|
NHẬN ĐỊNH TÁC PHẨM
TRẦN HOÀI THƯ,
NHÀ VĂN MỘT
ĐỜI
THAO THỨC VỚI VĂN CHƯƠNG.
Giữa tháng 11/2020 tôi nhận
được sách do nhà văn Phạm Văn Nhàn gởi từ
Mỹ về. Ngoài số tạp chí Thư Quán Bản Thảo(TQBT)
số 89 phát hành từ tháng 6-2020
với chủ đề Thơ Văn Mùa Đại Dịch
do đường bay bị cắt đứt v́ dịch Covid
19 c̣n có tập sách nhỏ khá xinh xắn mang
tên Cảm Tạ Văn Chưương(CTVC) - Tác phẩm mới
của nhà văn Trần Hoài Thư vừa được
Thư Ấn Quán phát hành tháng 10-2020 dành tặng cho thân hữu.
Đây là một ấn phẩm đặc biệt v́ nhiều lẽ: Nó ra đời trong hoàn cảnh nhà văn vừa mới bị stroke nhẹ đang trong quá tŕnh tập luyện hồi phục mà việc thực hiện in ấn CTVC ở dưới basement của anh là một mặc dù cử động tay chân gơ chữ trên máy tính lúc nầy c̣n khá khó khăn và chậm chạp, thứ nữa theo anh đây là hồi ức văn chương, một đời anh say mê đeo đuổi và cống hiến nên nó có một giá trị nhất định đối với những ai yêu quí văn thơ anh và muốn t́m hiểu văn nghiệp của anh. Ngay ở trang 2 của CTVC anh có nêu: “Chúng tôi chân thành cảm tạ bạn hữu và thân hữu TQBT xa gần đă tỏ ḷng lo lắng thăm hỏi sau khi chúng tôi bị stroke ngày 22-6-2020. Rất may, nó chỉ là stroke nhẹ, để chúng tôi có thể tiếp tục con đường mà chúng tôi theo đuổi...”. Tôi biết anh thực hiện quyển CTVC như một minh chứng hùng hồn rằng thằng stroke kia ơi, mầy không thể đánh bại được ta đâu, hăy nh́n đây ta vẫn sống sót và ta đang đi trên con đường văn chương của ta không ngơi nghỉ giống như ngày xưa ta vẫn sống trong lằn tên mũi đạn, sống chết chỉ tính bằng ngày thậm chí bằng giờ bằng phút bằng giây anh vẫn vượt qua th́ cái bệnh chết tiệt kia nào có sá ǵ kia chứ.
Cầm quyển sách nhỏ trên tay tôi rất cảm động, v́ biết anh đă thật sự cố gắng để thực hiện nó khi sức khỏe chưa thật sự tốt. Tập CTVC gồm 23 chương, nhà văn Trần Hoài Thư ghi lại những kỷ niệm thời ấu thơ vất vả, nhọc nhằn đầy buổn thảm của những ngày sống ở cái xóm Rộc – Nha Trang, bị xua đuổi coi thường “Cút đi thằng con hoang, bộ hết lúc, lại lựa vào lúc tao đang ăn cơm…” nơi trồng đầy rau muống mà mỗi tối, theo gió, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc từ nước phân chuồng tưới rau bay về rất khó chịu, những ngày phải lội bộ hàng chục cây số khoảng đường giữa Nha Trang và Cô Nhi Viên Ḥn Chồng để được học lớp đệ thất của trường miễn phí v́ thi rớt vào trường công lập, con đường đi đến văn chương t́nh cờ bằng một bài văn định mệnh “Nước Mắt Tuổi Thơ” đăng trên Bách Khoa, rồi các tác phẩm sau nầy trên Văn, trên Vấn Đề trên Văn Học…
Nhà văn Trần Hoài Thư đến với văn chương như một cái nghiệp: “Sống có nghĩa là viết. Viết có nghĩa là sống” chính v́ thế anh viết khá dễ dàng nhất là khi anh bước vào nghiệp lính: Viết bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào: lúc hành quân, lúc dừng chân nghỉ đêm giữa những mồ mả trùm poncho mà viết, ở quán cà phê, trong các cuộc nhậu cùng bạn bè lúc tàn cuộc…, và với bất cứ loại giấy nào có thể viết được. Anh cảm tạ văn chương v́ nhiều lẽ: Nhờ văn chương mà anh biết Bách Khoa, biết ngôi nhà 160 Phan Đ́nh Phùng, biết thế nào là cơ duyên cho một người lính từ miền cao xuống và một cô gái từ đồng bằng lên, có cơ hội gặp nhau nên vợ nên chồng. Chị Nguyễn Ngọc Yến, từ một độc giả yêu văn anh trở thành người t́nh, người chinh phụ rồi người vợ tù đă khuyến khích anh viết, đồng hành với anh suốt mười năm. Vực dậy một nền văn học miền Nam một thời phát triển rực rỡ bị khói phần thư thiêu rụi bức tử.
