn đang hạnh phúc với những gì mình đang có. Bé lớn Jen vừa tốt nghiệp
Master of Psychology, bé ba Jane đang theo học năm thứ ba ngành văn học
nghệ thuật. Còn nhớ, lúc lên ba, hai bé đã biết hát suốt ngày, nhạc Việt
có, nhạc Mỹ có, song tôi thích nhất bài Em lễ chùa này, Phạm Duy
phổ nhạc từ bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp. Tôi hay nói
đó là bản ruột của chúng. Chúng còn đọc được một đoạn ngắn trong bài Tôi
đi học của Thanh Tịnh, “Mỗi năm cứ độ cuối thu, lá ngoài đường rơi
nhiều và trên không trung có những đám mây bàng bạc, Bố Mẹ tôi dắt tay
tôi đi học, đi chơi… Yeah!”. Không biết nó nghĩ sao cứ mỗi lần kết
thúc đoạn văn trên, con bé không bao giờ quên giơ hai tay lên hô “Yeah”
một tiếng, như để nhấn mạnh một cách hào hứng đã hoàn thành một nhiệm vụ
được giao cho. Hai con tôi còn thuộc cả một bài học thuộc lòng tôi đã
học từ hồi còn ở bậc tiểu học. Bài học thuộc lòng có vần điệu nhịp nhàng
và đầy hình ảnh làm tôi mãi mãi không quên:
Kỳ nghỉ hè
Ta về quê
Nhà ta ở
Mé bờ đê
Ở nhà có
Bố mẹ ta
Ông và bà
Quý ta quá
Khi thư thả
Ta ra đê
Đi thả bê
Nghĩ là thú.
.
… Nhớ lại, sau 5 năm định cư ở Mỹ, vào mùa mưa năm 1997, những mốc sự
kiện của đời tôi luôn xảy ra vào mùa mưa, đúng 40 tuổi đời, sau một đêm
buồn nẫu ruột trong phòng riêng của mình share với một gia đình nọ, sáng
hôm sau tôi đi mua vé bay về Việt Nam quyết tâm việc lập gia đình. Trong
suốt thời gian về Việt Nam, tôi trọ ở nhà từ đường do Ba tôi xây nên,
sau giao cho Chú Sáu tôi trước khi cả nhà tôi sang Mỹ. Hai làng Nội
Ngoại tôi sát cạnh nhau, cùng một xã, ở ngoại ô thành phố Qui Nhơn. Tôi
hay ghé về nhà Ngoại, lúc này còn Mợ Bảy Ời sống cùng gia đình thằng
Phúc, con trưởng nam. Tôi nhớ hoài buổi chiều hôm ấy, sau đám cưới vài
ngày… một chiều mùa đông trời âm u và mưa đang rơi. Cảnh tượng thật thân
thương quen thuộc một vùng sông nước Quê Ngoại nơi tôi đã từng sống qua
những ngày tháng thơ ấu mà tôi thường nhớ lại da diết qua những năm
tháng ở Mỹ… Mợ Bảy tôi dẫn tôi và vợ tôi ra thăm mộ Bà Ngoại. Trên đường
ra mộ, mưa vẫn rơi đều đều, làm mặt sông rỗ chằng chịt. Trời lành lạnh,
giữa sông có một chiếc xỏng nhỏ, một người đàn ông khoác một tấm áo che
mưa kết bằng rơm vẫn bình thản buông lưới. Trời âm u hơn, mưa nặng hạt
hơn, nghe lạnh hơn và gió sông mang theo nước mưa tạt vào làm chúng tôi
thật khó khăn lắm mới thắp được mấy nén nhang. Vợ tôi bên cạnh, tôi cầm
nhang khấn vái, thầm nhắc lại với Ngoại chuyện xưa ngày nào. Nước mắt
tôi rưng rưng nhưng nhanh chóng bị những hạt nước mưa làm nhòa đi.
.
Ở mộ Bà về thì mưa đã tạnh, trời sáng hẳn ra. Tôi khoan khoái hít thở
lại cái mùi mằn mặn, nồng nồng quen thuộc của thứ nước lợ Quê Ngoại và
mùi thơm thơm nhè nhẹ của loại rau câu do ai đó vừa vớt từ dưới sông lên
còn để lại trên mặt đường đê, và lại được dịp nhìn thấy thật nhiều con
còng nho nhỏ nhiều màu đỏ, vàng trên bãi cát bên dưới chân đê, cạnh mép
nước với những cái càng mập ú đang ùa nhau lủi xuống những cái lỗ hang
nhỏ khi nghe tiếng bước chân chúng tôi từ xa… Gần về tới cổng nhà Ngoại,
tự nhiên gợi tôi nhớ lại hình ảnh Bà Ngoại nhỏ bé, già nua của tôi đứng
trước cổng nhà vẫy tôi theo Bà dẫn đi ăn bánh xèo ở cái quán nhỏ cuối
xóm. Tôi sinh ra đời vốn thể chất rất tệ. Má tôi kể, lúc lọt lòng, tôi
cân nặng chỉ 2 kí rưỡi, ốm đau quanh năm làm khổ Má tôi không ít. Đã
vậy, hồi ấy Ông Bà Ngoại tôi mới có 2 đứa cháu là chị Hai Hằng và tôi,
các Dì và cả Cậu Bảy Ời còn chưa lập gia đình, nên Bà Ngoại càng cưng
chiều thằng cháu Ngoại đầu lòng là tôi. Các Dì, Cậu tôi hay bị Bà la oan
hoài mỗi khi tôi khóc nhè không cần hỏi nguyên cớ vì sao.
