|
HOA MẪU ĐƠN BIỂU TƯỢNG Ý NGHĨA VÀ TRUYỀN THUYẾT
PHẦN II
U Minh tràm đước, cóc kèn (*)
(CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH - NL) Thời xưa, ở Nam Bộ, dịp tế lễ Kỳ Yên (cầu an lành) thường bày ra đấu xảo bánh khéo nhất, đấu xảo mâm xôi ngon nhất, ráo nhất. Lại chưng bài vài sản phẩm tượng trưng cho sự bội thu: củ khoai mì nặng cân ít thấy; trái bí rợ to đến mức kỳ dị; con trăn, con rùa to, khó gặp. Nhưng vui nhất có lẽ là "Thai đố ", đã thu hút mọi giới. [Thai đố (quiz): Đố vui có thưởng] Chủ trì là một ông kỳ lão đầu bịt khăn đỏ, ngồi ghế, giữa sân, bên cạnh là thúng đầy cam, quít, bưởi (dùng làm vật thưởng). Trước mặt ông là mõ và thanh la, với cây dùi. Dùng cây dùi gõ vào mõ "cốc, cốc..." khi đoán câu đố sai; gõ vào thanh la nhẹ "beng" khi đoán gần đúng; gõ mạnh và liên hồi thanh la "beng beng beng" để xác nhận đoán đúng và trúng giải. Thoạt đầu, ra những câu Thai dễ, thí dụ như:
Ví dầu cầu ván đóng đinh, Trẻ 1 hô lớn: "bánh ướt". Ngụ ý cầu khó đi, có thể té, quần áo ướt mem. Vì gần đúng, ông kỳ lão gõ một tiếng " beng " vào cái phèng la. Cậu 2 đáp là " bánh tét ". Ông kỳ lão gõ một tiếng " cốc ", ngụ ý sai lời giải. Rốt cuộc, một cậu đáp to : " Cái bánh bò"!. Tiếng phèng la đổ dồn, khá to, xác nhận cậu ta trúng giải. Cây cầu khó đi thì phải bò, khom lưng. Và đây là câu đố mà chúng ta cần chú ý: Kỳ lão ra câu Thai: - Mẹ thằng cùi! Xuất mộc (Tên một loài cây) Vài người thử đáp giải, nhưng được lãnh tiếng " cốc, cốc ", hoặc tiếng " beng " thật nhỏ. Rốt cuộc, ông kỳ lão ra Thai tự giải đáp: - Mẹ là mẫu theo nghĩa chữ Hán. Đơn là bịnh phong, người nổi đơn, da thịt sưng lên, sần sùi, gọi là bịnh cùi. Vậy "Mẹ thằng cùi" là " bông mẫu đơn "! (hoa mẫu đơn) (Thuần Phong Mỹ Tục Việt Nam - Sơn Nam) Lời giải đáp câu Thai nầy dẫn đến một chuyện tình rất buồn ở vùng U Minh, cực nam Nam Bộ, mà cụ Sơn Nam sẽ kể cho chúng ta nghe.
2. CHUYỆN TÌNH VÙNG U MINH Gió nhẹ thoảng qua; chân tóc lấm tấm đung đưa, vướng bận chưa chịu bay đi như còn than van niềm biệt ly vô cớ. Nàng cau mày trở vào phòng, cầm lược chải kỹ. Nàng toan rú lên. Lược đùa đến đâu là tóc rụng đến đó như lá úa trên cành đến độ gió trở mùa. Nàng e thẹn. Nàng giận dỗi. Thân phụ nàng – Ông hương giáo - chạy tới. Nàng soi gương, không day lại rồi trả lời về tiếng rú khi nãy: - Không gì lạ đâu, thưa cha. Ông hương giáo đã hiểu nguồn cơn. Mớ tóc rối nằm cuộn đống trên bàn khiến ông xúc cảm, không che giấu được cơn buồn. Chiếc gương mờ soi đôi má ửng của Hoàng Mai, màu ửng đỏ lạ thường, không biến đổi dầu khi nàng sợ hãi. - Từ hồi tấm bé, làn da của Hoàng Mai mịn quá, bóng quá. Trăm sự đều do đó mà ra... Ông thở dài, cũng như ông đã thở dài hồi mấy năm trước, tuy gió bấc về không lạnh lắm nhưng Hoàng Mai đòi đốt lửa để sưởi, rồi dẫm chân lên than hồng mà cưòi. Ðêm đến, ông nghe tiếng rên khe khẽ. Ngỡ là con gái nhuốm bịnh, ông đến gọi cửa đôi ba lần. Hoàng Mai nằm đó, tỉnh mà như say, hơi thở hổn hển, đôi mắt úp vào chiếc gối mềm như trốn tránh mấy sợi tơ trăng buông xuống từng hồi, khi gió rạt rào khẽ rung làm hở ra mấy mí lá che trên đầu vách. Bịnh của nàng, ông đoán được, ngặt không muốn nói rõ tên ra: bịnh nan y - bịnh cùi
