nguyễn thị liên tâm

 

 


LÀNG PHÚ BÌNH CÓ CHU TRẦM NGUYÊN MINH

 

Nguyễn thị Liên Tâm

 


 

1/ CHUYỆN NHỮNG NHÀ THƠ Ở LÀNG PHÚ BÌNH

“Em đi rồi còn ai vuốt tóc
Lời tình thơm sách vở học trò
Em đi rồi anh buồn không hở
Trời sa mù bàn tay với âu lo…”


Đó là khúc mở đầu bài thơ Lời tình buồn của Chu Trầm Nguyên Minh (là bút danh) tức Trần Đức Tâm (là tên khai sinh), sau này đổi thành Phạm Minh Tâm.

Nhờ một chữ Duyên, nhạc sĩ Vũ Thành An đã cảm bài thơ mà phổ thành ca khúc nổi tiếng một thời. Và từ đó, người ta nhớ nhiều đến Chu Trầm.

Nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh sinh năm 1943 ở làng Phú Bình, xã Hàm Liêm, Bình Thuận, người cùng làng cùng quê với người viết bài này.

Cái vùng đất khô cằn cày lên sỏi đá có cái Bàu cây Bông giữa làng, chỉ xanh mướt cỏ cây khi nước về trú ngụ, đã sản sinh ra 3 nhà thơ có chút ít tiếng tăm. Người thứ nhất: là Anh - Chu Trầm Nguyên Minh, đã nổi tiếng từ lâu trong văn đàn Miền Nam trước 1975, nhà ở cạnh bờ Bàu.

Người thứ hai: là Uyên Nguyên- Diệu Đế, nhà ở duới cuối Bàu, hiện định cư ở Úc, là nhà thơ có chút tên tuổi trong làng văn chương cộng đồng người Việt tại Úc (cùng với nhà thơ Chim Hải người quê Bắc Bình- Bình Thuận).

Người thứ ba là Nguyễn Thị Liên Tâm; viết văn, làm thơ, viết Lý luận phê bình… có tên trong Hội Nhà Văn Việt Nam- nhà cha mẹ ở ngay trước mặt Bàu!

Nói là người cùng làng với nhà thơ Chu Trầm, bởi nhà gần nhau, bởi hồi thuở còn nối khố, chị của anh là bạn của các cô Lớn tôi và Ba tôi. Còn anh là bạn bè với các cô Nhỏ của tôi. Giờ hỏi các cô, ai cũng nhớ bạn Tâm đẹp trai như lai Tây, dáng cao ráo, hiền lành, nho nhã của làng.

Phú Bình nằm cách Phan Thiết khoảng chừng 6, 7 km. Giữa làng, có cái Bàu cây Bông rộng mênh mông, như một chứng nhân của bao nhiêu sự thăng trầm, bao nhiêu sự đổi thay về thời cuộc. Khi mùa mưa đến, nước về đầy ắp mặt Bàu, cây cỏ xanh tươi mơn mởn, tôm cá nhiều vô kể.

Chiều xuống, những con cò trắng mãi rong chơi, thường bay về đậu trên những mô đất cao giữa Bàu, co chân, ria lông ria cánh! Quanh bờ Bàu là những bờ tre xanh ngắt, ngọn chỉa nhọn hoắt hoạt lên trời cao.

Những đêm trăng đầy, mặt Bàu lại loang loáng ánh vàng, đẹp không thể tả. Nhà tôi trước mặt Bàu nên được tận hưởng những giây phút tuyệt vời này. Và chợt nghĩ: với tâm hồn giàu cảm xúc thơ ca như anh Chu Trầm, chắc có lẽ, hồi ấy, anh cũng có đôi lần nhìn ngắm khung cảnh này khi trở về thăm quê.

Nhưng, khi gặp mùa hạn, nơi này lại là một vùng đất khô cằn, được gọi tên là nơi “chó ăn đá, còn gà ăn muối”.

