ĐẠI NGÃI QUÊ TÔI:
Tài nguyên, Đất nước
& Con Người
Lời dẫn nhập:
Thi sĩ Trần Phù Thế vừa gởi
tặng tôi- Nguyên Lạc 3 tập thơ: Cõi Tình, Giỡn
Bóng Chiêm Bao và Gọi Khan Giọng Tình- Thư Ấn
Quán của thi văn sĩ Trần Hoài Thư xuất bản.
Tôi đã từng giới thiệu rất rõ
về thi sĩ Trần Phù Thế trong bài viết đã đăng
trên các trang trong cũng như ngoài nước VỀ CHỮ
“BẬU”.
Nếu các bạn thích có thể vào
link dẫn này:
VỀ CHỮ “BẬU”- Nguyên Lạc
https://nguyenlac.blog/2019/06/06/ve-chu-bau-nguyen-lac/
Cảm ơn tấm thịnh tình của thi
sĩ, tôi xin trích đẫn vài bài thơ tiêu biểu trong
các thi tập của anh và nhân dịp xin được giới
thiệu đến các bạn quê hương thân mến của chúng
tôi: xã Đại Ngãi, huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng/
Ba Xuyên.
Anh Trần Phù Thế cùng quê Đại
Ngãi và cùng học Trung học Hoàng Diệu, Sóc Trăng
với tôi, thuộc lớp đàn anh.


(Hình chụp sách thơ Trần Phù Thế -
Thư
Ấn Quán của thi văn sĩ Trần Hoài Thư tái bản)
I. Vài bài thơ
tiêu biểu:
Xin được trích ra đây vài bài thơ
tiêu biểu trong 2 tập thơ trên của Trần Phù Thế:
.
THẤY BÓNG CHẲNG HÌNH
nhớ em thấy bóng chẳng hình
thấy trăng trước ngõ thấy mình bơ vơ
bỏ đi từ đó đến giờ
khi nào em nghĩ thằng khờ năm xưa
thằng khờ đợi gió đội mưa
đợi bao nhiêu khổ ngóng chờ ánh trăng
gió lay mờ tỏ bóng hằng
mà anh cứ ngỡ bước chân ai về
nhớ mòn giấc ngủ cơn mê
thấy hình chẳng bóng nằm kề song song
đời anh mộng thực quay mòng
như con cá nược lội vòng theo ghe
.
BÓNG HÌNH LÀ MÁU THỊT TÔI
ôm hình từ buổi sơ sinh
từ khi tiếng khóc bình minh cuộc đời
bóng hình là một trên đời
đừng ai chia cắt tách rời hai nơi
bóng hình là máu thịt tôi
.
TƯỞNG
hôm qua một bữa se mình
thiếu em nên tưởng bóng hình trong mê
tưởng em tay gối nằm kề
nào hay em vẫn chưa về bên anh
về đi khi tóc còn xanh
ngày mai tóc trắng em đành lòng sao
.
NGÃ TƯ CỘT LỒNG ĐÈN
anh từ Đại Ngãi đến
em từ Long Phú qua
sống nhờ trên sông nước
gặp nhau thật bất ngờ
nơi tụ điểm thương hồ
nơi hẹn hò bến đậu
khẳm lừ ghe dưa hấu
no đầy xuồng khoai lang
con nước rong tràn bờ
ghe anh dừng bến đợi
xuồng em hờ gát mái
đôi chèo phơi sương đêm
vô tình anh quen em
Ngã Tư Cột Lồng Đèn
nơi ngày xưa mẹ đến
chở hàng xuôi ngược đêm
nơi ngày xưa cha đến
yêu mẹ qua câu hò
trăng sao làm nguyệt lão
cưới nhau chuyện bất ngờ
*
rồi chiến tranh chợt đến
hai đứa hai phương trời
rồi chiến tranh chợt tắt
hai đứa vẫn hai nơi
tình cờ anh ghé thăm
bến xưa ghe quen đậu
dễ chừng mười mấy năm
gặp em thành cô giáo
cô giáo dạy vùng ven
đôi mắt dấu chân chim
thời gian phai màu tóc
nhưng em vẫn hồn nhiên
nhìn em trên bục giảng
duyên dáng như thuở nào
anh thấy lòng xao xuyến
như lần đầu gặp nhau
(Trần Phù Thế)
.
II. Đại Ngãi quê
chúng tôi:
Đặc biệt là bài thơ anh Trần
Phù Thế viết tặng tôi và thơ tôi hồi đáp anh, đã
được đăng trên Sáng Tạo org và nhiều trang khác:
.
