NGUYỄN AN B̀NH
 

 

PHẠM THIÊN THƯ-

NGƯỜI HÀNH GIẢ SUỐT ĐỜI LANG THANG

T̀M ĐỘNG HOA VÀNG




 

          Khi tôi chuyển về Sài G̣n sinh sống, đó là một cơ hội để tôi được giao du, tiếp xúc gặp gỡ những văn nghệ sĩ thành danh mà ḿnh nghe tiếng hoặc ái mộ, họ có những tác phẩm được nhiều người biết đến trước và sau năm 1975 và nhà thơ Phạm Thiên Thư là một trong những người tôi có cái duyên hội ngộ như thế. Tôi gặp nhà thơ lần đầu sau khi ông đă trải qua cơn đột quỵ thứ hai, tuy đă thoát qua cửa ải tử sinh nhưng thần thái không c̣n mẫn tiệp như trước, tuy nhiên ông vẫn nhớ được nhiều người nhiều việc, vẫn c̣n sáng tác trong chừng điều kiện sức khỏe cho phép. Ngồi với ông trong các buổi ra mắt của tập san Quán Văn ở quán cà phê Lọ Lem, hay trong chùa Linh Bửu ở Quận 8 hoặc có dịp cùng các bạn văn đến thăm ông ở quán cà phê Hoa Vàng. Nói đến quán cà phê Hoa Vàng các bạn yêu nhà thơ Phạm Thiên Thư th́ ai cũng biết, nó nằm trên đường Hồng Lĩnh, một con đường nhỏ khá vắng trong khu cư xá Bắc Hải thuộc quận 10 Tp Hồ Chí Minh, lúc đó trông nhà thơ giống như tiên ông đang phiêu diêu giữa chốn trần gian c̣n nhiều tục lụy, trong bộ quần áo đời thường ông ngồi im lặng như một thiền sư chiêm nghiệm, một triết gia thâm trầm trong làn khói tỏa từ tẩu thuốc ông hút như một vật bất ly thân, mắt mơ màng nh́n cơi đời một cách ung dung tự tại làm tôi liên tưởng đến một hành giả đă rũ bỏ ḷng trần đang trở về non để t́m Động Hoa Vàng ngủ một giấc thật say.

 

 

 


Căn nhà ở đường Hồng Lĩnh nơi ông ở tầng dưới là quán cà phê lấy tên Hoa Vàng nơi người vợ sau của ông kinh doanh để mưu sinh, phía bên kia đường đặt một vài cái bàn, một ít cái ghế để cho khách thập phương thích không khí đường phố ngồi uống cà phê chuyện tṛ và nơi đây cũng là chỗ ngồi thường xuyên của ông với tẩu thuốc luôn thả khói. Có một giai thoại thú vị về thời kỳ quán cà phê Hoa Vàng mới mở: V́ chưa có nhiều khách nên ông vừa là tiếp viên vừa kiêm luôn việc giữ xe cho khách. Nhiều cô cậu tuổi teen thích những ca khúc phổ từ thơ Phạm Thiên Thư t́m đến Hoa Vàng để được xem “chàng hoàng tử” của “nàng Hoàng Thị Ngọ” ra sao, gửi xe xong hỏi ông lăo giữ xe: “Nhà thơ Phạm Thiên Thư có ở đây không ạ?”. Lăo giữ xe cục mịch cười “khoe” hàm răng vẩu: “Ông ấy đi vắng rồi”.


Trước mặt chỗ ông ngồi có đặt một tảng đá lớn và thường xuyên có cắm vài đóa cúc vàng c̣n tươi. Bạn bè đến thăm ông để ư ở mỗi địa điểm cư ngụ mà ông đi qua đều có sự hiện diện của hoa vàng, có lẽ trong cuộc đời thi sĩ hoa vàng là một biểu tượng gắn liền với những kư ức, cuộc t́nh không quên nào đó chăng? Có lần ông kể với bạn bè : “Năm 1942, khi cả gia đ́nh c̣n ở xă Chi Ngăi, huyện Chí Linh (Hải Dương), bố tôi mua hẳn ngọn đồi Phượng Hoàng. Hoa cúc dại vàng mọc mênh mông, bát ngát chạy dài che khuất đường chân trời”. Chính h́nh ảnh hoa vàng ấy đă theo ông suốt cả từ thời niên thiếu đó cho đến khi vào Nam, hoa vàng luôn có mặt những nơi ông ở và nó xuất hiện dày đặc trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó trở thành một biểu tượng xuyên suốt, một nỗi hoài niệm khôn nguôi trong ḷng nhà thơ.