Thời thơ ấu anh Chu Trầm gắn bó với làng, đây là khoảng thời gian mà làng Phú Bình nằm trong vùng xôi đậu. Nhà ông bà Nội tôi cũng phải tản cư về Phan Thiết. Khi trưởng thành anh cũng có thời gian dài về lại xóm quê, ở căn nhà cạnh Bàu cây Bông này.

Còn các tên địa danh Hầm Đá, Ninh Thuận, nơi gia đình anh dời lên ở để tránh sự nhiễu nhương của giặc Pháp- thì xa gấp đôi đoạn đường Phan Thiết - Phú Bình. Rồi Rừng Già, Rãy Nổ, Xóm Rơ, Bàu Sẻ, khu Lê Hồng Phong, Rừng Tròn, Đá Bàn… Những nơi này nằm trong khu Tam Giác Sắt lửa đạn mà bàn chân anh đã từng qua. Nơi nào cũng là chiến trường ác liệt mà thời trai trẻ, Chu Trầm đã từng chứng kiến!

Làng Phú Bình có anh - nhà thơ của Lời tình buồn một thuở vang danh. Và có hai người em cùng làng (Uyên Nguyên - Diệu Đế và người kể lại chuyện làng này) cũng nối gót anh theo nghiệp văn chương như một cái nợ nhưng cũng là một chữ duyên!
 


2/ CHU TRẦM NGUYÊN MINH, THÂN PHẬN VÀ TÌNH YÊU

Làng Phổ Cường, Đức Phổ, Quảng Ngãi là quê Ba của anh. Thời loạn lạc chống Pháp xâm lược, Ba anh theo Việt Minh, thỉnh thoảng ghé về nhà. Má làm nghề may vá, nuôi 5/6 chị em (vì chị Hai Sâm - mất khi 1 tuổi, còn chị Ba Nhung, chị Tư Trung, Năm Hiếu, CTNM- Sáu Tâm, và em trai Út Bảy Thành)

Trong Di cảo để lại, anh kể, thời gian đầu, kinh tế gia đình sung túc, có căn nhà ngói đỏ, kiềng đá xanh ở khu Hầm Đá. Sau đó, loạn lạc ngày càng dữ dội nên Ba đưa cả nhà về thôn Ninh Thuận, xã Hàm Chính, gần chiến khu Rừng Già, thuộc vùng Tam Giác. Ngày đó, nói đến Hàm Liêm, nói đến khu Tam Giác (Mường Mán, Ma Lâm, Phan Thiết), ai nấy đều biết là nơi hay xảy ra các trận chiến ác liệt! Người ở Phan Thiết ít ai dám về quê, còn người trên rừng thì lại càng ít tự do đi xuống Phan Thiết, vì bị truy xét dữ lắm.

Ở nơi này, má và các chị của Chu Trầm đi gặt thuê, còn anh được Việt Minh cho theo học lớp “Bình Dân Học Vụ’ ban đêm.

Rồi khoảng năm 1947, Cha bị Pháp bắn chết. Mộ phần chôn ở Chiến Khu Rừng Già. Mẹ đem cả nhà lên rừng, cất chòi lá, sống bên mộ chồng! Đau thương cùng cực!

Cuộc đời anh nổi trôi từ đó.

Anh kể: thời cuộc loạn lạc, gia đình đông con nghèo khó, cơm không đủ ăn, áo quần không đủ mặc. Những hình ảnh kinh hoàng chết chóc thương vong cứ ám ảnh anh bởi gần chòi là nơi đóng quân. Rồi hình ảnh con chim đa đa thường đậu trên cháng ba cây Cức Mọc, cứ mỗi lần nó cất tiếng lên, nghe buồn ảo não bi thương. Và tâm hồn thơ trẻ của anh ngày ấy cứ đau đáu, cứ ám mãi hình ảnh Mẹ mình chiều chiều ủ rũ ngồi bên mộ Chồng giữa rừng chồi vắng lặng!

Mãn tang cha, mẹ đưa cả nhà về lại xóm Ninh Thuận, gần hơn nơi chôn Cha gần chục cây số, cách Phú Bình chừng 7 km - gặt thuê, làm mướn nuôi gia đình.