TRỞ LẠI ĐẠI NGÃI
(gởi anh Phạm Bá Hoa & Nguyên Lạc)*
.
mấy mươi năm trở lại đây
hồn xưa quê cũ vẫn đầy bóng trăng
đêm đi quanh quẩn chợ làng
nghe hồn Đại Ngãi lang thang đâu rồi
cái tên Vàm Tấn tôi ơi
bao năm giờ đã đổi dời ra sao
bước chân tôi vắng tiếng chào
tình thâm nghĩa cũ người nao đâu rồi
ngập ngừng đường đất của tôi
chợ xưa chồm hổm gọi mời gái quê
mấy cây trứng cá sum xuê
buổi trưa bóng mát làm mê dân nghèo
tôi lần ven chợ đi theo
bờ sông bến nước xuồng neo cất hàng
nhìn hoài chẳng thấy đò ngang
bến đò năm trươc giờ san sác nhà
bước chân lại dẫn lối xưa
Tây Nam xay lúa bụi mờ bến sông
xuồng câu Đường Đức ngược dòng
đợi con nước nhửng nước ròng thăm câu
cá lăng cá úc xôn xao
thương con cá cháy biệt màu thời gian
tuồi thơ dấu ấn tuổi vàng
bún ngon cá cháy mở màng trứng thơm
nhớ chiều nhớ thuở chiều hôm
thuyền đi thấp thoáng cánh buồm trong sương
cù lao Dung ôm đại dương
mênh mông sông Hậu còn vương tấc lòng
nhớ hoài con cá lòng tong
hươ tay khỏa nước đặc sông tìm mồi
và con cá chốt tôi ơi!
kho tiêu ngày cũ nuôi đời dân đen
nhớ thôi trường cũ đường quen
giờ sao lạ hoắc lạnh thềm gạch xưa
nghe đâu hồn cũ bây giờ
nghe đâu trong gió bóng cờ tung bay
thầy Sinh như đứng giảng bài
tóc xanh vưong bụi phấn lay bóng người
mỗi lần cô Lệ nói cười
là như tiếng hát mặn đời tuối thơ
tôi về kỷ niệm xa mờ
nghe trong tiềm thức đợi chờ bóng ai
sáu mươi năm thật là dài
mà sao tiếng gió còn lay sân trường…
.
Trần Phù Thế
...................
* Phạm Bá Hoa nguyên là Tỉnh trưởng, Tiểu khu
trưởng Cần Thơ/ Phong Dinh trước 75, cùng quê Đại Ngãi với Trần Phù
Thế và tôi.
.
Bài thơ hồi đáp của Nguyên Lạc:
.
NHỚ VỀ ĐẠI NGÃI/ VÀM TẤN
(Gởi thi sĩ Trần Phù Thế & anh Phạm Bá Hoa)
.
Dẫn:
"Đất Sóc Trăng khô cằn nước mặn
Anh ra Vàm Tấn chở nước về xài
Về nhà sau trước không ai
Hỏi ra em đã theo trai mất rồi" (ca dao)
"Muốn ăn ba khía, ốc len [*]
Thì xuống Rạch Gốc khéo quên đường về
Ai mà muốn học thổi kèn
Nạo dừa hầm với ốc len ăn hoài”(Ca dao tây nam bộ)
"Tháng bảy nước chảy Cà Mau
Tháng mười ba khía hội kéo nhau đi làm
U Minh, Rạch Gốc, rừng tràm
Muỗi kêu kệ muỗi tao ham ba khía rồi" (Ca dao tây
nam bộ)
.
Nhập:
Dặn lòng thôi nhớ chi quê
Nhắn chi bạn hỡi lời thê thiết buồn!
Nhắc chi ngày cũ thân thương
Sóng lòng Đại Ngãi tợ sông vỡ bờ!
.
1.
Tha hương xuân hạ tháng ngày
Hồn quê xưa cũ vẫn hoài trong tôi
Cái tên Vàm Tấn tôi ơi!
Trăm năm vẫn nhớ những lời ca dao
"Ra sông đổi nước ngọt nào
Về nhà trông trước trông sau vắng nàng!
Hỏi ra đã bỏ mất đàng
Theo trai bậu nỡ phụ phàng tình tôi!"
Cái tên Đại Ngãi tôi ơi!
Làm sao quên được một thời thiết tha?
Hồn xưa trường cũ bây giờ
Vẫn trong tôi buổi chào cờ sớm mai
Điếng hồn lời gọi trả bài
Đau tay thước khẽ... thầy rầy nhớ không?
.
2.
Mươi năm dài đủ hay không?
Để quên con nước lớn ròng Hậu giang
Để quên xanh rũ hàng bần
Cầu tre lắt lẻo con còng gió xanh
Cái càng “tổ chảng” “chành bành”
Kẹp tay rướm máu buồn lòng tuổi thơ!
Bãi bùn rượt chạy “có cờ”
Thòi lòi đỏ mắt ngẩn ngơ trố nhìn
Nhớ con “nước lợ” mùa lên
Ốc len ken đặc mùa tình nước rong
Nhớ cua ba khía đỏ càng
Nhớ mùi mắm khía ngọt lòng dân quê
Cá linh theo nước mùa về
Nhớ con cá cháy bụng sề trứng ngon
Ngọt ngào thời ấy có còn?
Thân yêu quê cũ chưa mòn trong tôi!
Đò ngang Nhơn Mỹ thăm người
Cồn xanh trái ngọt miệng cười tay trao
Sầu riêng môi mớm tình nhau
Giờ đây bạc tóc.... lời nào nhớ thương!