Nhà phê b́nh văn học Đặng Tiến
có viết: “...Trụ sở
Bách Khoa là nơi hẹn và là hộp thư. Chuyện t́nh Trần
Hoài Thư, lúc ấy c̣n kư Trần Quí Sách, là chính đáng, có
những quan hệ linh tinh, của các nhà văn, nam và nữ,
th́ hằng hà sa số. Nhưng Lê Châu không bao giờ kể”.(CTVC
trang 83).
Văn chương như một liều thuốc, một cái phao mà anh vớ được trong những ngày bỏ Huế, bỏ mối t́nh đầu tiên với bao dự tính c̣n ngổn ngang trong đầu, để rồi nó rung lên như một cung đàn lỗi nhịp, thành một bài thơ mà anh không đành cất giấu trong tim và mong được nàng đọc được, một thiếu nữ Huế tên Quỳnh nào đó mà tôi cố h́nh dung ra nhưng không tài nào được, nó mờ mờ sương khói giống như anh nhận ra người giáo sinh sư phạm Qui Nhơn tên Quỳnh đang ngồi trước mặt anh chỉ là một nhân ảnh mà thôi:
Một chuyến
bay nào mang anh về Sài G̣n
Một chuyến
bay nào mang em về Qui Nhơn
Trời quê
hương mù sương mù sương
Tôi mang đôi mắt
em. Buồn muốn khóc.
Cho tôi nh́n một
lần cuối nhớ thương
Cho tôi nh́n ngôi
nhà gió phi trường
Cầu rất
khẽ con tàu đừng bay vội...
Văn chương đă đem đến nguồn vui, niềm hy vọng và anh đă viết được nhiều đến thế. Trong 3 năm ở đại đội thám kích 405 anh đă viết được hàng trăm truyện ngắn. Viết tháo, viết hối, viết mà không cần xem lại, viết như sợ không c̣n có dịp viết nữa, thật tội nghiệp cho các ṭa soạn báo biết bao khi phải ḍ từng chữ, đoán từng câu xem anh viết ǵ v́ theo nhà văn Phạm Văn Nhàn chữ Trần Hoài Thư viết rất xấu và c̣n viết tháo nữa th́ đọc có mà chịu chết.