Tư Lập, tay thanh niên khét tiếng về nghề ăn ong ở xóm Cán Gáo được ông hương giáo mời về nhà, bày rượu thịt thết đãi, đối xử như thượng khách. Trang gia phổ lại giở ra, đọc nho nhỏ vừa đủ cho Tư Lập nghe. Tư Lập gật đầu. Trong rừng già này, bên kia Ao Sấu, thỉnh thoảng loài ong ngũ sắc ấy trở về. Ban đầu chú Tư dùng con dao xương nai mà cạo lấy mật, nhưng không hiệu quả. Lần sau, chú mài miếng xương người, dẹp như cây dao, theo ý muốn của ông hương giáo. Ngọc ong đã lấy được, đem về. Chú bán tín bán nghi vì thấy “ngọc” chỉ là mớ nhụy bông quế kết lại thành ké mà loài ong dự trữ bên góc ổ. Từ đấy, ông hương giáo mời Tư Lập ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc” để luyện, hy vọng rằng, khi đúng một ngàn ngày, nó sẽ trị được bịnh nan y của Hoàng Mai. Tư Lập như không chú ý đến điều vô lý đó, cứ ra vào nhìn trộm hình dáng giai nhân, rồi nằm trằn trọc... Mãi đến một đêm nọ, lúc đứng ngắm thẫn thờ cội mai già trước sân, chú nghe hơi thở nào ấm nồng, nhồn nhột sau gáy: - Anh Tư ở đây vui chớ? Nãy giờ em không dám hỏi. Chú nhìn kỹ: không phải là dạng hồ ly tinh trêu cợt, chính là Hoàng Mai, cô gái con ông hương giáo mà bấy lâu nay chú trộm nhớ thầm thương. Nàng nói tiếp: - Cha của em dặn em gọi bằng anh và đừng làm gì anh buồn. Chú hiểu ý. “À té ra bấy lâu nay ông hương giáo thương mình”. Chú đánh bạo tìm bàn tay nàng. Nàng lắc đầu: - Em hơi mệt, như vậy... Rồi nàng nâng tay áo lên, thứ tay áo lỏng thỏng quá rộng quá dài:
- Anh nắm cái chéo tay áo này, em
cũng đủ vui rồi. Hôm sau, chú viện cớ ra đi lúc mùa bông tràm nở trắng rực. Chú không thèm làm nghề ăn ong nữa. Hàng trăm tấm kèo bằng cây mun, chú giao lại cho ông hương giáo. Chú về ở Long Xuyên ... Nhưng hương rừng có ma lực quyến rũ. Lúc mới đến thì vui. Ở lâu lại sanh buồn. Xa cách lâu ngày thì đâm ra nhớ không nguôi, không trở lại thì không được. Chú lại trở về. Hương rừng ngào ngạt, mùi hương xa lạ nhưng rất quen thuộc. Thằng Kim hít mạnh để hửi cho kỹ, để nhớ cho rõ nhưng nhớ mãi không ra. Chợt ngẩng đầu lên, nó trố mắt. Rừng cơ hồ không còn chiếc lá nào cả! Trên hàng vạn nhánh nhỏ, bàn tay thần nào rắc lấm tấm hằng hà sa số đợt bông gòn, không phải riêng trước mặt mà khắp các tứ phía. Rừng sáng lạn, ai dám nói là rừng âm u? Bông kết oằn sai, mịn màng, trắng tuyết; đài, cánh đâu không thấy chỉ thấy toàn là nhụy ngọt. Nó buột miệng: - Rừng cây gì vậy? Chú Tư. Tư Lập day lại cười vang: - Thằng quỉ! Hửi mà không biết mùi mật ong sao? Tràm chớ giống gì! Muôn ngàn hũ mật ong của trời ban xuống cho trần gian còn treo lủng lẳng như mù sương trên nửa lừng đó. Hửi vô thì say. Say thì không tỉnh được. Có người toan dùng nó mà luyện thuốc trường sinh, từ trăm năm nay... Tư Lập vội ngồi lên xuồng, chụp cây dầm, hờm sẵn: - Bậy quá! Nó “đi bông” tới đây rồi mất dạng. Chờ một hồi nữa coi. - Ði bông là gì? Chú Tư.