.
Cuộc đời Bà Ngoại tôi thật tội nghiệp! Suốt một đời tảo tần lo cho con,
nhất là lo chuyện vợ con cho Cậu Bảy Ời, vì Cậu là con trai duy nhất,
còn riêng Bà có mấy ngày vui! Ngày ngày từ mờ sáng Bà tôi đã quẩy đôi
quang gánh đầy cá mang xuống bán ở Chợ Lớn Qui Nhơn. Bà qua đời sớm ở
tuổi 50 chỉ vì một chuyện không đâu, do ăn cá nóc bị ngộ độc, loại cá rẻ
tiền song thịt loại cá này rất ngon, nhưng nếu khi làm thịt vô ý làm dập
mật thì rất độc! Mỗi lần đến ngày giỗ Bà tôi, nhìn ảnh thờ của Bà, tôi
hay tự hỏi sao trông Bà móm mém già nua đến thế ở cái tuổi như vậy!, “…Rồi
Bà qua đời sau một tai nạn bất ngờ ở tuổi ngoài 50, / sau một đời bươn
chải mua gánh bán gồng những con cá con tôm từ con sông quê” (trong
bài thơ Xóm Cổng Quê Ngoại ngày xưa)
.
Đông qua Xuân lại, Hạ vàng Thu rơi, dòng thời gian vô cùng trôi đi mang
theo ba phần tư đời tôi đến nay ở một đất nước xa lạ đủ lâu đã nên cố
quận mà nghe sao hồn mình vẫn không có gì thay đổi. Dạo này, chợt phát
hiện mình hay dễ xúc động bất kỳ lúc nào chỉ vì một chuyện buồn tha nhân
không liên can gì đến mình. Tôi còn hay lẩn thẩn tự nghĩ, dù phận đời
người có vô thường, nhưng ở nơi ấy dù có tôi hay không, nước dưới chân
Cầu Đôi vẫn cứ trôi xuôi từ thượng nguồn về ngang qua Xóm Cổng ngày xưa
đã từng có Bà Ngoại, Ông Ngoại, các Dì, có Cậu Bảy Ời với ngón đờn 6 câu
vọng cổ, và có cả tôi ngày xưa còn bé xíu, trước khi chảy ra cửa biển
Thị Nại, đổ ra biển cả Thái Bình Dương — và biết đâu không chảy ngang
qua cả nước Mỹ này?
.
Nhưng có một điều chẳng lạ lùng gì: tôi mãi mãi vẫn không nói lưu loát
được thứ tiếng phương xa này, khác với thứ tiếng Mẹ đẻ ngày xưa còn bé
tôi đã bắt đầu bập bẹ tiếng nói “ba… ba…” đầu đời trong ngôi nhà Ngoại
tôi. Quê Ngoại thân thương của tôi, với những cơn gió nồm trưa hè hay
đêm trăng vàng ươm mật, đã từng một thời xa xưa như trong cổ tích vuốt
ve tâm hồn tôi, ươm gầy tâm hồn tôi nên một thi nhân. Và thật sự bồi hồi
tiếc nuối làm sao: Quê Ngoại còn đó mà đã mù sa rồi… thật sự mù sa… đâu
là Xóm Cổng Quê Ngoại của tôi một thuở ấu thơ!, “… Xóm Cổng… Xóm Cổng
ngày xưa, cái tên mộc mạc / nơi có những con người quanh năm an phận /
cái xóm nhỏ đầy ắp yêu thương có Ông, Bà, Cậu, Dì và bà con quanh xóm /
nhớ những đêm trăng lộng gió trên những tàu dừa trước sân / ngày xửa,
ngày xưa… / Xóm Cổng còn đó / mà đã thật sự mù sa!” (trích trong bài
thơ Xóm Cổng Quê Ngoại ngày xưa)
(3:55 mờ sáng)
Stanton California – Mar. 2003 – May 18th, 2025
_______
“Chừng* nào con lấy vợ hử* con, Hiền…” — phương ngữ Bình Định)
(*P/s, Tản Văn này được dùng làm THAY LỜI NGỎ trong TUYỂN THƠ VĂN MƯA &
EM của Lê Minh Hiền ra mắt bạn đọc trong tháng 7/2025)
Lê Minh Hiền
|