Trần Hoài Thư cảm tạ văn
chương v́ nó giúp anh gặp một độc giả
đặc biệt: thiếu tá Nguyễn Lạng, y sĩ
trưởng quân y viên Ban Mê Thuột; anh t́nh cờ gặp
Nguyễn Lạng trên cao nguyên khi anh bị giáng cấp và
đổi lên Ban Mê Thuột chiến đấu v́ tội
đào ngũ ở tiệm sách Văn Hoa lúc ông đang xem tờ
tạp chí Bách Khoa số có đăng một truyện ngắn
của anh, anh tự giới thiệu ḿnh là nhà văn Trần
Hoài Thư và kư tặng quyển sách đó cho Nguyễn Lạng,
bắt đầu cho một t́nh bạn mà Trần Hoài
Thư xem như là một ân sủng của thượng
đế dành cho ḿnh. Ông y sĩ trưởng nầy đă
giúp anh nhập viện để chờ chuyển về
QYV Cộng Ḥa khám mắt để khỏi phải ra chiến
trường, chính trong 5 tháng nằm tại QYV Ban Mê Thuột
mà anh đă sáng tác rất nhiều truyện ngắn hay trong
đó có Bệnh Xá Mùa Xuân mà Mai Thảo đă giới thiệu
trên Văn sau đó với một lời tiên đoán mà thời
gian sau nầy đă xác thực được điều
đó: “...Từ mấy năm
nay, theo dơi những bước chân của Trần Hoài
Thư trong cơi văn chương sáng tác đặc thù của
những người lính trẻ, viết dưới bóng cờ,
viết bên súng trận, tôi vui mừng nh́n thấy sự trầm
tĩnh đó ở Trần Hoài Thư, một Trần Hoài
Thư mà hào quang chưa sáng chói bây giờ, nhưng tôi tin,
sau nầy, không lâu, là nhà văn trẻ có điều kiện
hoàn thành được những tác phẩm có kích thước,
có trọng lượng”.
Không cảm
tạ văn chương sao được khi mà nhờ nó
đă nối kết những kẻ yêu văn nghệ t́m
đến nhau như một chất keo kết
dính dù họ xuất thân ở những con đường
khác nhau: người lính trong thời chiến, thầy giáo,
đào binh, thanh niên trốn quân dịch,
công chức…trên một đất nước chiến tranh
và đầy chết chóc, nhà văn Phạm Văn Nhàn
đă ghi nhận lại khi viết về Trần Hoài
Thư: “Làm sao tôi không nhớ
được bạn bè trong ngôi nhà ấy, mà anh đă nhắc
đến: Phạm Cao Hoàng, Lê Văn Trung, Mường Mán,
Thái Ngọc San, Mai Khế, Lê Văn Ngăn…Vâng, c̣n nữa.
Cả nhà thơ Nguyễn Phương Loan(pháo binh chết
trận Kontum) cả nhà báo Huy Hoàng – đă mất – một
thời đến ở chơi trong căn nhà khu sáu nầy.
Ngôi nhà ấy: …Chiếc mền đắp ba bốn
thằng dơ bẩn Những chén cơm khô chưa rửa Và cửa đôi khi mở ra Một gương mặt ló vào Để không bao giờ gặp lại.”
(trang 18- 21
khuôn mặt văn nghệ miền Nam)”
Nguyễn Lệ
Uyên cũng có cùng một suy nghĩ như thế: “…những người viết trẻ
thời đó, chỉ gặp nhau trên trang báo, biết tên
nhau, biết địa chỉ “lờ mờ” của nhau kiểu
“văn kỳ thanh”, nhưng khi giáp mặt th́ tay bắt mặt
mừng y như rằng họ là những người bạn
cố tri lâu ngày gặp lại. Đây là một đặc
điểm có một không hai của những anh em viết
văn miền Nam trước 75, không khoảng cách, không
phân biệt dẫu là những người viết thân Cộng.”(Người vịn
thơ đứng dậy- trang 177,TQBT 79)
Trần Hoài Thư cảm tạ văn chương
c̣n một lẽ khác. Nhờ nó mà anh từ giă
được đại đội thám kích đầy tai
ương và chết chóc, trở thành phóng viên chiến
trường ở miền Tây qua sự điều động
của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị để
có thể sống sót cho đến ngày tàn cuộc chiến.