Sau đó, Chu Trầm và chị Năm Hiếu, được “Việt Minh” cho đi học trường trong chiến khu Lê Hồng Phong. Được hai năm thì “má bệnh nặng, về gấp”, “tổ chức” đưa hai chị em từ khu Lê về Phan Thiết.

Nhà thương thí cách nhà thi sĩ Từ Thế Mộng chừng 50m, phía bên phải, nhà ông ngoại tôi ( NTLT) thì nằm bên trái ( nếu tính ngõ Phú Bình xuống và xóm đó có tên gọi là xóm Tỉnh). Nhà thương thí ngày xưa ấy chỉ là một dãy nhà gạch dài sơn trắng, có hành lang hun hút. Má đi. Hai chị em về trễ không kịp gặp má lần cuối. Trong bài thơ Hành lang vĩnh biệt, anh đã tức tưởi kể rằng:

“Khi con về đó muộn màng
Mẹ từ dương thế khói vàng lung linh”
(CTNM)

Rồi má được đem về chôn ở làng Phú Bình, nơi má và chị em nhà thơ Chu Trầm đã được sinh ra…

Cha mất rồi Mẹ mất.

Thân phận mồ côi đắng cay. Hai chị em bỏ học, về lại xóm Ninh Thuận, tá túc nhà người quen, làm thuê làm mướn qua ngày.

Thời gian sau đó, Việt Minh yếu thế. Vùng Tam Giác Sắt dần trở thành vùng bị tạm chiếm. Ba chị em Chu Trầm theo Việt Minh vào Rừng Tròn–Đá Bàn rừng thiêng, nước độc, thú dữ muôn trùng. lại thường có tiếng hú ma mị lúc nửa đêm không biết của ai, cứ cất lên là nghe rợn tóc gáy…

Trải qua bao nhiêu biến cố của thời cuộc và gia đình, năm 1974, hòa bình lập lại, vĩ tuyến 17 chia hai đất nước. Chị Năm Hiếu và anh ( Sáu Tâm) được đi tập kết ra Bắc nhưng hai chị em không đi mà quyết định về lại Phú Bình quê ngoại, ở đây còn có bà Ngoại, chú em ruột của Ba và mộ Má.

Trong một vài lần xuống Phan Thiết, Chu Trầm thấy những người, những cảnh mà trong đời chưa từng thấy, và, nghiệm ra rằng: chỉ cố gắng học hành mới mong lập thân, thành tài. Nên trải qua bao biến cố: anh rời quê (Phú Bình) xuống phố (Phan Thiết) làm công việc nhà cho gia đình người cậu để trọ học.

“Bên này con phố nghe chim hót
Cách một dòng sông Phan Thiết ơi!
Tả ngạn đôi bờ ru da diết
Ân tình nồng ấm tuổi hai mươi.”
(Phan Thiết của tôi - NTLT)

Có lẽ mấy câu thơ trên đã phần nào diễn tả tâm trạng của chàng thanh niên trẻ tuổi tên Trần Đức Tâm (1943 - 2014) khi rời quê xuống phố.- thành phố Phan Thiết nhỏ xinh, có con sông Cà Ty nước lợ chia đôi bờ tả - hữu.

Trong Di cảo anh để lại, có đoạn ghi rất cảm động về việc này: Ở tuổi 12, trên đường về, lúc qua hết cái cầu làm bằng sắt -bây giờ gọi là Cầu Giữa- CTNM đứng lại, nhìn cái château d’eau trong vườn bông, nhìn dòng nước con sông Mường Mán, thề rằng: “không học đỗ tú tài, tôi sẽ nhảy xuống đây mà chết”. Thế là anh rời làng Phú Bình, rời cái Bàu nước lộng gió để về Phan Thiết.

- Thời thiếu niên - thanh niên: Phan Thiết, Nha Trang.

