Nguyễn Hoàn Nguyên
QUYỂN SÁCH T̀NH CỜ THÁNG TƯ

Ngày thứ sáu của tuần
lễ cuối tháng tư này tôi được nghỉ làm. Như thế tôi có được một cái
cuối tuần dài cho đến hết chủ nhật. Nhận thấy căn pḥng làm việc
trên gác của ḿnh quá đỗi bề bộn, tôi bèn phát tâm dọn dẹp cho ngăn
nắp. Xong xuôi mọi chuyện, buổi sáng thứ bảy vẫn chưa trôi qua hết.
Sẵn trớn tôi sắp xếp lại luôn những quyển sách trên đầu giường trong
pḥng ngủ. Chồng sách cuối cùng nằm đè lên một tờ tạp chí cũ. Khi
lấy chồng sách và tờ tạp chí khổ lớn này đi, một quyển sách mỏng nằm
bên dưới bỗng hiện ra bất ngờ: quyển Ɖọc Kinh của Vũ Khắc Khoan.
Tôi cầm quyển sách lên săm soi. Kư ức của tôi từ chối không cho biết
ḿnh đă đọc quyển sách này xong và để đó từ bao giờ. Lâu lắm tôi
không cầm đến một quyển sách có đề tài như thế. Thế giới có quá
nhiều chuyện xảy ra, tôi cũng bị cuốn hút theo những cơn gió biến
động thời sự qua báo chí và truyền thông xă hội trong thời gian qua.
Nh́n nhiều nơi trên thế giới và nhất là nh́n ngược trở lại quê hương,
có thể ví von bằng vài lời tượng của quẻ Bĩ: “Thời đại bế tắc
không phải là thời của đạo người. Sự trinh chính của quân tử chẳng
có lợi. Cái lớn đi, cái nhỏ đến, trời đất không giao cảm nên vạn vật
không thông”. Nào là Nhân Quyền ở Việt Nam, Biển Ɖông, chảo dầu
sôi Ɖông Nam Á, IS, khủng bố ở Âu Châu, Brexit, bầu cử tổng thống,
v.v.…
Tôi ngồi xuống giường lần giở những trang đầu và đọc lướt qua phần
lời tựa “Nhân ngày kỵ họ Vũ” của ông Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng. Tôi
đọc sang phần I mở đầu quyển sách với với đề mục
Như Lai Vô Sở
Thuyết, được ông Vũ Khắc Khoan bắt đầu đặt bút viết vào mùa đông năm
1984 trên đất nước Hoa Kỳ:
Tuyết rơi từ vào khuya, mặt trời vừa mọc, tuyết đă ngập trắng vườn
sau. Tôi đẩy thêm một khúc củi vào ḷ. Nh́n lửa bốc ngọn, nhớ lại
mấy vần thơ cũ đă quên mất cả nguyên văn:
Chàng như mây mùa thu
Thiếp như khói trong ḷ
Cao thấp tuy có khác
Một thả cũng tuyệt mù
Ɖọc lại bài thơ. Rất nhỏ, từng chữ, từng vần. Rất nhỏ, đủ để một
ḿnh ḿnh nghe. Cho đến khi lời thơ tan ră, ư thơ nhạt nḥa, cho đến
khi trong tôi, về bài thơ, rớt lại chỉ c̣n một chút bâng khuâng
không tên th́ tôi lặng thinh đi vào cái bâng khuâng đó. Quanh một
chữ Tuyệt mù. Nghĩ đến một cánh chim thoáng trên mặt nước. Bóng chim,
nước không lưu giữ. Chim đâu để lại đường bay? Khói mây tan tác. Âm
thanh, màu sắc cũng vậy. Cũng vậy, thiếp và chàng, Tất cả, một thả
cũng tuyệt mù. Kể cả chữ và lời. Kinh và Kệ.