Đó không phải là một phép lạ hay sao? Khi cầm sự
vụ lệnh trong tay anh đă vui mừng khôn xiết “Xin cảm tạ văn
chương. Nhờ văn chưương mà tiếng
chuông ngân vang, như những niềm vui lẫn tự hào kỳ
diệu. Nhờ văn chương mà ta quên đi thân phận
nhục nhằn. Nhờ văn chương ta thấy ta cao
lớn hơn bao giờ”( trang
177 –CTVC)
Một câu chuyện vui khác mà văn
chương mang lại cho anh mà anh phải cảm tạ nó
trong phần cuối tác phẩm anh có nói về bức thư
của nhà thơ Trần Vạn Giả gởi cho anh sau nầy,
cái tên Trần Hoài Thư đă cứu nạn cho anh ta:
Năm 1972 TVG trốn quân dịch ở Nha Trang,
nhưng trốn măi ở nhà họa sĩ Thanh Hồ cảm
thấy không an toàn nên nhờ người bạn giúp
đưa về tạm cư ở Băi Giếng, Cam Đức,
Cam Ranh nhưng chưa đến nơi th́ bị cảnh
sát bắt. Khi bị giải đến viên trung úy chi cuộc
trường TVG nhanh mắt nh́n thấy trên bàn làm việc
của anh ta có mấy tờ tạp chí Bách Khoa, Văn... Biết
tay sĩ quan nầy yêu văn chương nên TVG mạo nhận
là nhà văn
Trần Hoài Thư, chính nhờ đó mà TVG
được đối xử ưu ái và thoát khỏi trại
giam một cách hợp pháp, việc nầy Trần Hoài
Thư đă hóm hỉnh viết: “...Đó
là t́nh thân của những người làm văn nghệ miền
Nam – đặc biệt ngoài ṿng đai SG – và t́nh độc
giả...Và văn chương thêm một lần
được cảm tạ. Chẳng những nó cứu
tôi mà c̣n cứu bạn. Có phải vậy không?”
Hoặc nói như nhà văn Phạm
Văn Nhàn: Trước 1975, chỉ
ở miền Nam, những người cầm bút dù là lính
hay không phải lính, chưa gặp lần nào. Mà nếu có gặp nhau xem như thân
quen tự lúc nào.( trang 159-TQBT số 79)
Mấy mươi năm sau ở xứ lạ quê người, nước Mỹ - nơi tạm dung, cái nghiệp văn chương lại vận vào anh khi anh gặp lại Phạm Văn Nhàn và cùng Phạm Văn Nhàn thực hiện tạp chí TQBT, anh vẫn xác định văn chương là người bạn đồng hành là sự sống là cứu cánh và anh tự hào về điều đó:
Sáng nay ta
đẩy chiếc xe chở Thư Quán Bản Thảo
để gởi đến mười phương
Nàng bưu
điện cười ta bằng nụ cười
hết xẩy
Bà khách hàng
đứng bên hỏi ông gởi ǵ nhiều vậy
Ta hănh diện
trả lời, tôi gởi sách của tôi
Vâng, thưa
bà, tôi là một nhà văn!!!
Xem bà ta rất
cảm phục vô ngần!
(Gặp…,
trang 35- Khi Nhớ Về Bà Gi)
Chính nhà
văn Nguyên Minh trong một lần qua Mỹ ghé thăm “ṭa
soạn Thư Quán Bản Thảo” đặt ở tầng
hầm nhà Trần Hoài Thư cũng rất ngạc nhiên:
“Từ
căn hầm kín mít, đầy ấp những kệ sách,
những máy in nhỏ nhắn, máy cán b́a láng, máy dán gáy sách, những
computer, màn h́nh vi tính. Tạp chí Thư Quán Bản Thảo
được in ra tại nơi nầy. Với một
cơ sở ấn loát “không giống ai”.
Và anh nhớ lại:
“Ngày xưa. c̣n là một người
lính thám kích nhưng đôi mắt cận thị nặng Trần
Hoài Thư chỉ biết nh́n, đầy thán phục và ngạc
nhiên về cơ sở ấn loát của tôi. Thời đó
tôi chỉ cần một máy đánh chữ cá nhân, những
tờ stencil, một
bàn cắt giấy, vài tuưt mực đen, thế mà cũng
hoàn thành mấy trăm tập truyện ngắn Nỗi
Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang tác phẩm đầu
tiên của Trần Hoài Thư.”