Mất nhau từ thuở đoạn trường!
Biệt ly từ thuở bạo cường lên ngôi!
Nhớ đêm Đường Đức tiễn người
Mãi trong tâm thức bóng người bên sông
Ra đi là biết: Đừng mong
Ra đi là biết "xa xăm nghìn trùng"!
Nhớ chi đến Cù Lao Dung?
Nghiệt oan người chịu đau thương người đành!
Oan khiên thấu tận trời xanh
Sinh ly. Tử biệt. Sâm thương cuộc nào!
.
Kết:
Xuân về phố lạ xôn xao
Nhớ chi cố quận mà trào lệ tâm?
Quê giờ đổi mới biết không?
Sao không thay đổi nỗi lòng đã xưa?
Đổi đi thôi chắc cũng vừa!
Làm sao níu được bốn mùa đổi thay?
Cố hương. giấc mộng u hoài
Cố nhân. những tiếng thở dài đêm trôi!
.
Nguyên Lạc
..............
Chú Thích:
* Đại Ngãi tên cũ là
Vàm Tấn, nhà máy xay lúa Tây Nam, Nhơn Mỹ, Đường
Đức, Cù Lao Dung là địa danh nhắc trong các bài
thơ.
-- Quê tôi, xã Đại Ngãi (Vàm Tấn) huyện Long Phú - Sóc
Trăng tọa lạc ở bờ nam sông Hậu, đối diện ngang sông bờ
bắc là Huyện Cầu Kè - Vĩnh Long. Đối diện giữa sông, bên
phải là cù lao Dung chạy dài tới cửa biển Đông, bên trái
là nhiều cồn nhỏ nổi song song nhau (với những bờ cây
bần chạy dọc theo bãi) giữa là khe nước chảy êm đềm.
(Dải đất nổi giữa giòng sông, lớn gọi là Cù Lao, nhỏ gọi
là Cồn. Vàm là đất tại ngã ba sông)
-- Cù Lao Dung (dãi đất dài nổi lên giữa sông, bắt đầu
từ Đại Ngãi chạy ra tận cửa biển Trần Đề, dài ước lượng
khoảng 20 - 24 cây số (12 - 14 miles) (?) ngang độ 1/2
cây số ( 1/4 mile), với "trại cải tạo" Cồn Cát nổi tiếng
dành cho các sĩ quan "Ngụy" và những người vượt biển bị
bắt.
Trong Cù Lao Dung và trong Đại Ngãi có rất nhiều rạch
nhỏ, hai bên bãi bùn có rất nhiều dừa nước, bắt ngang
rạch bởi những cầu đòn tre lắt léo. Nơi bãi bùn có nhiều
còng gió, cá thòi lòi, ốc len... và các bụi ô rô, cóc
kèn...
* Đổi nước: thật ra là mua và bán nước ngọt (nước uống
được), nhưng để tránh chữ "bán nước", người ta nói trại
là đổi nước.
* Cây khoai mì (tên miền Nam) hay Sắn (tên miền Bắc)
* Phương ngữ, Khẩu ngữ (slang) miền tây nam bộ:
- "Tổ chảng": "bự chà bá", "to tổ chảng" "chành bành"
(to quá mức, bự quá mức thường thấy.
- chạy "có cờ": chạy nhanh thành hàng
* Nước "nhửng" là nưởc đứng - thời gian giao tiếp
giữa ròng/lớn.
* Nước "lợ" là nước hòa trộn giữa nước ngọt/
nước sông từ thượng nguồn đổ xuống với nước mặn/
nước từ biển tràn vào, thường ở mùa nắng/ khô.
[*] -- Ốc len
Ốc len (Cerithidea obtusa) là loài ốc thuộc họ
Potamididae, sống tự nhiên ở những khu rừng ngập mặn hay
các bãi bồi ven biển, đây là loại đặc sản quý có giá trị
dinh dưỡng cao được dùng làm nguyên liệu chế biến nhiều
món ăn ngon như: ốc len hầm nước dừa.
Ở vùng Đại Ngãi quê chúng tôi, đến mùa ốc len ken đặc
xung quanh các bụi dừa nước.
@. Mời các bạn thưởng thức món “Ốc len hầm dừa” của Tạ
Phong Tần:
“…Lấy tay bốc con ốc lên, kê miệng vô hút cái rột cho
con ốc chạy tọt vô miệng, cái vị béo, vị mằn mặn, ngòn
ngọt của nước cốt dừa hòa với mùi thơm của sả, vị ngon
lạ lùng đặc biệt của con ốc len mà không có loại ốc nào
có, tạo thành một vị ngon riêng không thể diễn tả bằng
lời được, mà hãy cứ tự mình nấu rồi tự mình thưởng thức
thì mới hiểu vì sao giá ốc len bán ở trên trời. Cho nên,
người miền Tây có câu: “Ai mà muốn học thổi kèn/ Nạo dừa
hầm với ốc len ăn hoài”.