- Là đi hút nhụy bông... kìa mê quá!
Một con ong rồi hai con ong bay qua
sát ngọn cỏ, lưng ngời những rằn xanh đỏ, hai chân sau
quặp lại kẹp hai đốm vàng sậm mà thằng Kim đoán là nhụy
bông. - Tao ở nhà ông hương giáo hồi xưa đây mà. Chú mày đến sau nên không biết rõ tao là ai. Khách trố mắt: - Trời! Cậu Tư. Về hồi nào! Trời... nãy giờ thấy cây búa, tôi hồ nghi là của cậu. Sao không lại thăm cô Hoàng Mai? Tư Lập vuốt mồ hôi trán: - Thôi! Về đi. Nhắn với ông hương giáo rằng tối nay tao tới. - Buồn lắm! Cô Hoàng Mai yếu nhiều. Tư Lập thở dài: - Vậy hả? Ðừng nói nữa. Về trước đi. Khách rút lui. Tư Lập nói ngậm ngùi: - Trốn mà không khỏi. Trốn Tây ta là chuyện dễ; trốn người quen là chuyện khó hơn. Ta ăn cắp ổ ong khi nãy mà chi? Nghề ăn ong có nghiệp chướng... Ðây là ổ ong cuối cùng của tao trong nghề... Thằng Kim hỏi: - Sao vậy? Ai đau nhiều vậy chú? Cô Hoàng Mai là người bà con...
- Bà con không phải bà con. Người
dưng không phải người dưng. Tối nay mày thay mặt tao,
lại đó mà thăm ông hương giáo. Phần tao, tao phải xa
rừng này. Ở lại đây, mày có dịp học khôn. Ðừng buồn. Ðể
tao nói lại đầu đuôi sự tích, hồi năm trước... ...Ông hương giáo nói: - Chú em thức hả? Kìa! Trên bàn thờ, từ bao năm rồi, tôi luyện “ngọc ong” để trị bịnh. Bịnh gì, chắc Tư Lập nói sơ cho chú em hiểu rồi. Tôi buồn quá. Tư Lập không trở lại nhà này nữa đâu. Chú em cứ nói thiệt. Phải vậy không? Thằng Kim nói: - Dạ cháu không biết. Chú Tư không nói rõ... - Ta hiểu lắm. Dầu sao, trở về lần này, Tư Lập cũng đã tỏ ra có nghĩa! Ai nỡ câu thúc chí trai của mình trong một xó để đổi lấy chữ nhàn? Ai nỡ bỏ cái danh dự để mua chuộc một chức tước quí phái huyền hão. Từ xưa, tằng tổ của ta cũng vì khí khái ấy mà phò Chúa, xiêu lạc đến đây! Bây giờ ta yếu lắm rồi. Dầu muốn bắt chước Tư Lập, ta cũng không còn đủ sức lực mà bắt chước. Gia thế của ta, thiên hạ đã rõ. Câu thúc Tư Lập ở mãi tại đây chăng? Ta chỉ là người hương giáo, quyền hạn gì? Ừ! Tôi lo là tôi lo cho Hoàng Mai. Năm nay, nó ngồi một chỗ, không còn đủ sức mà ra thăm cội hoàng mai trước ngõ như hồi Tư Lập biết.