Từ một bài thơ nhỏ “quên mất cả nguyên văn” với những cảm nhận sau
đó dần dần thấm sâu vào một tâm thức mênh mông, buông xả mọi ngôn từ
và h́nh tướng một cách đầy thiền vị. Nhưng cũng bằng phong cách đầy
chất nghệ sĩ tính. Nhưng có thể cũng chẳng phải như thế, mà là một
phong thái đặc thù riêng biệt theo cung cách Vũ Khắc Khoan.
Những ḍng chữ bỗng dưng thật quyến rũ làm tôi không dừng được và
cảm thấy tựa hồ như tôi đọc đoản văn này lần đầu tiên. Bằng phong
cách cảm nhận bài thơ nhỏ trên, ông Vũ Khắc Khoan bắt đầu “đụng” đến
vấn đề lớn trong tư tưởng Phật Giáo Ɖại Thừa: cái chân lư rốt ráo
tuyệt đối không thế nghĩ bàn. Cái mà ông gọi là
Cái đó, cái mà cho
tới hôm nay chưa một vị thiện trí-thức, chưa một vị bồ-tát nào mô tả
được h́nh tướng, xác định được thể chất, cái đó có thể giản dị như
mưa và nắng, hiện hữu rất tự nhiên – mặt trời lại mọc lúc đêm tàn –
nhưng cũng lại có thể vô cùng phức tạp, ẩn hiện vô lường, với vô
lượng danh hiệu, mỗi danh hiệu là một khía cạnh đặc thù.
Liền sau đó ông nêu lên một loạt danh hiệu làm tôi muốn chóng mặt:
Chân Tâm, Diệu Tâm, Minh Tâm, Bồ Ɖề Tâm, Giác Tánh, Chân Như, Phật
Tánh, Pháp Giới Tánh, Không Tánh, Như Lai Tạng Tánh, Bát Nhă…, cái
tột không, cái diệu sắc, cái bất-khả-tư-ngh́, cái rốt ráo cuối cùng…
Nhưng rơ ràng là đối với ông Vũ: từ bỏ nước ra đi, những nửa khuya
tỉnh giấc, cái đó – chính nó – đôi khi vẫn thấp thoáng trong tôi,
hóa thành những lời tra vấn trớ trêu, những tại sao ray rức, lăng
đăng quanh tôi, tưởng như dễ dàng nắm bắt, bỗng lại xa vời, nḥa dần,
biến hẳn, tuyệt mù…
Từ nỗi thao thức dằng co đó, ông Vũ tiếp tục cuộc hành tŕnh tâm
linh của ông – dĩ nhiên cũng bằng phong cách thơ mộng, nghệ sĩ theo
kiểu Tuyệt mù – và đôi mắt tôi lại lần lượt lướt qua những ḍng chữ
trong khi tay tôi b́nh thản lật sang những trang sách kế tiếp để
chạy đuổi theo ông. Tuy dằng co thao thức như vậy, ông Vũ lại dạo
bước thong dong, ghé qua những quyển kinh đại thừa. Chỉ trong một
vài trang giấy những quyển kinh lớn lần lượt xuất hiện hay được nêu
danh lại gây thêm cảm giác choáng váng: Kinh Duy Ma Cật, Lăng Già,
Pháp Hoa, Viên Giác, Kim Cương Bát Nhă Ba La Mật Kinh, Bát Nhă Tâm
Kinh, Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm,…
Nhưng rơ ràng ông Vũ không phải là một tín đồ thuần thành ăn chay,
giữ giới tiêu biểu. Bởi v́ ở trang kế tiếp người bạn thân của ông,
Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng, đă nhiều lần răn nhủ ông:
Này ông Vũ
Khắc Khoan ơi, ông phải bớt đàn đúm với bọn lăng tử để dành th́ giờ
mà tu tỉnh đọc kinh. Ɖâu phải ông Vũ không chịu lắng nghe và không
hiểu lời khuyên nhủ chân t́nh đó. Nhưng biết rồi…
nhưng khốn một nỗi,
Khoan tôi căn cơ thô lậu, tâm thức lại hay lưu luyến tiếng tơ tiếng
trúc, cho nên chân tuy đĩnh đạc bước thẳng mà vẫn thấy tạt ngang vào
nơi ca lâu tửu quán, giọng cất lên muốn bàn câu đạo lư mà vô t́nh
vẫn họa cùng một điệu với tiếng cười hô hố của đám lăng tử sông hồ.