Ăn ốc len hầm dừa chủ yếu là húp nước cốt dừa và “hửi”
thêm mùi vị con ốc, thiệt là giá cho cái sự “hửi” này
hơi bị cao chót vót, người nghèo ngó lên trẹo cổ như
chơi.
Ăn ốc len phải thưởng thức từ từ mới thấm hết cái vị
ngon của nó. Một phần vì nó quá ít, ăn như Trư Bát Giới
ăn nhân sâm thì ở đâu có mà ăn, một phần vì con ốc nhỏ
mà phải cầm lên mút mút, hút hút cho nó chạy thịt ra,
làm sao mà nhanh được. Đôi khi chặt đuôi ốc cạn quá, hút
ốc không ra, nước cốt dừa trong con ốc khô rang, không
hút nữa mà bỏ con ốc trở vô chén của mình, cho nó thấm
nước cốt dừa trở lại, một lúc sau lại bốc lên hút tiếp…
“ (“Ốc len hầm dừa” của Tạ Phong Tần – Báo Trẻ online)

(Hình con ốc len)
-- Ba khía/ mắm ba khía:
- Con Ba khía (Freshwater Crabs/Three-striped crab):
Danh pháp khoa học là Sesarma mederi, là một loại cua
nhỏ trong họ nhà Sesarmidae.
Ba khía là một loài họ cua nhỏ có càng to, đặc trưng ở
vùng Nam bộ, sống tập trung ở vùng nước lợ, mặn, trải từ
Cần Thơ đến Sóc Trăng, Cà Mau, nhiều nhất ở U Minh. Do
có ba gạch ở trên lưng nên được đặt tên ba khía.

(Hình con Ba khía)
- Mắm ba khía, là loại mắm được làm từ con Ba khía.
Bài viết sau đây dành cho các bạn ở thành phố
không biết về con ba khía/ mắm ba khía mà tôi có
liên hệ đến trong bài thơ trên: “Chợ Tình" Ba Khía
Cà Mau của Nguyễn thị Việt Hà.
[ Hàng năm, vào mùa nước lên (khoảng từ tháng tám đến
tháng mười Âm lịch), ở Cà Mau, ba khía từ những hang ổ
dày đặc dưới gốc đước, gốc mắm bị chìm trong nước, ba
khía nhiều không biết bao nhiêu mà kể chen chúc nhau bám
vào những thân đước, thân mắm. Gọi là “Chợ tình ba khía”
cho vui chứ thực ra là ở thời điểm này ba khía quần hội
cả một vùng, cư dân nơi này gọi là “ba khía hội”.
Họ hàng ba khía sống tập trung ở môi trường nước lợ, nơi
các cửa sông, cửa rạch đổ ra biển, ba khía có nhiều nhất
ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng,... Thoạt trông
ba khía rất giống cua đồng hoặc giống con chù ụ ở biển
Ba Động Trà Vinh nhưng vóc dáng nhỏ hơn, càng và ngoe
dẹp có thêm ba vạch ở trên chiếc mai màu sẫm nên “chết
danh” ba khía. Rất ngộ, đúng cữ tháng 8, tháng 10 hằng
năm, từng cặp ba khía lềnh khềnh bu kín gốc tràm, mắm.
Mỗi năm chúng chỉ xuất hiện khoảng 3 ngày, sau đó chúng
tản đi đâu hết và năm sau đến hẹn lại lên. Chúng bám
nhau sát rạt từng đôi, từng đôi một dày đặc cả một vùng
như thể tổ chức “đám cưới” tập thể vậy. Tầm đó ba khía
giao phối, sinh sản, cũng là lúc thịt ba khía chắc và
ngon nhất. Nét độc đáo của chợ tình Ba Khía ở Cà Mau đã
tạo nên điểm nhấn đặc biệt cho vùng đất này.
Ngay tại vùng đất mũi cũng có nhiều sự phân chia vùng
sinh sống của ba khía. Chỉ có vùng Rạch Gốc, Tân Ân là
ba khía có thịt ngon, thơm và chắc nịch. Ba khía vùng
này ăn trái đước, vẹt, đặc biệt là trái mắm đen – thứ
cây có nhiều rễ bám sâu vào lòng đất của vùng bãi bồi,
hàng năm rụng trái làm đen cả nước – nên gạch son nhiều
và thịt chắc, ăn rất thơm. Những người sống ở Rạch Gốc
cho biết ba khía có hai loại ngon: Một là loại có càng
to màu xanh chuyên sống trong hang, dưới nước và trong
các khu rừng ngập mặn. Hai là loại ba khía này càng nhỏ,
thân mảnh nhưng chúng kẹp rất đau. Còn loại ba khía ăn
trái mắm trắng có gạch màu tro thì ăn không ngon bằng.