Sáng hôm sau, thằng Kim từ giã ông
hương giáo rồi đến ngồi bên mé rạch. Bông vừng tươi
thắm, cây cối hai bên bờ giao đầu lại, mát mẻ. Nó chờ
đón bất cứ xuồng ghe ai, đi về đâu cũng được, để quá
giang. Sau lưng nó, trên thềm nhà, trong bóng mát, hình
dáng của Hoàng Mai với đôi mắt và mớ tóc trùm kín trong
chiếc khăn. Chiếc tay áo của nàng lòng thòng che khuất
mấy ngón tay, từ từ nâng lên như tiễn đưa một hình bóng
... ] HƯƠNG RỪNG- Sơn Nam (1) Ôi đẹp quá cảnh rừng tràm lúc ong "đi bông". Đẹp quá cảnh sông nước Cửu Long với rừng tràm, rừng đước. Có còn không khi thượng nguồn đã bị ngăn chặn bởi dã tâm của NƯỚC LỚN ?! (2)
NHẠC THƠ VĂN
CÓ BIỂU TƯỢNG MẪU ĐƠN 11. Thơ văn cổ: a. Lưu Vũ Tích: một thi hào đời nhà Ðường có làm bài "Am tửu khán Mẫu đơn" để diễn tả cái tâm lý tự trị của một người già trước sắc đẹp: Ẩm Tửu Khán Mẫu Đơn
Kim nhật hoa tiền ẩm
Hôm nay uống rượu ngắm hoa
Mừng thầm: Cờ đã đến tay Ðoạn nói về Kiều khi ở lầu xanh lần thứ nhất tại Lâm Tri, gặp Thúc Sinh, định theo về làm vợ lẽ; nhưng bị Thúc Ông (cha của Thúc Sinh) đến thưa quan sở tại, bắt Kiều vừa đóng gông, vừa đánh đòn có câu:
Dạy rằng cứ phép gia hình
Mẫu đơn ám chỉ Kiều.
12. Thơ văn hiện đại:
Sáng nay anh chậm rãi buồn
(Nguyễn Hàn Chung)
cả đời ta vì một khúc tình thua
(Hoàng Lộc)
2. NHẠC
Hôm qua người ngắm hoa còn thắm
(nhạc Trần hoàng Thụy, thơ Thanh
Tùng)
KẾT Hoa Mẫu đơn là biểu tượng của sự thịnh vượng, phồn vinh, là “hoa phú quý” . Mẫu đơn là loài hoa vương giả sang trọng ở Trung Quốc, biểu tượng cho sự giàu có, thịnh vượng và sắc đẹp. Hoa Mẫu đơn đóa lớn rực rỡ lạ thường, hương thơm áp đảo mọi loài hoa khác. Vì vậy người ta còn gọi là “bách hoa vương”. Bông hoa quốc sắc thiên hương này từng rất được ưu ái qua nhiều triều đại, với mệnh danh “Chúa của muôn hoa”. Nhất là giai đoạn từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 13 sau Công Nguyên. Mẫu đơn được ca tụng trong văn thơ, nhạc và tranh vẽ lúc bấy giờ. Người ta dùng từ “quốc sắc thiên hương” (sắc nước hương trời) để hình dung hoa mẫu đơn. Hoặc có cách phác họa khác là: “Thiên hạ chân hoa độc mẫu đơn” (chỉ có mẫu đơn mới xứng đáng là hoa thật trong thiên hạ) Mẫu đơn là một thứ hoa thơm, đẹp quý nhất trong các loại hoa, được gọi là Vương hoa. Cho nên có thể cho rằng khi nói "Quốc sắc thiên hương" là để ám chỉ một tuyệt sắc giai nhân với hoa Mẫu đơn. Những người đẹp trong thi văn, lịch sử như nàng Kiều của Nguyễn Du, Dương Quý Phi, Tây Thi, hay Vương Chiêu Quân ... thường được ví như hoa Mẫu Đơn, với cụm từ "sắc nước hương trời" hay "quốc sắc thiên hương" này. Đó những lý do các thi nhân thường dùng hình ảnh hoa Mẫu đơn trong các bài thơ của mình.
Qua trên là những lời Nguyên Lạc viết
rõ để giúp các bạn hiểu thêm được cái hay, đẹp của các
bài thơ có BÓNG DÁNG MẪU ĐƠN.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Nguồn: Ðiển tích Truyện Kiều, Tâm Linh Huyền Bí.net, daohoavien.com, Tinhhoa.net, Đại kỷ nguyên.
Tổng hợp về hoa Mẫu Đơn ( từ Internet
) Huỳnh Huệ ...
Peony -Hoa Mẫu đơn
Peonies.avi (PPS) http://vietmessenger.com/books/?title=huong%20rung%20ca%20mau&page=15
(1) Sơn Nam: http://vietmessenger.com/books/?author=son%20nam (2) Nhà văn Ngô Thế Vinh: Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng http://damau.org/archives/4409 https://uyennguyen.net/?s=ngo+the+vinh&x=7&y=3
@Nhạc: Ngắm hoa (nhạc Trần hoàng
Thụy, thơ Thanh Tùng)
|