Cũng do vậy mà bao nhiêu kinh sách bạn vàng gởi đến, thảy đều được
trịnh trọng xếp lên giá sách, giữ ǵn cẩn thận. Thế thôi. Nhưng ngại
đọc. Thoảng hoặc có miễn cưỡng mở ra th́ cũng loáng thoáng mấy trang,
cho đến khi khựng lại trước những danh từ dựng lên chất ngất… Có thế
v́ vậy nên ông Nghiêm Xuân Hồng cho rằng ông Vũ sau khi mất có thể
thọ sanh làm một vị thần trong một chiếc hồ thơ mộng ở tỉnh Hàng
Châu “v́ cái vụ đó có thể hợp cùng duyên nghiệp và tâm tính của anh
ta” như ông đă viết trong phần lời tựa.
Ȏng Vũ cũng đưa vào trang sách một trường hợp khác của một người
nghệ sĩ khác trong văn học Việt Nam: thi hào Nguyễn Du với bài thơ
Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Ɖài khi ông đến viếng nơi
nầy trong lần đi sứ ở Trung Quốc vào khoảng đầu thế kỷ thứ 19. Ȏng
Vũ trích hai câu thơ Ngă độc Kim Cương thiên biến linh. Kỳ trung áo
chỉ bất đa minh, cho thấy Nguyễn Du đă đọc kinh Kim Cương có hơn
ngh́n lần mà ư nghĩa thâm sâu trong kinh ông cũng không hiểu rơ hết.
Ɖó không phải là một thú nhận nỗi bất lực riêng của Nguyễn Du trước
những trang Kim Cương mà c̣n là một thú nhận nỗi bất lực của ngôn từ
và văn tự của con người khi muốn nắm bắt cái chập chờn “áo chỉ” của
cơi vô ngôn đó, bất khả tư ngh́.
(…) Không ai nói pháp Kim Cương. Không ai nghe pháp Kim Cương. Vọng
tâm? Chân tâm? Ɖừng đặt vấn đề. Không có vọng, không có chân. Trong
suốt ba đời, không có cả Tâm. Ɖă tới cơi đó, Ba La Mật Ɖa. Cơi đó,
chân kinh. Cơi đó, im sựng. Như đá, tạm gọi là đá. Phật đâu có
thuyết lời nào?
Nhưng rồi bỗng một hôm, ông Vũ bắt gặp ḿnh ngẩn ngơ trước giá sách,
đang lần dở mấy trang Lăng Nghiêm. Và như thế mọi chuyện bắt đầu.
Ȏng đă trả Nietzsche, Dostoievski, Sartre, Singer lần lượt về giá
sách. Ɖầu giường ông chỉ c̣n lại kinh và kệ.