Trở lại với bài thơ Động Hoa Vàng, ta cũng nên t́m hiểu một chút về sự ra đời của nó: Trước năm 1975 ở miền Nam sống trong bầu không khí chiến tranh đầy bất an, ḷng người chán chường luôn t́m cách thoát khỏi cái không khí ngột ngạt chết người, đúng trong thời điểm đó xuất hiện những nhạc phẩm thật trong sáng lăng mạn nói về t́nh yêu học tṛ, thanh niên học sinh thời ấy ai mà không si mê các ca khúc mà nhạc sĩ Phạm Duy đă phổ thơ Phạm Thiên Thư, nó như một làn gió mới nổi đ́nh nổi đám tràn qua các đô thị miền Nam thời bấy giờ.


Sự kết hợp thơ nhạc giữa Phạm Duy và Phạm Thiên Thư h́nh như có mối duyên kỳ ngộ th́ phải: Bản thân nhạc sĩ khi đọc thơ của Phạm Thiên Thư đă nhận ra rằng những bài thơ về đạo của nhà thơ lại rất gần với đời nên trong lúc hứng khởi ông đă phổ một loạt 10 bài đạo ca vào năm 1971 và từ duyên nghiệp đó lại chính là chiếc cầu nối để Phạm Duy phổ những bài thơ t́nh của Phạm Thiên Thư, tính ra khoảng 15 bài t́nh ca ra đời sau đó như: Ngày xưa Hoàng Thị, Đưa em t́m động hoa vàng, Em lễ chùa nầy, Gọi em là đóa hoa sầu. Loài chim bỏ xứ...


Sau nầy trong hồi kư của Phạm Duy, người nhạc sĩ cũng cho ta thấy rơ điều đó: Khoăng năm 1970, nhạc Phạm Duy đă trải qua một chặng đường dài phổ biến trong các đô thị miền Nam, ông sáng tác rất nhiều thể loại từ dân ca, t́nh ca, vỉa hè ca, hoan ca, tục ca, tâm phẫn ca...sáng tác của Phạm Duy đang đi vào bế tắc. Ngay thời điểm đó, với sự giới thiệu của nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh, ông bắt gặp những vần thơ thanh thoát, nhẹ nhàng, vừa mênh mang lại thâm trầm, nửa đạo nửa đời, chứa đựng thiền ư sâu xa của người tu sĩ làm thơ Thích Tuệ Không(pháp danh của Phạm Thiên Thư lúc bấy giờ). Phạm Duy đă t́m ra lối thoát cho việc sáng tác nhạc của ḿnh và những bài Đạo ca được ra đời từ ấy. Cũng trong mối duyên thơ nhạc đó, những bài t́nh ca dựa vào thơ của Phạm Thiên Thư cũng lần lượt ra đời tạo nên một làn sóng hâm mộ trong ḷng người yêu nhạc.


Ca khúc “Đưa em t́m động hoa vàng” là một ca khúc nổi tiếng đi vào ḷng người yêu nhạc từ những năm đầu thập niên 1970 cho măi đến bây giờ được Phạm Duy chọn lọc, lấy ra những câu thơ ấn tượng nhất trong bài thơ Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư để viết ra. Phạm Duy đă từng viết về điểu nầy: “Phạm Thiên Thư đưa cho tôi tập thơ Đưa em t́m động hoa vàng hay bài thơ Gọi em là đóa hoa sầu... để tôi phổ thành những bài hát thanh cao nhất của thời đại. Đối với tôi lúc đó, h́nh ảnh thiền, chùa, động hoa vàng thật là mát mẻ và rất cần thiết. Bài Đưa em t́m động hoa vàng được rút ra từ mấy trăm câu thơ của thi sĩ, và ta chỉ cần có ba đoạn ca là nói lên hết được cái cảnh ngày xưa, có kẻ từ quan, lên non t́m động hoa vàng... Để làm ǵ? Không phải chỉ để nhớ nhau mà chính ra là để ẩn náu vậy”. (Trích Vang Vọng Một Thời – Mùa hè, 2012)