Nhà văn Nga A.Solzhenitsyn có viết: “Văn chương không phải hơi thở của xă hội đương thời, Không dám nói lên nỗi đau và sợ hăi của xă hội đó, không cảnh báo kịp thời những mối nguy hại đe dọa đạo đức và xă hội, thứ văn chương đó không xứng đáng với cái tên của văn chương, nó chỉ có cái mă ngoài. Thứ văn chương đó đánh mất ḷng tin của con người, và những tác phẩm của nó được phát hành bị dùng như giấy lộn thay v́ được đọc.” Tôi nghĩ văn chương của nhà văn Trần Hoài Thư đă viết và nói lên được điều mà A. Solzhenitsyn đề cập đến, một điều giúp cho người đọc thấy được, công nhận giá trị của tác phẩm và giúp nó sống măi với thời gian.
Tôi cũng rất đồng cảm với
Trần Hoài Thư trong lời Cảm tạ văn
chương cuối tác phẩm của anh xuất phát tận
đáy ḷng: “Thêm một lần
tôi phải cảm tạ văn chương. Nó đến
khi tôi ngă xuống. Nó giúp tôi vịn mà đứng dậy. Nó
là chiếc gậy thần, tôi chống mà đi”(trang
213-CTVC)
Tôi yêu quí Trần Hoài Thư bởi anh không chỉ là rể miền Tây sông Hậu-quê hương của tôi- như anh trả
lời email của tôi khi lần đầu
tiên tôi gởi bài cho TQBT mà c̣n v́
t́nh yêu anh
dành cho văn chương, tôi đă đọc truyện của
anh từ rất sớm khi tôi bắt đầu gởi bài
cộng tác cho Văn Học, Văn trước 1975 và cái
nghiệp văn chương khi anh thực hiện tạp
chí TQBT và nhà xuất bản Thư Ấn Quán,
tủ sách Di Sản Văn Học Miền Nam (trong tủ
sách nầy tôi được anh chọn mấy bài vào tập
Thơ Miền Nam Thời Chiến - tập
2 và
tập Lục Bát Miền Nam dù lúc
đó tôi chưa từng quen anh)
Từ anh tôi cảm phục luôn người bạn đời Nguyễn Ngọc Yến của anh, từ một độc giả yêu văn anh đă trở thành người bạn đời luôn ủng hộ công việc của chồng. Cũng bật cười thuở ấy chị Yến làm quản thủ thư viện trường Đại Học Cần Thơ, nơi chị làm việc chỉ cách giảng đường tôi đang học có vài bước chân chớ mấy gặp nhau dễ dàng mà lại có biết đâu đến nay xa xôi ngh́n trùng muốn ao ước được gặp chị một lần th́ nào có được đâu. Nhất là từ ngày chị Yến bị đột quỵ lần 3 phải vào Nursing home th́ nơi anh ở thành “ngôi nhà luộm thuộm thiếu bàn tay chăm sóc nhiều năm, đến cái basement ngổn ngang computer, máy in, máy xén…Basement nầy là nơi để bạn khỏa lấp thời gian những đêm mất ngủ, những ngày chờ đợi giờ giấc ra vào nursing home. Thư Quán Bản Thảo, tủ sách Di Sản Văn Học Miền Nam là hơi thở của bạn”(Lữ Quỳnh, Bồi Hồi Biển Dâu, trang 198-TQBT số 79) và tôi tin rằng anh sẽ vượt qua bệnh tật để tiếp tục thực hiện tạp chí TQBT với t́nh yêu văn chương không ǵ sánh nổi giống như ngày xưa anh từng vượt qua cái chết trong chiến tranh vậy..
Bên bờ Kênh Tẻ, cuối tháng 11-2020
_____________
|