Gia đình tứ tán. Chị Tư Trung về ở với chú Năm, em của cha tại Hàm Liêm. Chị Năm Hiếu (Phạm Thị Hiếu) về với Dì ruột tại Bàn Cờ Sài Gòn…

Chu Trầm (Trần Đức Tâm) làm lại khai sanh tên: Phạm Minh Tâm về ở với cậu tại 45 Lý Thường Kiệt, Phan Thiết học lớp Nhì (L4) đến gần hết năm lớp Nhất ở trường Nam tiểu học Đức Thắng. Ngoài giờ học là làm việc nhà từ 3 h sáng. Rồi còn phụ nhà làm bánh bèo bán, làm khuy đơm nút áo cho tiệm may của cậu. Mợ xem cháu chồng như đứa ở, không muốn cho Chu Trầm đi học…nên Cậu Mợ căng thẳng.

Chu Trầm kể trong Di cảo: Có lần, Cậu vừa đánh cháu vừa khóc. Đau xót quá. Nên anh đã thưa với Cậu: “Con xin lạy tạ Cậu Mợ đã nuôi dạy con lâu nay. Con về lại Phú Bình chỉ vì muốn ở bên mộ Má con…”

-  Quay về quê ngoại Phú Bình, ở với Chú Năm:

Trên mảnh đất Phú Bình khô nẻ này, các chị đã quên tuổi Xuân để tập trung lo cho Chu Trầm ăn học thành tài.

Ôm phận mồ côi, cảm niệm tình yêu thương của các chị dành cho mình, anh dốc sức học tập. Từ Phú Bình đến thị xã Phan Thiết áng chừng 5, hay 7 km, mỗi sáng, anh dậy sớm lấy gà mèn cơm, sách vở rồi theo sau những chị gánh củi, vác tre xuống Phan Thiết bán. Củi, họ đi rừng ở núi Ông, Bàu Sẻ ngày trước, chiều về cưa, chặt xếp vào quang gánh. Tre thì vác từng cây hay từng bó xuống chợ. Anh học trò chạy theo hụt hơi, treo cơm trên cây Muồng, bên sân Tennis, trong vườn bông có Tháp nước (château d’eau) soi bóng bên dòng Cà Ty.

Anh lần luợt thi đậu Tiểu Học, Đệ Thất, Trung Học, Tú tài 1 ở trường Phan Bội Châu, Phan Thiết. Tự đi dạy kèm kiếm tiền từ lớp đệ Lục (lớp 7) để bớt gánh nặng cho hai chị. Đậu tú tài 1, anh là học sinh nghèo phải ra Nha Trang học tiếp ở trường công Võ Tánh với sự hi sinh của chị: bán bông cưới cho anh làm lộ phí.

“Tôi đi mang theo hình bóng chị tôi cùng… một cuốn vở học trò chép những bài thơ đã viết và mối tình đầu…Tôi và Trần Huyền Sâm, tên nàng…

Ra Nha Trang, anh vào học lớp đệ nhất B4… làm đủ nghề trong những lúc có thể, để kiếm sống… Và đã hoàn thành việc học.

- Vào Sài Gòn, ra Qui Nhơn - rồi lại Sài Gòn

Anh ghé Phú Bình từ giã mọi người thân thuộc rồi đi vào Sai Gòn quyết lấy Cử nhân. Anh lại làm đủ nghề, cả chân chạy vặt ở một toà soạn, quen đủ hạng người… Nhạc sĩ, Văn sĩ,  họa sĩ…

Và thời gian đó, anh viết nhiều, đủ thể loại, với nhiều bút hiệu, nhưng nhuận bút chẳng bao nhiêu, nên nhiều khi, lại nhờ cơm từ thiện.

Thật là những quảng đời cơ cực đã đè nặng trên đôi vai anh!

- Ra Qui Nhơn

Lúc này, nhìn gia cảnh của các bà chị đều khốn khó, Chu Trầm lại quyết định bỏ đại học, thi vào Sư phạm cấp tốc Qui Nhơn. Rồi anh viết thêm kịch.