Vào mùa ba khía “sánh đôi” những người dân chuyên nghề
“làm ba khía” tứ phương gói ghém gạo, muối, nước, nóp
ngủ, khạp da bò, khạp ba vú… chất xuống xuồng, neo đậu ở
bìa rừng đợi đêm xuống, khi nước lớn ba khía kéo hàng
đàn ra. Ban đêm ở rừng “muỗi kêu như sáo thổi”, những
người thợ “săn ba khía” mặc áo dày, che kín mặt mũi,
chân tay, lấy vỏ tràm hay lá mắm khô xé nhỏ độn bên
trong áo chống muỗi, cầm đuốc, bơi xuồng bắt đầu “mùa
săn”. Chỉ cần ghé xuồng vào các gốc đước, mắm ba khía
bám đầy không có chỗ trống vuốt nhẹ những "anh - chị" ba
khía còn đang say sưa tình tự, cho vào khạp hoặc cần xé
đặt sẵn trên khoang. Trong một con nước, một người có
kinh nghiệm và cần mẫn có thể bắt được một khạp đầy ba
khía. Ngày trước, nghề làm ba khía bị xem là nghề hạ bạc
của con nhà nghèo, bởi muốn bắt phải ngủ rừng, ăn cơm bờ
bụi, chịu muỗi vắt bu kín mình mẩy. Ca dao cũng ghi dấu
mùa “săn ba khía”:
"Tháng bảy nước chảy Cà Mau
Tháng mười ba khía hội kéo nhau đi làm
U Minh, Rạch Gốc, rừng tràm
Muỗi kêu kệ muỗi tao ham ba khía rồi."
Người ta còn gọi Cà Mau là xứ sở con ba khía bởi nó gắn
bó với người nông dân ở đây từ hồi lập cõi mở đất để đến
bây giờ món ba khía muối trở thành món “lừng danh Cà
Mau”. Muối ba khía cũng phải có kinh nghiệm và kỹ thuật,
quá trình đơn giản nhưng cách pha nước muối thế nào cho
vừa là khó, nếu muối chưa đủ mặn, con ba khía sẽ bủng,
không để được lâu. Cho nên phải qua hai lần nước muối,
con ba khía mới giữ được màu sắc như khi còn sống, thịt
vẫn chắc, mặn dịu, ăn ngon. Kinh nghiệm pha nước muối là
bỏ hạt cơm nguội vào, nếu hạt cơm nổi lờ đờ là được.
Nước muối chuẩn bị xong thì cho ba khía vào khạp da bò
hoặc khạp ba vú ngâm. Tuyệt đối không để nước mưa lọt
vào nếu không ba khía sẽ bị “trớ”, có mùi hôi. Phần nước
muối còn lại trong khạp khi đã ăn hoặc bán hết ba khía
dùng để nấu nước mắm rất ngon.
Từ vài năm nay, người ta chế biến thêm một vài món từ ba
khía nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống đang đòi hỏi ngày càng
đa dạng: Ba khía rang me, ba khía rang mỡ hành, ba khía
luộc "khan" chấm muối tiêu chanh ớt, cháo ba khía, gỏi
ba khía… Độc đáo hơn còn có món canh chua ba khía.
Lần về Rạch Gốc, cậu tôi hì hụi nấu canh chua ba khía
đãi cháu. Trước tiên, rửa ba khía thật sạch đất bùn, sau
đó bóc yếm và bẻ đôi làm hai nửa, tách cả càng, gọng.
Tất cả ướp cùng hành lá giã nhuyễn, thêm đường, chút
nước mắm, ít tiêu vào trộn đều. Bắc chảo dầu lên bếp,
phi tỏi thật thơm rồi cho ba khía đã ướp vào xào sơ. Khi
mùi thơm của ba khía bốc lên cho cà chua đã bổ miếng
vào, đảo đều và nhanh tay cho nước sôi để nguội với
lượng vừa ăn. Đợi nồi canh sôi bùng lên, lọc trái giác
và một ít bắp chuối đã thái chỉ vào. Ba khía chín, nêm
gia vị lại lần nữa cho vừa miệng rồi tắt bếp, rắc thêm
tiêu. Lần đầu tiên được ăn món canh chua lạ miệng đó,
tôi “quất” một bữa no “đã đời”.
...
Nói gì thì nói, ba khía có chế biến thành trăm món ngon
khác thì cũng không “qua mặt” được món nguyên thủy: Ba
khía muối!
Nếu giản dị thì xúc tô cơm nguội, vừa ăn vừa lấy tay bóc
con ba khía muối, nút càng chùn chụt đúng điệu dân miền
Tây rặt. Công phu hơn thì trộn Ba Khía bằng nước cơm còn
ấm, tách yếm ba khía, bẻ ngoe, càng ướp tỏi ớt giã
nhuyễn, chút đường cát trắng, thêm nước cốt chanh, xắt
trái khế thiệt mỏng hay đập dập mấy trái cóc non bỏ vô
tô trộn đều, để một chút cho Ba Khía thấm gia vị… Khi ăn
nhất định phải có đầy đủ rau ăn kèm thì ăn món Ba Khía
mới “bắt”, đó là dưa leo, chuối chát, rau thơm, rau răm,
rau dừa, bông lục bình… Nhiều người ăn cầu kì còn phi mỡ
tỏi cho thơm rồi tưới lên tô ba khía đã ướp để tăng độ
béo. Món ba khía lúc này đã trở nên tuyệt hảo, ngon nhức
răng. Dưa bồn bồn nhận bằng nước vo gạo ăn với ba khía
Rạch Gốc thì ăn “chết bỏ”.