Nhưng đêm đêm trước
những pháp hội mở ra, Khoan tôi vẫn mang tâm trạng một người ngoại
cuộc. Thường vẫn lặng thinh, để mặc cho ḍng vọng tưởng theo lời
kinh dấy lên lôi cuốn, ngây ngây, dại dại rơi theo cái trùng trùng
đan kết những h́nh tướng dâng lên muôn h́nh vạn dạng biến hóa. Ɖôi
khi kinh dẫn tôi trở về ngày cũ. Bất giác tôi gặp lại… cái tâm hồn
ấu thơ thuở nhỏ, trốn học, “phiêu lưu” dọc 36 phố phường Hà Nội,…
Những giây phút đó, lâng lâng lời kinh dời hẳn nghĩa kinh, lời kinh
kể chuyện cổ tích, rủ tôi đi vào một cơn mộng du hoang vu thăm thẳm,
tṛng mắt ruổi bắt bạt ngàn thấp thoáng muôn hồng ngàn tía màu sắc
cầu ṿng loang loáng bong bóng giọt mưa ngâu…
Nhưng cái ông gặp lại không chỉ thuần là những h́nh ảnh quá khứ níu
kéo ông kẹt vào trong đó: Ráng chiều miền đồi Bắc Việt đổ rộng một
nền gạch Bát Tràng. Gốc cau, gốc đại, ngọn cỏ kẽ tường, cánh hoa bèo
tím ngát bờ ao, tất cả lóe lên trong nắng sớm, tan vào trong mùi
ngát của khói nhang. Nắng nhạt rồi tắt ngấm. Ɖất lẫn với trời. Tự
bàng bạc sương khói dâng lên, một cơi pháp thành h́nh, chúng sinh
mộc mạc hiền lành chỉ có một phật hiệu để làm phật sự. Vọng ra từ đó
– mái chùa cong vắt chữ đao, cổng tam quan thềm đá nhẵn ĺ – không
phải là những ngôn từ hiểm trở Lăng-Già, Bát-Nhă, Pháp-Hoa hay
Viên-Giác, mà chỉ Phật hiệu đó, mà chỉ A-Di-Ɖà-Phật. Có thế thôi,
mỗi chiều, b́nh thản vẫn trở về trên vầng trán hai sương một nắng
những bà mẹ Việt Nam. Nén nhang đốt lên, khói nhang vẫn vươn cao và
thẳng tắp. Như mây mùa thu, vẫn tuyệt mù. Như đă thuộc nằm ḷng con
đường trở về nơi đó, nơi mà kinh và kệ từ xưa vẫn hằng hướng tới.
Nơi đó, tắt lời. Cơi đó rốt ráo vô ngôn, vắng lặng, lấy hư không làm
phật sự. Một đóa sen giơ cao, một nụ cười đáp lại. Trong yên lặng.
Cơi đó, chân kinh?…
Ɖôi mắt tôi cứ tiếp tục đuổi theo những bước chân của ông Vũ, lướt
qua những ḍng chữ thoải mái tựa như chèo thuyền trên mặt hồ thơ
mộng trong một ngày đẹp trời nhưng với tốc độ nhanh. Khá nhanh. Và
dĩ nhiên không phải lúc nào mọi chuyện cũng dễ dàng cho ông Vũ. Ngay
cả khi cảm nhận sâu sắc một trang kinh Duy Ma Cật về phương tiện nói
pháp ở cơi nước Chúng Hương, bởi v́ lời kinh loang ra như một chất
men, tôi choáng váng giữa một mê cung dạt dào vọng tưởng, lẫn lộn cả
cực đại, cực vi, hiện tại, tương lai và quá khứ. Ɖâu là mê, nẻo nào
là ngộ?
Cứ như vậy, đêm đêm, Pháp hội mở ra với ông Vũ, lời pháp đối với ông
không nói vọng nói chân, không bàn mê hay ngộ, không nói Thiên đường
và Ɖịa ngục, không nói cả Niết bàn. Lời pháp chỉ rủ rỉ kể chuyện
ngày xưa, hát nhỏ ca dao, lời pháp ấm áp như lời bà ngoại ru cháu
nhỏ…
Tôi có cảm giác tốc độ của chiếc thuyền trong tâm tưởng tôi đang
chậm dần ở những trang cuối: Lời ru cháu lẫn vào tiếng gà gáy lẻ
ngoài vườn. Bà lim dim cặp mắt, cháu ngủ đă từ lâu. Cả bà lẫn cháu
và lời ru, cả ba nhập một. Tôi lặng lẽ d́u tôi đi vào một cơi, mới
dấy lên. Cơi đó, lạ lạ, quen quen. Cơi đó hằng đêm. Cơi đó, riêng
tôi. Một ḿnh.