Động Hoa Vàng là một tập trường thi gồm 100 khúc thơ lục bát(mỗi khúc 4 câu) thể hiện tâm thức của một hành giả giác ngộ trước cuộc sống nhân sinh đầy bất trắc muộn phiền muốn thoát ly sinh tử t́m về cội nguồn vĩnh cửu của cái đẹp thiên tiên không vướng bụi trần và những tục tụy buông bỏ lại sau lưng. Thoát khỏi ṿng luân hồi ch́m đắm trong cơi nhân sinh phiền muộn là ư muốn của nhiều người khi đời đă trải qua nhiều thăng trầm của cuộc sống. Ta biết tác phẩm Động hoa vàng được Tuệ Không, tức Phạm Thiên Thư viết ra trong một hoàn cảnh đất nước chiến tranh, giữa một xă hội và thời sự đảo điên, lối sống thực dụng băng hoại nên lời thơ muốn thoát đi những dung tục đó t́m về một thế giới yên b́nh, hạnh phúc đơn sơ gắn bó với thiên nhiên như sông suối, đồi cỏ, mây hồng, triết lư của đạo phật phảng phất trong từng câu thơ, h́nh ảnh. Những ai yêu thích, say đắm bài thơ Động Hoa Vàng chắc sẽ bất ngờ khi biết nhiều h́nh ảnh, ư tứ của bài thơ được nhà thơ lấy cảm hứng từ căn gác gỗ ở khu cù lao Phan Xích Long. Hay nói một cách nào đó, khu cù lao Phan Xích Long chính là “động hoa vàng” thu nhỏ của Phạm Thiên Thư thời kỳ đó. Cũng chính nơi đây, ông đă trải qua những năm tháng sáng tác rực rỡ nhất trong cuộc đời ḿnh. Nơi đây c̣n là nơi cư ngụ của nhiều văn nghệ sĩ như Trụ Vũ, Thụy Long, cũng là nơi lui tới bàn chuyện con chữ thế sự của Phạm Duy, Sơn Nam... Năm 1968, gia đ́nh nhà thơ mua 400m2 đất ở khu cù lao. Rồi ông sáng tác thi phẩm Động hoa vàng với 100 đoạn thơ trong giai đoạn nầy. Mỗi đoản khúc được ví một tiếng hót của loài dị điểu, sẵn sàng yêu và chết, và để tiếng hót của ḿnh rơi rụng trên giang hà.


Nói về Phạm Thiên Thư có người nhận xét: “người hiền sĩ ngồi bên lề cuộc sống ta bà, lặng yên thi hóa kinh phật”. Đọc thơ ông, ta t́m thấy những điều phong phú và mới lạ về tôn giáo, t́nh yêu và thiên nhiên. Giữa một thời đạn lửa, ông b́nh thản lập cho ḿnh một cơi thi ca riêng: trong trẻo, trữ t́nh và đậm chất Thiền…


Trước hết Động hoa vàng theo tôi là một bài thơ ...t́nh chứa đậm rất nhiều thiền ư và gă từ quan trong bài cũng là người hành giả đang lang thang suốt đời luôn đi t́m một t́nh yêu trong sương khói mịt mù:


Ta về rũ áo mây trôi
Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Rằng xưa có gă từ quan
Lên non t́m động hoa vàng ngủ say


Cái t́nh ấy bắt đầu từ việc “ Rằng xưa có gă từ quan. Lên non t́m động hoa vàng ngủ say”, người ta những tưởng cái gă từ quan ấy chán ngán mệt mỏi lắm rồi sự g̣ bó của chốn quan trường đầy xu nịnh, buông bỏ tất cả lên non t́m sự nhàn nhă thanh thản trong phần đời c̣n lại của ḿnh nhưng không phải thế, nó lại mở ra một cơi t́nh mênh mông, nỗi khao khát kiếm t́m t́nh yêu trong một không gian đầy sương khói mờ ảo và mộng mị. Cái t́nh trong tác phẩm bàng bạc khắp nơi nhưng đó không phải là cái t́nh dung tục mà là một bản t́nh ca đôi lứa, có sự ḥa quyện giữa đạo và đời đậm hương vị thiền. Giữa đạo và đời, giữa t́nh yêu và thiền học những tưởng không thể dung ḥa với nhau được thế mà cái nhân vật trữ t́nh ấy, cái gă từ quan ấy mà tôi gọi đó là một hành giả lại vương vấn ở giữa hai ḍng nước đời và đạo, giữa t́nh yêu trần tục và phật pháp trong bản ngă của ḿnh.