Ba khía giờ không còn là món nhà nghèo mà đã được vinh
danh trong menu ở các nhà hàng, khách sạn nhưng tình
thiệt ăn ba khía trong nhà lá, chan nước chắt cơm, uống
nước mưa hay xúc tô cơm nguội với vài con ba khía ngồi
dưới gốc dừa vừa ăn vừa bốc mới cảm nhận đầy đủ chất
ruộng đồng sông nước miền Tây. Dân miền Τâу quen sống
thanh bạch, mộc mạc; сó lẽ vì thế mà ngaу đến cả món mắm
ba khía đặc sản cũng rất đỗi bình dị với dân quê. Tình
thiệt, mắm ba khía chỉ ngоn nhất khi ăn với… cơm nguội!
Mấy năm gần đây ba khía Cà Mau không còn nhiều như
trước, rừng bãi bồi bị phá, trái mắm đen thưa rụng vì
cây mắm bị triệt hạ nhiều, ba khía “tủi thân” rủ nhau đi
đâu càng ngày càng vắng. Tự dưng nghe nhói lòng khi nghĩ
vào những ngày 30 tháng 8 hoặc tháng 9 âm lịch tới, Cà
Mau không còn “chợ tình” ba khía thì Cà Mau có còn là Cà
Mau… ] - Nguyễn thị Việt Hà

(Hình
Mắm ba khía)
-- Cá cháy
Cá cháy tên khoa học là Macrura
ruversil, cá cháy cùng họ với cá trích nhưng có hình
dáng lớn hơn, thường từ biển vào sông để sinh sản. Thông
thường, cá cháy chỉ xuất hiện ở các lưu vực cuối nguồn
sông Hậu là Vàm Tấn (nay là Đại Ngãi, Sóc Trăng), Tân
Dinh (nay là Tân Quy, Cầu Kè, Trà Vinh) và nhiều nhất là
ở Trà Ôn (Vĩnh Long).
Cá cháy Vàm Tấn con to nhất từ 1 đến
2kg, thân hình hơi dẹp, dài, xương mềm và có vảy phảng
phất màu trắng bạc. Một số loại cá cháy cái mang cặp
trứng to ở khoang bụng. Trứng cá cháy không chỉ hấp dẫn
bởi vị béo không ngậy mà còn ở hương vị thơm ngon khiến
nhiều du khách thèm thuồng muốn nếm thử.
Đặc điểm của con cá cháy là khi bắt lên khỏi mặt nước sẽ
chết ngay. Do đó, người đánh bắt phải nhanh chóng chuyển
cá vào bờ càng sớm càng tốt, nếu cá ươn thịt sẽ mất hết
giá trị.
Xin trích đoạn ra đây bài viết lý thú về cá
cháy:
[...
Cá cháy: Quà tặng một thời của sông Hậu
Theo bộ Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của thì cá
cháy là một thứ cá to vảy, nhiều xương, cái bụng đầy
những trứng.
Theo Wikipedia: Cá cháy thân dẹp, có một kỳ (vây) ở
lưng, 2 vây ở mang và 3 vây ở bung đuôi hình chữ V. Chi
cá cháy có hai loại: cá nam và cá cháy bẹ. Địa chí Cần
Thơ thì lại ghi: “Cần Thơ có những loài cá nổi tiếng,
nhất là cá cháy. Cá cháy trước năm 1956 vẫn còn. Khoảng
tháng 9 – 10 âm lịch cá xuất hiện nhiều trên sông Hậu từ
Cái Côn đến TP. Cần Thơ, nhưng từ đó đến nay thì không
còn nữa”.
Thật ra, cá cháy là loại cá có thân hình hơi dẹp và dài,
vảy to óng ánh, con to nặng hơn 3kg và dài đến 4-5 dm.
Cá cháy thường đi tìn bạn tình và kiến ăn trên sông vào
mùa gió chướng, nhất là lúc sương mù dày đặc, trước và
sau tết Nguyên Đán. Đó chính là thời điểm bà con ngư dân
tập trung khai thác.
Lê Tân, tác giả cuốn Văn hóa ẩm thực ở Trà Vinh,
cho rằng, cá cháy là một loài cá biển mang nét đặc trưng
riêng, gắn liền với địa danh cầu Quan, thuộc huyện Tiểu
Cần, tỉnh Trà Vinh. Có lẽ loài cá này do phù hợp với môi
trường sinh thái vùng giáp nước để tìm bạn giao phối và
sau đó xuôi về miệt biển sinh sống ở vùng ngập mặn.
Chính nhờ vậy mà cá cháy Cầu Quan thơm ngon hơn các vùng
khác trên sông Hậu. Ý kiến này đáng tin cậy vì tác giả
là người đã từng sống ở Trà Vinh và từng thưởng thức món
cá cháy. Tuy nhiên, bảo rằng cá cháy Cầu Quan thơm ngon
hơn các nơi khác thì khó thuyết phục được nhiều người.