Và những lời cuối cùng của ông Vũ trong quyển sách:
Lâng lâng trong mù sương nơi ngưỡng cửa Pháp hội. Một ḿnh
Minnesota tháng 7 – 86
Tôi ngồi im giây lâu rồi lật qua các trang kế tiếp. Phần phụ lục có
bài thơ Ngỡ Xuân của ông Vũ. Phần lời bạt là một bài viết của nhà
văn Mai Thảo với tựa đề Thế Giới Vũ Khắc Khoan. Bài này được viết
năm 1982, bảy năm sau khi nhà văn Vũ Khắc Khoan đến Hoa Kỳ và bốn
năm trước ngày ông Vũ từ trần. Ȏng Mai Thảo viết về vợ chồng ông Vũ
ở Mỹ, rồi quay về những biến cố hằn sâu dấu ấn trong lịch sử đất
nước Việt Nam đă xảy ra từ Bắc đến Nam cho đến khi
sang tới Hoa Kỳ,
mỗi kẻ một phương trời, một ông sao sáng, hai ông sáng sao lẻ loi
từng phiến trời lưu đày. Ȏng nhắc về tác phẩm Thành Cát Tư Hăn của
ông Vũ, thời kỳ sinh hoạt văn nghệ Quan Ɖiểm, Sáng Tạo ở Sài G̣n,
một thời đại mà lứa tuổi anh chị tôi đă được tham dự.
Những ḍng chữ tưởng chừng đă dứt sau một đoản văn dài ba mươi trang
giấy, nhưng đôi mắt tôi không dừng lại được. tôi đọc trang kế tiếp:
ƉỌC KINH
đoản văn của Vũ Khắc Khoan
An Tiêm xuất bản lần thứ nhất
tại Paris và Hoa Kỳ - 1990
Tranh b́a và Phụ bản Bàn Tay Phật của Vĩnh Ẩn.
Mẫu b́a của Ɖinh Cường
Ở b́a sau giới thiệu ba quyển sách in trong mùa xuân 1990. Ngoài
quyển Ɖọc Kinh c̣n hai quyển sách khác: Hoàng Tử Bé của Saint-Exupéry
và Mùi Hương Xuân Sắc của Gérard de Nerval. Cả hai quyển đều do nhà
thơ Bùi Giáng dịch.Tôi lật trở sang trang b́a trước, ngắm h́nh b́a
với các lá bồ đề làm nền cho bàn tay Phật tựa như thủ ấn bên dưới
đóa hoa, ngắm cả trang b́a với tên tác giả, tác phẩm và nhà xuất bản.
Tất cả nằm trong một cái khung với các màu cam, màu trắng, đen, xanh
rêu trên nền giấy có màu phơn phớt cam nhạt, hay là một màu tôi
chẳng biết phải gọi tên là ǵ. Ɖây là một quyển sách được in bản
giấy tốt nên bao quanh quyển sách là một mẩu b́a cứng. Phần giấy gấp
lại trong mẩu b́a cứng này có họa chân dung của nhà văn Vũ Khắc
Khoan, bên dưới có ḍng chữ: Vũ Khắc Khoan sanh ngày 27 tháng 2 năm
1919 tại Hà Nội. Qua đời ngày 12 tháng 9 năm 1986 tại Minnesota, Hoa
Kỳ.
Tôi lại tẩn mẩn mở phần giấy cứng gấp lại của trang sau, tiếp tục
thả mắt ḿnh qua các ḍng chữ thật ra chẳng dính dáng ǵ đến nội
dung đoản văn của ông Vũ:
Nhà xuất bàn AN TIÊM có từ năm 1965 tại Sài G̣n (miền Nam nước Việt).
Cuốn sách chào đời của nhà xuất bản: Khung Cửa Hẹp (La Porte Étroite)
của André Gide, Vân Mồng dịch. Cuốn sách in cuối cùng của nhà xuất
bản: Số Không và Vô Tận (Le Zéro et l’Infini) của Koestler, Thạch
Trung Giả dịch… (Thạch Trung Giả đă bức tử sau 1975). Cuối sách nầy
khởi in tháng 2 năm 1975, xong đầu tháng tư năm 1975, phát hành
khoảng 500 cuốn th́ “ngày dài vô tận 30 tháng 4 năm 1975 sụp đến…”.
Trong thời gian 10 năm hoạt động xuất bản, nhà An Tiêm đă xuất bản
gần 100 tác phẩm.