Chẳng vậy mà trong suốt 100 khổ thơ lục bát 4 câu được dành nói về nàng, về nét đẹp của người thiếu nữ trong thơ được Phạm Thiên Thư diễn tả trong nhiều mối quan hệ biến hóa thiên h́nh vạn trạng, khi th́ mờ mờ ảo ảo như sương khói khi th́ lồ lộ rất trần thế nhưng không dung tục, ngay từ đầu ta đă thấy:


Mười con nhạn trắng về tha
Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi g̣ đào nở trên miền tuyết thơm


Nhà thơ như muốn gởi một thông điệp đến người đọc một cảm thức một t́nh yêu thi vị đầy thiên tiên, người t́nh được nh́n,cảm nhận bằng một ngôn ngữ trong veo đầy thiền vị:


Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lư một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân


Nỗi buồn, nỗi đoạn trường lại được nhắc đến rất nhẹ nhàng:


Th́ thôi tóc ấy phù vân
Th́ thôi lệ ấy c̣n ngần dáng sương
Th́ thôi mù phố xe đường
Th́ thôi thôi nhé đoạn trường thế thôi”


Đôi khi những kỷ niệm của t́nh yêu chợt ùa về trong tâm tưởng tạo nên sự hoài niệm khôn nguôi về những ngày xưa cũ nhưng thật tinh khôi:


Nhớ xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa


Trong một đoạn thơ khác, Phạm Thiên Thư đă dùng h́nh tượng con chim để nói lên điều đó:


Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời ră trong ḍng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe ḷng suối hững hờ c̣n ngâm


Và trong Động Hoa Vàng ta c̣n bắt gặp những h́nh ảnh gần gủi quen thuộc trong điển tích hay trong cổ thi được nhà thơ vận dụng một cách khéo léo nhuần nhuyễn để hiện chủ đích của ḿnh:


Ta về rũ áo mây trôi
Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Rằng xưa có gă từ quan
Lên non t́m động hoa vàng ngủ say


Đoạn thơ làm ta nhớ đến Từ Thức gặp tiên trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ, chán ngán trước những ràng buộc, g̣ bó của chốn quan trường mà treo ấn từ quan đi chu du thiên hạ c̣n ở Phạm Thiên Thư ông có làm quan đâu mà từ, như vậy nó chỉ là một cái cớ, một tiền đề thể hiện quan niệm sống của một tu sĩ có pháp danh Tuệ Không xem đời chỉ là cơi phù vân nên “rũ áo mây trôi” và bắt đầu cái ư tưởng phiêu bồng bằng việc “Lên non t́m động hoa vàng ngủ say” vậy.


H́nh ảnh Từ Thức t́m về thiên thai phải chăng được thể hiện qua đoạn thơ đầy biểu tượng nầy:


Chênh vênh đầu trượng thiền sư
Cửa non khép ải sương mù bóng ai
Non xanh ướm hỏi trang đài
Trăm năm c̣n lại dấu hài động hoa


Ta c̣n bắt gặp một chút sự giống nhau về tâm thức của nhà thơ trong một đoạn khác:


Đợi nhau tàn cuộc hoa nầy
Đành như cánh bướm đồi Tây hững hờ


Làm ta nghĩ đến Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh gặp nhau lần đầu ở chùa Phổ Cưu, ở đồi Tây trong Tây Sương Kư của Vương Thực Phủ. Một số câu thơ khác cũng vậy:


Tưởng xưa có kẻ trên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa


Đường về hái nụ mù sa
Đưa theo dài một nương cà tím thôi
Thôi th́ em chẳng yêu tôi
Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng


Ta c̣n bắt gặp trên bước lang thang t́m Động hoa vàng cho riêng ḿnh, người hành giả ấy đă tự tạo cho ḿnh một cuộc sống ḥa vào thiên nhiên để từ đó thấy được niềm vui bất chợt và tâm hồn như được gột sạch bao nỗi buồn phiền:

Lên non cuốc sỏi trồng hoa
Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương
Vớt con cá nhỏ ḷng đ̣ng
Mải vui lại thả xuống ḍng suối tơ

Một đêm nằm ngủ trong mây
Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời
Cây bưởi trắng ngát hương đời
Nụ là tay phật chỉ người qua song