Tác giả Lưu Văn Nam thì lại mô tả cá cháy như cá trắm,
thân thon dài, sống ở vùng nước lợ, đặc biệt trên sông
Bassac. Cá về vào khoảng vài tháng trước và sau tết khi
nước mặn từ cửa biển đổ vào vùng Tiểu Cần, vàm Cầu Kè
(Trà Vinh). Trời cuối đông, đầu xuân, sương mù như từ
mặt đất bốc lên nhuộm trắng mặt sông, những con cá cháy
trừng lên mặt nước đớp móng liên tục.
Cụ Vương Hồng Sển cho rằng, cá cháy từ biển lên sông Hậu
Giang đẻ trứng sanh con, có trong mùa gần Tết và chỉ
xuất hiện nhiều từ Vàm Tấn (Đại Ngãi – Sóc Trăng) đến
Trà Ôn (Cần Thơ) và miệt Cái Côn, Cái Cau vùng Kế Sách
(Sóc Trăng) chứ không lên xa hơn nữa.
Qua nhiều tài liệu, chúng ta có thể xác định con cá cháy
không những phân bố nhiều ở Đại Ngãi, Cái Côn (Sóc
Trăng), Cầu Quan (Trà Vinh), Trà Ôn (Vĩnh Long)…mà còn
xuất hiện ở Cần Thơ, cầu Kè (Trà Vinh), những nơi sông
sâu nước chảy và vùng giáp biển.
Ngày nay, đối với những người lớn tuổi ở miền Tây, khi
nhắc đến con cá cháy hình như ai cũng tiếc nuối vì loài
cá này tự nhiên đã bỏ xứ ra đi một cách kỳ bí giống như
một huyền thoại. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, những người
đáng bắt trên sông Hậu ít khi nào tìm lại được hình bóng
con cá cháy.
Tuy chúng đã biến mất khỏi Hậu Giang, nhưng trong kí ức
của nhiều người miền Tây vẫn còn in đậm hình ảnh của con
cá cháy. Nhiều câu chuyện về cá cháy vẫn tiếp tục râm
ran trong giới sành điệu ẩm thực phương Nam. Đúng là
“Sông dài cá lội biệt tăm. Vị ngon còn đó béo bùi vấn
vương”.
Món ăn “danh bất hư truyền”
Xưa kia, người dân Trà Ôn rất hãnh diện về nguồn sản vật
trời cho:
Trà Ôn cá cháy lạ kỳ
Nấu rim, kho mặn, món gì cũng ngon
Bản thân tôi hồi nhỏ cũng được thưởng thức vài lần. Đúng
là ngon tuyệt. Có thể nói thịt cá cháy làm gì cũng ngon:
nướng, luộc, kho mẳn bằm xoài, kho nước dừa, kho rim với
mía, làm gỏi, nấu nước lèo chan bún, món nào cũng có
đẳng cấp. Tuyệt nhất là món mắm cá cháy, một thứ mắm
“danh bất hư truyền”. Tuy nhiên, phiền một nỗi là cá quá
nhiều xương nên trẻ con và một số người chưa quen giẻ
xương không thể tận hưởng được mùi vị của cá mà chỉ ăn
được trứng và dùng nước súp để chan bún.
Với cá cháy, người nấu nước lèo hoặc kho mẳn chỉ cần cho
thêm rau củ mà không cần đường hoặc bột ngọt vì bản thân
thịt của nó đã ngọt và ngọt một cách đậm đà. Riêng đối
với món kho rim, đòi hỏi người làm phải chăm chút tỉ
mẩn. Muốn cho nồi cá rục xương, chúng phải chọn cho được
mía lau đem về chặt khúc, chẻ ra từng lát mỏng xếp độn
dưới đáy nồi, đổ nước vào và chụm lửa riu rui khoảng vài
tiếng đồng hồ. Có người còn sử dụng bí quyết riêng, chỉ
ướp cá với muối và nước màu trước khi kho, tuyệt đối
không dùng đến nước mắm.
Cụ Vương Hồng Sển cho biết tại Sóc Trăng, nhiều bà nội
trợ khéo tay đã biết cách tách thịt cá khỏi xương bằng
cách dùng đũa gỡ vảy cho sạch rồi chụm hai chiếc đũa
trên cổ con cá, nhấn mạnh và kéo mạnh đũa xuống đuôi cá.
Tức thì xương theo xương, thịt theo thịt…Ngoài ra, còn
nhiều cách làm cho cá bớt xương, đặc biệt là bí quyết
kho sao cho xương mềm rệu. Con cá cháy cái có buồng
trứng rất to. Đó là bộ phận hấp dẫn nhất đối với người
mê cá cháy, tuy nhiên không được ăn nhiều vì trứng có
chất dầu dễ làm ảnh hưởng đến tiêu hóa. Cụ Vương rất mê
trứng cá, cụ ca ngợi trứng cá là món “quốc hồn”. Chúng
ta hãy nghe cụ diễn tả: “Một khứa cá cháy có trứng,
kho một lửa, ăn và với bún, ớt xoài chua với một mớ giá
đậu xanh lót dưới tô thì đổi với hộp caviar tôi không
đổi”.