… Sau 15 năm ch́m đắm và lưu lạc, nay tại hải ngoại “nơi chốn bụi
hồng nương thân”, cuốn sách mở đầu cho nhà An Tiêm tại hải ngoại:
ƉỌC KINH, một đoản văn của Vũ Khắc Khoan.
Con thuyền tâm tưởng của tôi giao động, tưởng chừng như chông chênh
trên làn nước cuộn sóng và đang lao vào một ḥn đá tảng chớn chở.
Ɖoản văn của ông Vũ được tiếp nối bởi những ḍng chữ b́nh thường của
nhà xuất bản. Những khoảng thời gian, không gian khác nhau, những
biến cố bất ngờ hiện ra với những con người
hồn ở đâu bây giờ. Rồi
sự t́nh cờ gặp lại quyển sách này đúng vào tháng tư. Tôi cầm quyển
sách, vân vê. Không biết bao nhiêu giờ phút đă trôi qua. Lại săm soi
quyển sách, lật qua lật lại, ḷng bâng khuâng khó tả khi nh́n quyển
sách mỏng này hiện hữu giữa thời đại của những internet, e-book.
Tôi không chỉ đọc phần nội dung trong quyển sách, tôi
đọc cả quyển
sách, từ trang đầu đến trang cuối. Những ḍng chữ của ông Vũ, mới
đọc, ngỡ ông đưa về một cơi siêu thoát nào thật xa xăm, hiểm trở.
Nhưng khi ông cảm nhận sâu sắc lời kinh th́ ông lại càng gắn liền
với cuộc đời hơn. Mọi chuyện trở thành b́nh thường, giản dị. Núi trở
thành núi, sông trở thành sông. Tách rời khỏi những ḍng chữ đầy thị
vị và thiền vị trong đoản văn của ông Vũ, quyển sách tự nó cũng ghi
những dấu ấn thời gian, không gian một cách rất thản nhiên, chất chở
những biến cố đau thương của con người và đất nước mà không cần phải
mô tả chi tiết. Tất cả đều trôi qua như khói mây tan tác, như dấu
chim bay. Tôi đọc sách ngay cả sau khi đă lướt mắt qua hết những
ḍng chữ cuối cùng trong toàn quyển sách.
Vô t́nh tôi thấy ḿnh, bằng một cách nào đó, đă đọc quyển sách gần
tương tự như cách ông Vũ Khắc Khoan đă đọc và cảm nhận bài thơ nhỏ
quên mất cả nguyên văn. Cho đến khi lời thơ tan ră, ư thơ nhạt nḥa,
cho đến khi trong tôi, về bài thơ, rớt lại chỉ c̣n một chút bâng
khuâng không tên th́ tôi lặng thinh đi vào cái bâng khuâng đó. Quanh
một chữ Tuyệt mù… Và quyển sách mỏng b́nh thường này thật ra, tự bản
chất, cũng như một đóa hoa sen giơ cao của đức Phật với một nụ cười
đáp lại của ngài Ca Diếp. Nếu chân thành và kiên tŕ nh́n kỹ, nh́n
sâu, biết đâu thật may mắn có thể sẽ nhận ra được ở giữa đời thường
bể dâu này Cơi đó. Cái đó.
Thật ra đó cũng chỉ là sự khởi tâm mong ước mà thôi. Tôi c̣n thích
đi ḷng ṿng trong tâm tưởng, bận rộn với những thịnh suy, mất c̣n,
hạnh phúc, đau khổ nhị nguyên của cuộc đời và con người. Giả sử có
một vị thiền sư nào đó đi ngang qua, thương t́nh muốn giúp đỡ tôi.
Ngài gọi: :”Hoàn Nguyên!”. Tôi bèn dạ. Ngài cầm lấy quyển sách đưa
lên và im lặng không nói lời nào. Ɖến đây th́ tôi chịu chết, im lặng
hay nói năng ngay lúc này đều tệ hại như nhau. Tôi vẫn chưa có được
cái thấy rốt ráo tṛn đầy để nh́n quyển sách Ɖọc Kinh như là quyển
sách Ɖọc Kinh.
Nguyễn Hoàn Nguyên
art2all.net