Rồi dạy kèm cho con cái của một người Phan Thiết ra Nha Trang lập nghiệp buôn bán. Thời gian này Chu Trầm quen với ba người: có tiếng tăm: Trịnh Công Sơn, Thanh Hải và Nguyễn Huề (người tặng bộ quần áo mà anh giữ đến tháng 4/1975)

- Mười chín năm gắn bó với Phan Rang

Xong khóa sư phạm cấp tốc, Chu Trầm trình diện Ty Tiểu Học Ninh Thuận và được bổ nhiệm làm giáo viên trường Tân Thành – Tây Giang. Đó là năm học 1963-1964. Rồi năm sau, chuyển về trường Phủ Hà, ngay trung tâm thị xã.

- Tình đầu tan vỡ.

Những kỷ vật dấu yêu: như cây bút Parker đen, một tập vở chép thơ viết cho Sâm… anh ném hết xuống sông Mường Mán, chỗ ngày xưa anh đứng cất cao lời thề.. Để rồi sau này, cứ tiếc mãi tập vở chép kín những bài thơ tình yêu đầu tiên.

Năm học 1965-1966 anh dạy Toán ở trường Trung Học Duy Tân. Sau đó bị động viên vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, trường hạ sĩ quan Đồng Đế.

Năm 1969 được biệt phái về dạy trường cũ Duy Tân -1975.

Sau 1975: đi học tập cải tạo ở A.38. Ra trại, anh đi vào Sài gòn. Sống bằng nhiều nghề. Và bỏ viết gần 4O năm (từ 4/1975 đến 7/2012)

- Về tình yêu

CTNM kể tên người yêu:

 

- Ở Phan Thiết có: Huyền Sâm, Kim Minh,Thúy Phượng.

Không biết cái bút danh Chu Trầm Nguyên Minh có chút liên quan gì đến tên chị đẹp Chu Thị Kim Minh - người yêu một thời say mê của anh, nhà ở trong Chợ Lớn Phan Thiết hay không. Nhưng ai cũng thấy bút danh của anh có cả họ và tên của chị ấy.

- Ở Phan Rang có: Thi Phương, Nhị Em, Thúy Loan …một nữ giáo sư cùng trường.

- Ở Nha Trang có Thi Ngọc.

- Ở Qui Nhơn có Bích Sơn, Ngọc Bích

- Ở Sai Gon có: Kim Hoa, Hoàng Thiêm ….

Là chính anh kể. Ta đếm, thấy cả tá người yêu- toàn người đẹp. Bởi anh vẫn biết nhiều người khen anh đẹp trai. Nên nhiều cô thương là đúng rồi.

- Riêng vợ thì có một.

Vợ: chị là Nguyễn thị Tùng Vân xinh đẹp, tôi thường gặp khi chị thỉnh thoảng về Phú Bình quê chồng. Chị là cháu gái của bạn anh Chu Trầm.

Anh “tự thú” trong Di cảo: ”Tôi yêu ai cũng có kỷ niệm, nước mắt… cũng sâu nặng, say mê, hết lòng… nhưng “nặng” nhất có lẽ là mối tình đầu với Sâm và tình cuối với Vân, vợ tôi bây giờ”

- Phát hiện bị U gan (5/2012)

Tin sét đánh. Cái án tử treo lơ lửng trên đầu nhưng anh vẫn viết. Thơ viết ở phòng MRI, viết tiếp ở phòng MRI, bài cuối viết ở phòng MRI… khi anh bất đắc dĩ đang thượng đài đấu với Tử Thần.

Anh tâm tình trong nỗi đau: “Chỉ mong viết xong những điều cần viết, dù ngã đài cũng… vui. Đó là những hoàn cảnh, những thành tố tác động lên cuộc đời tôi để có cái tên CTNM”

Cảm ơn anh với gia tài văn chương để lại, với Di cảo chân tình giúp mọi người hiểu và thêm yêu quý anh- một con người biết vượt lên trên mọi nghịch cảnh để tài hoa “lấp lánh và sáng ngời”.

Làng Phú Bình có cái Bàu cây Bông nước ngọt, đa phần luôn xanh mát có cây, tự hào có một người con tài hoa như anh.