Đặc điểm của con cá cháy là khi bắt lên khỏi mặt nước sẽ
chết ngay. Do đó, người đánh bắt phải nhanh chóng chuyển
cá vào bờ càng sớm càng tốt, nếu cá ươn thịt sẽ mất hết
giá trị. Cũng theo cụ Vương Hồng Sển, cá cháy đánh bắt ở
Cần Thơ sẽ kéo lưới vào lúc chạng vạng, ai muốn ăn phải
đợi tới khuya. Còn cá cháy ở Vàm Tấn (Sóc Trăng) thì
lưới vào sáng sớm nên việc mua bán thuận lợi hơn, ăn cá
tươi ngon hơn. Vì cá cháy quá ngon, trứng cá cháy quá
bùi nên có một nhà thơ nào đó đã cảm hứng:
Thơm tho khói thuốc mùi Cao Lãnh,
Cá cháy bùi ngon vị Sóc Trăng.
Giờ đây con cá cháy miền Hậu Giang chỉ còn trong hoài
niệm.Tuy chúng đã biến mất khỏi Hậu Giang, nhưng trong
kí ức của nhiều người miền Tây vẫn còn in đậm hình ảnh
của con cá cháy.
Hy vọng một ngày nào đó cá cháy sẽ quay về…]- (Trích
nguồn: Cá Cháy Và Sự Ra Đi Kỳ Bí Của Cá Cháy-
Báo Kiến Thức ngày nay số 820 ra ngày 20/05/2013)
.
3. Thời tiết quê tôi:
Xin được dùng bài thơ sau đây để nói về thời tiết Đại
Ngãi nói riêng và Nam bộ nói chung
.
QUÊ HƯƠNG TÔI KHÔNG CÓ MÙA THU
.
Quê hương tôi không có mùa thu
Biết lấy chi mơ thu sương mù?
Dòng Cửu Long lặng lờ soi bóng
Sầu tiễn người rụng trái mù u!
.
Nam bộ tôi không có mùa thu
Chỉ nắng mưa thay đổi hai mùa
Tiễn chân em về bên xứ lạ
Bìm bịp sầu khàn tiếng tiễn đưa
.
Mùa quê tôi không thu mắt em
Không đón đưa ga nhỏ êm đềm
Không rượu vang đèn vàng tiễn biệt
Chỉ hàng bần xanh thẫm đóm đêm!
.
Mùa mưa lâu buồn lên mắt em!
Mưa trên sông mờ mắt kiếm tìm
Theo con nước lục bình hoa tím
Bám vào thuyền ghì chặt... buồn thêm!
*
Quê hương tôi không có mùa thu
Không biệt ly ga nhỏ sương mù
Không "mong em trái sầu chín đỏ" [*]
"Em tóc vàng sợi nhỏ mắt nâu"
.
Hậu Giang tôi không có mùa thu
Không biệt ly thu đẫm sương mù
Chỉ thảm buồn con thuyền rời bến
Ra đi! Lòng thương nhớ xuân thu!
.
Vắng bóng em tháng chín quê tôi
(Chắc nơi kia mùa thu kinh kỳ?)
Giọt mưa rơi trên sông ngầu đục
Lạnh một dòng sầu nỗi biệt ly!
.
Quê hương tôi không có mùa thu
Chỉ nắng mưa thay đổi hai mùa
Những dòng sông hiền hòa bình dị
Lời thật thà điệu lý hò ru
..................
[*] Lời nhạc Mùa thu Paris - Phạm Duy, thơ Cung
Trầm Tưởng
.
III. Lời Kết
Xin ghi ra đây bài thơ xem như lời kết bài viết về
Đại Ngãi/Vàm Tấn quê tôi:
Vẫn Còn Một Vùng Quê Trong Tôi
.
Vẫn còn một vùng quê trong tôi
Con nước lên dòng đục bồi hồi
Hồng trắng súng, vàng bông điên điển
Bập dừa nước tuổi trẻ tập bơi
.
Con kênh, rạch xuôi ngược một đời
Mùa nước đổ cá Biển Hồ bạc trắng
Những lưới vó bên chiều nhạt nắng
Nặng khoang xuồng mùa vụ cá linh
.
Luống cà tím, giàn khổ qua đắng
Trái bần xanh chua ngọt tô canh
Mùa rộ tình ken con ba khía
Màu tím xanh còng gió to càng
.
Trắng bầy cò chiều lam mênh mông
Lững lờ bay sợi khói đốt đồng
Tiếng kẽo kẹt bờ tre xanh mộng
Tiếng trâu về nghé ngọ sau sân
.
Vẫn còn một vùng quê trong tôi
Tuổi thơ ngây cõng nắng một thời
Tiếng sáo diều ru lời tuổi mộng
Vẫn mãi còn quê hương tâm tôi!
.
Nguyên Lạc
art2all.net