Chính v́ thế chất thiền trong Động hoa vàng được nhà thơ thể hiện thông qua nhiều h́nh tượng, h́nh ảnh ẩn dụ, phóng dụ như: thông xanh, suối biếc, miền tuyết thơm, suối hoa rừng, thềm trăng, đồi Dạ Lan, miền cỏ hoa, bến hoa tươi...Tất cả những h́nh ảnh ấy rất đơn sơ, b́nh dị nhưng thật trong sáng thoát tục. Chúng ta thử điểm qua vài đoạn thơ như thế:

Ta về rũ áo mây trôi
Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan


Mùi hương hoa trong ấm trà mùa đông:


Đất nam có lăo trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông


Có thể là cánh hoa dại ven đường mùa đông:


Bông hoa trắng rụng bên đường
Cánh thơm thông điệp vô thường tuyết băng


Hay ánh trăng in dấu hài hoa:


Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót hoa


Hoặc bóng trăng thanh b́nh nơi thôn dă:


Bóng trăng tịch mặc hiên nhà
Thành đàn nảy hạt tỳ bà quyện hương


Bóng hạc nhuốm màu huyền thoại như trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu:


Hạc xưa về khép cánh tà
Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần


Mùa xuân trong Động hoa vàng được nhắc đến rất nhiều lần tràn đầy tiếng chim, hương hoa cây cỏ bốn mùa xanh mát, ánh trăng huyền diệu soi mái thề và ngay cả sự hoài niệm cũng mang hơi thở ấm áp nồng nàn của mùa xuân:


Mười con nhạn trắng về tha
Như lai thượng trụ trên tà áo xuân


Mùa xuân bỏ vào suối chơi
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa


Có con cá mại bờ xanh
Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân
Giữa ḍng cá gặp phù vân
Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi


Con khuyên nó hót trên bờ
Em thay áo tím thờ ơ giang đầu
Nhớ xưa có kẻ lên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa


Rượu cũng thể thiếu với gă hành giả lang thang trên đồi cao cỏ biếc, đó cũng là lẽ thường t́nh được nhắc đến để nhà thơ thỏa măn cảm hứng đề thơ hay ngâm vịnh, mượn rượu để gởi gấm t́nh yêu của ḿnh:


Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa

Qua đ̣ gơ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

Đưa nhau đấu rượu hoa này
Mai đi dă hạc thành ngoài cuồng ngâm

Cửa sương nhẹ mở âm vào
Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca

Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân

Động nam hoa có thiền sư
Đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn


Nghiêng ly ḿnh cạn bóng ḿnh
Tay ôm ṿ nguyệt một b́nh mây bay


Đọc Động Hoa Vàng ta cảm nhận nó như một ḍng suối chảy miên man trên một triền núi xa xăm đem nước nguồn tinh khiết vun bồi cho đất đai thêm màu mỡ, như một đám mây trôi bàng bạc khắp trời nhiều màu sắc tấu thành một khúc nhạc mong t́m thấy tri âm tri kỷ như Bá Nha Tử Kỳ nhưng thử hỏi trên đời nầy có được mấy người đạt được sở nguyện như thế nên người hành giả ấy vẫn măi lang thang đi t́m Động hoa vàng khắp đầu non cuối bể giống như Từ Thức giầy rơm nón cỏ chống thiền trượng t́m về thiên thai nhưng lối xưa đă che lấp dấu giầy của tiên nương mất rồi.


Chênh vênh đầu trượng thiền sư
Cửa non khép ải sương mù bóng ai
Non xanh ướm hỏi trang đài
Trăm năm c̣n lại dấu hài động hoa


Phải chăng đến một lúc nào đó ta cũng nên đi t́m một ĐỘNG HOA VÀNG cho riêng ḿnh các bạn nhỉ?

 


Sài G̣n, bên bờ Kênh Tẻ, Quận 7, tháng 10-2020
NGUYỄN AN B̀NH
 


Tham khảo:


- T́m “Động hoa vàng” của Đặng Tiến trên tập san Quán Văn số 32
- Ư nghĩa của bài thơ Động hoa vàng của Nguyễn Mộng Khôi
- “Động hoa vàng” của Phạm Thiên Thư trên báo Tuổi Trẻ online ngày 5/12/2016
- Bài thơ Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư nh́n từ Văn Hóa Thiền của Hồ Tấn Nguyên Minh.
- Đến Động hoa vàng gặp “Gă từ quan” của Lê Bá Lư


 

 

art2all.net