3/ CÁI DUYÊN GẶP GỠ RỒI BIỆT LY

Sau 1954, vùng Tam giác sắt là nơi hay xảy ra chiến sự, nên Ba tôi ( tôi- NTLT) về ở Phan Thiết, cưới vợ, sinh con, lập nghiệp. Ruộng đất của ông bà Nội tôi “đành bỏ hoang”.
 

Đến tháng 5/ 1975, ba má tôi khăn gói về lại quê cha đất tổ Phú Bình. Cứ cuối tuần, tôi đạp xe về nhà quê, thường gặp chị Tư Trung của anh Chu Trầm, hơi thấp người nhưng da trắng, nét mặt rất đẹp. Biết là biết vậy, nhưng lúc đó tôi vẫn chưa hay anh Chu Trầm nổi tiếng với Lời tình buồn là người làng mình, là em cô Tư Trung mình hay gặp khi về quê.

Một chiều kia, nhà thơ Nguyễn Như Mây gọi: Em à, nhà thơ Chu Trầm muốn gặp em. Anh ấy biết em cùng làng Phú Bình và làm thơ viết văn nên muốn mời em tham gia viết bài cho Quán Văn. Anh có cho số điện thoại của em, anh ấy sẽ gọi.

Và thế là anh em gặp nhau.

Cùng dự ra mắt tập san viết về anh Hoạ sĩ Rừng ở Du Miên.

Trong lần gặp ở Du Miên, anh đã cười thật hiền, nói nho nhỏ với tôi: "Tưởng Bàu Cây Bông (Hàm Liêm - Hàm Thuận Bắc- BThuận) chỉ có một người khùng khùng điên điên làm thơ là anh. Ai ngờ còn có thêm em. Cũng điên điên khùng khùng theo nghiệp thơ văn". Rồi hai anh em cùng cười vang.

Rồi biết anh đi Pháp cùng nhóm Quán Vân. Rồi hay tin anh bị trọng bệnh. Gọi vào, anh nói vẫn khỏe nhưng một tháng sau, ngày mồng 2 Tết, anh gọi điện cho tôi: “Bệnh anh trở nặng rồi, bệnh viện trả về, đang trị thuốc Nam”. Tôi hoảng hốt: để em gửi trà dứa dại, xạ đen và xáo tam phân.

Anh nói: “Mấy đứa em ở quê sẽ gửi vào. Khi nào không có anh sẽ gọi cho em gửi”.
 

Ngừng một chút, anh lại nói: “Cho anh gửi lời thăm hết anh em bạn bè văn nghệ ngoài ấy. Anh sợ không qua khỏi vì di căn qua phổi rồi. Nhưng đừng nói anh bệnh nặng nghe, bạn bè (Mai Trung Trực, Nguyễn Như Mây… ) biết anh bệnh nặng, lại lo!

Tôi nghe giọng anh chùng trong sự buồn bã, nghẹn ngào. Tôi thấy trái tim mình thắt nghẹn. Thương quá.

- Em sẽ vào thăm anh.

- Xa xôi, em đừng vào.

Rồi một buổi chiều Sài Gòn buồn hiu hắt. Sau những thủ tục khá phức tạp của bệnh viện và sau những cuộc điện thoại cho anh, tôi vào thăm anh, đã nhìn thấy anh ngồi trên giường bệnh trải drap trắng toát. Khuôn mặt anh có vẻ bình thản nhưng ánh mắt nhìn xa xăm lắm. Anh bảo thủ tục khó, em cố vào thăm anh chi cho khổ. Thương đứt ruột.

Chị Tùng Vân biết có khách quê Phan Thiết vào thăm nên bước ra nhường không gian cho hai anh em nói chuyện. Khi tôi ra về, vẫn cảm nhận có một chút tình quê nhà bùng lên xa xót trong anh!

Ngày 22/2/2014 anh đi! Ra đi mãi mãi không về. Ngôi nhà 44/3 đuờng số 5 Cư xá Bình Thới - Lãnh Bình Thăng thân thương đang rủ cờ tang khóc thương anh.

Chiều ấy tôi đi xe lửa vào Sài Gòn. Trên tàu, ngồi buồn mênh mang, tôi làm bài thơ

 

ĐÊM, LÀ ĐÊM TRẮNG CHU TRẦM:
Nguyễn thị Liên Tâm

Đêm màu đen
Sao cứ thấy mênh mang là đêm trắng
Trắng dã mắt người
Trắng xóa vành tang
Tiếng nấc nghẹn. Cứ âm âm
Vọng đêm. Lòng sầu nhói buốt.

Những cánh hoa trắng trong muôn muốt
Như gục đầu giã biệt người hiền
Bạn bè khóc anh với Lời tình buồn
Khóc anh với dòng lệ mặn.

"Anh đi rồi còn ai vuốt tóc.
Lời tình thơm..." anh để lại bên trời
Tiễn biệt anh tiếng hát chơi vơi
Tiễn biệt anh lời lời thương tiếc.

Chỉ còn lại đêm nay
Đêm buồn ly biệt
Hát cho anh nghe bài hát của anh
Đọc cho anh nghe thơ của chúng mình
Tri âm ư? Biết đâu là giới hạn?

Ly rượu chia phôi. Mời anh uống cạn.
Một ly này.
Một ly nữa.
Một chia xa.
Tiễn anh đi bóng xế trăng tà.
Đêm nhức buốt. Dẫu biết đời là cõi tạm.

Đêm màu đen.
Sao cứ thấy mênh mang là đêm trắng...
Đêm màu đen.
Sao cứ thấy mênh mang là đêm trắng...

(22/2/2014)

 


Đêm ấy, bao anh em bè bạn từ khắp nơi trở về cùng người thân quây quần bên linh cửu anh để tạ từ.

Lặng lẽ. Trang nghiêm. Ấm áp nghĩa tình.

Và tôi đã đọc bài thơ ấy như một lời chia tay với người anh cùng làng Phú Bình - người anh cùng nghiệp văn chương. Là Anh. Chu Trầm Nguyên Minh!

Anh em Quán Văn cũ - mới... xa - gần, thành danh hay chưa thành danh… đều tận tâm đến bên anh, tiễn anh, ngồi lại cùng anh đêm cuối cùng anh còn trên dương thế. Anh chị Nguyễn Văn Sâm (ở Mỹ), anh Lê Hữu Khóa Đại học Lille 3 (ở Pháp), anh Quế Sơn, anh Nhật Chiêu... Có cả nhà thơ Phạm Thiên Thư, có cả Đinh Hoài Ngọc, con trai thi sĩ Đinh Hùng… Không gian chùng xuống, sâu lắng, đầy xúc động khi thinh lặng tường niệm, khi âm trầm với lời thơ, giọng hát đầy hoài niệm. Các bạn đã hát giúp anh khúc Lời tinh buồn, đã kể giúp anh chuyện vui, đã thật gần bên chỗ anh nằm để cắm một bông hoa, để thắp một nén hương trầm, để hình dung anh đang mỉm cười thỏa nguyện. Đêm hôm ấy thật sâu và cũng thật dài !!!Khoảng cách tôi về nhà mình hình như cũng dài hơn.

Bằng cách nào không nhớ, sáng hôm sau tôi đã có mặt để tiễn anh về cõi nghìn trùng. Con đường đến Công viên nghĩa trang ở Bình Dương thênh thang đón anh. Mộ phần đã sẵn. Tâm tình người ở lại xót xa biết bao.


4/ CHU TRẦM NGUYÊN MINH  (1943-2014)

    VÀ NHỮNG BÀI THƠ VỀ TÌNH YÊU VÀ THÂN PHẬN

Theo Di Cảo anh viết để lại:

- Về Thơ: đã in 4 tập:

 

Mặt trời buồn,

Quê hương Thơ và Nước mắt -1968,

Cuộc tình Người -1969.

Lời Tình Buồn- 2012.

Thơ anh thể hiện những nội dung chính:

- Tình yêu Nam Nữ. Những bài thơ thật mềm mại, ngọt ngào, bao dung… cho những mối tình đẹp và buồn.

- Tình yêu gia đình. Hầu như bài nào cũng da diết ấm nồng dù vui hạnh phúc hay buồn biệt ly.

Nỗi bâng khuâng về thân phận, kiếp người. Nỗi buồn của tha nhân cao chất ngất, thăm thẳm sâu vì anh chính là người trong cuộc, người nếm trải những nỗi đau về phận người, kiếp người chết chóc, chia lìa… trong nghịch cảnh chiến tranh.

Về thời cuộc, về chiến tranh. Những mảng ký ức vụt hiện và bật thành thơ chất chứa nỗi buồn vui về cuộc chiến tranh.

Các nhạc sĩ tên tuổi đã phổ thơ anh, như Lời Tình Buồn – Vũ thành An phổ năm 1967, còn Phan Ni Tấn thì phổ bài Năm Mới…

- Thơ sau 1975: Anh đã viết thêm một số bài :

Thơ Viết Ngày Xa Em, Thơ Viết Trên Cầu Thạch Hãn, Người lính “ngụy” già viếng Nghĩa trang Trường Sơn, Vĩ Cầm, Ngày về Đà Lạt …

- Về Văn xuôi:

Trước 1975, anh có truyện ngắn đăng ở Văn Học, Ý Thức… Sau 1975, chủ yếu đăng trên Quán Văn và các trang mạng Văn Học.

Khi viết những dòng này, tôi vô cùng xúc động. Nhớ người anh cùng làng với tuổi trẻ đầy cơ cực, nhớ nụ cười hiền từ, nhớ những vần thơ tình yêu đầy mật ngọt - cả mật đắng của anh.

Và tôi luôn nhớ con đuờng từ Phan Thiết lên, ngang qua nhà anh Diệu Đế, đến nhà anh rồi đến nhà tôi. Ôi cái làng quê một thuở, có cái Bàu Cây Bông rộng mênh mang, một thuở đã từng in dấu chân của ba anh em chúng tôi, những người đều mang nghiệp văn chương. Bàn chân chúng tôi đã miệt mài in dấu vào từng tấc đất quê nhà. Tấm lòng yêu làng quê thiết tha, nơi có mồ mã của Ba Má Anh, Ba Má tôi… chưa bao giờ vơi cạn. Tình yêu cuộc Người này, cuộc Đời này của anh Chu Trầm, của Uyên Nguyên Diệu Đế, và của tôi- Nguyễn Thị Liên Tâm đã giúp chúng tôi góp mặt vào thi đàn. Chính mảnh đất này, chính cái Bàu giữa làng mênh mông nước ngọt này đã cho ba anh em ta suối nguồn thơ phú ngọt lành:

“Làng Phú Bình đất khô cằn cỗi
Bàu Cây Bông gió thổi ngọt đồng quê
Nhớ thương, cách mấy núi anh cũng về
Ruộng nương, mồ mã bộn bề lời ru!”
(thơ Nguyễn Thị Liên Tâm)

Rồi chợt nhớ mấy câu thơ mà chú Tư Đình- nhà thơ Từ Thế Mộng để lại cho đời này khi viết về Phan Thiết- một phần đời anh Chu Trầm đã gửi ở nơi đây. Có khi bút danh Chu Trầm Nguyên Minh của anh lại là kỷ niệm của một thời yêu ở Phan Thiết:

“Phan Thiết mưa và Phan Thiết nắng
Bởi vì Em Phan Thiết ở bên Anh
Rồi Phan Thiết một ngày chợt vắng
Em yêu ơi mưa nắng sao đành”.
( Từ Thế Mộng).


Đêm Phú Bình viết về Anh - Chu Trầm Nguyên Minh

như một lời tưởng niệm. (1/4/2026)


Nguyễn Thị Liên Tâm

 

 

_____

 

 

a2a mời đọc thơ văn Chu Trầm Nguyên Minh :


http://www.art2all.net/tho/chutramnguyenminh/trang_chutramnguyenminh.html


 



 

art2all.net