Ninh
Giang Thu Cúc
SỰ LỘT XÁC
CỦA TUỆ MAI KHI YÊU –
QUA TÁC
PHẨM “VỀ PHÍA TRỜI XANH”
(thay lời ai điếu Phạm Thiên Thư)

Về phía trời xanh nhỏ nhắn về
khuôn khổ nhưng h́nh thức thật trang trọng, cổ điển, tao nhă, không gian bàng
bạc khói mây với đôi hoàng hạc đang xoải cánh bay về phía chân trời - nơi có bến
mộng “Văn Chương” đang chờ người bút mực... Phần gấp lại của b́a một - tác giả
với ai đây mà đằm thắm thế? Lại có ḍng chữ dưới tấm chân dung: Ru ḿnh vào
giấc xuân xanh, cho ḷng thơ tắm suối lành mẫu thân. Mẫu thân nào mà chụp
h́nh chân dung cùng Tuệ Mai để in lên tác phẩm trân trọng như thế, trong khi cụ
bà sinh ra Tuệ Mai qua đời đă mấy mươi năm? Sự ṭ ṃ đă khiến người đọc đi t́m
đáp số, th́ đây:
Là em chung chí hướng anh
Là con yêu mẹ ḍng xanh nhiệm mầu
(Ví mà mang nặng đẻ đau
Mẹ thương mẹ xót, th́ câu: đă đành...)
Ru ḿnh vào giấc xuân xanh
Cho ḷng thơ tắm suối lành mẫu thân
Suối ơi, suối mát vô ngần
T́nh ơi, hoa suối Quế Lâm ngọt ngào
Th́ ra thế này trời ạ! “Mẫu thân” mà Tuệ Mai âu yếm
nép ḿnh vào trong tấm chân dung in ở b́a một tập “Về phía trời xanh” là
cụ bà Quế Lâm - bậc sinh thành ra nhà thơ tài hoa Phạm Thiên Thư và cũng là vị
tu sĩ bất đắc dĩ đă từng tự giễu ḿnh:
“Vạc rằng thưa bác Thiên Thư
Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ...”
Vị “Thiền sư” sẽ được bàn đến trong bài cảm nhận này:
Tuệ Mai sau 2 cuộc t́nh nửa thực nửa hư - một với người yêu
đầu đời đă găy gánh v́ tử biệt và một cuộc hôn nhân nặng nghĩa bạn bầu cùng cư
sĩ Nguyễn Văn Nh. Rồi vị cư sĩ chồng hờ độ lượng này cũng phất tay rũ áo t́m về
cơi Phật, Tuệ Mai sống âm thầm bầu bạn với trời đất trăng sao cỏ cây hoa lá, dấn
thân cho sự nghiệp và dơi mắt t́m chưa thấy khách tương tri...
Nhưng rồi giờ G đă điểm... Nửa linh hồn của Tuệ Mai bấy lâu thất lạc đă t́m về
gơ cửa sau tháng năm phiêu bạt phong trần trong ngục tù sáu nẻo nhân gian:
Bằng nhân duyên tự kiếp nào man mác
Bằng tâm hồn chờ đợi suốt mùa thơ
Bằng tin yêu vô hạn - thực không ngờ
Ḿnh tái ngộ trong cảnh t́nh rất lạ
(Sợi gió xanh - TM)
Đó là sự gặp gỡ định mệnh giữa hai tâm hồn đồng điệu, nhưng khổ thay: Rất
không thuận của mắt nh́n thiên hạ. Mặc kệ thiên hạ họ cứ:
Nhưng mùa xanh vẫn nở dưới trời hồng
Nhưng trăm hoa vẫn nở đẹp đôi ḷng
Là suối biếc sông lam t́nh quyến luyến
Trong im lặng nghe muôn vàn tŕu mến
Thân xa thân mà tim thực gần tim
Là mảnh đời nhau - là khát khao t́m
Là gặp lại chính ḿnh hai của một
(Sợi gió xanh - TM)
Sự khẳng định của Tuệ Mai chắc như đinh đóng cột cho dù cả hai đều biết: Rất
không thuận của mắt nh́n thiên hạ. Nhưng khi yêu rồi, khi t́nh yêu đến rồi,
th́ không có trở ngại nào làm họ chùn bước, huống chi họ đă cùng suy nghĩ:
“Duyên trời gặp một giai nhân
Cũng ḍng thanh khí là Trần Nguyện Mai”
(Đoạn trường vô thanh - PTT)
Mắt nàng như chiếc nôi êm
Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời
Em là hoa hiện dáng người
Tôi là cánh bướm cung trời về say...
(Động hoa vàng - PTT)
Họ đến với nhau do “đồng khí tương cầu” cho nên mọi trở ngại về h́nh tướng của
nhà sư kiêm nhà thơ đều vô nghĩa, Tuệ Mai bơi lội trong bầu trời xanh của hai bờ
mộng thực:
Như hoa măi nở theo người
Dẫu xa thân xác liền đôi tấm ḷng
Người về gieo hạt nắng trong
Cho tôi chắp cánh mở ṿng chiêm bao
Cho tôi ḍng biếc trăng sao
Tin yêu đă tự kiếp nào, thưa anh
(Thưa anh - TTTM)
Vâng! Tin yêu đă cho Tuệ Mai thấy không gian toàn màu hy vọng - một màu xanh -
về phía trời xanh - vào giấc xuân xanh:
Trưa hồng rực rỡ nắng bay
Hiên văn mái lá bóng cây xanh đùa
Thả ḿnh trên vơng vàng tơ
Nghe tôi đang sống phút giờ b́nh yên
Trong thôn xóm những thời hiền
Tiếng chim gáy rụng bên thềm gợn rêu
(Vào giấc xuân xanh - TM)
Th́ ra cảm giác t́m kiếm đă đến với Tuệ Mai từ lâu lắm, từ khi “Bay nghiêng
ṿng đời” mà ta thấy cái nao nức chưa định vị một phía trời xanh để nh́n
phương hướng cho mấy kiếp bay t́m:
Hoa sớm đẹp như thơ
Thơ buông từ cánh gió
Gió hiền thương t́nh ta
Một thuở nào dang dở
Một thuở nào mây xanh
Ngậm ngùi xa núi biếc
Một thuở nào chim xanh
Phải ĺa đôi tạm biệt
Bây giờ đôi cánh chim
Giữa ṿm cao gặp lại
Sau mấy kiếp bay t́m
Nh́n nhau như buổi mới
Anh bước cao biển động
Em gót dài sông mưa
Dâng hoa vào cuộc sống
Tha thiết mấy cho vừa
(Mấy kiếp bay t́m - TM)
Họ đă t́m và đă gặp. Mừng thay!
Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ.
(Động hoa vàng - PTT)
Hát ru dân tộc ta có câu Thương nhau tam tứ núi cũng trèo / Ngũ lục sông cũng
lội thất bát đèo cũng qua th́ trong cuộc t́nh của Tuệ Mai, người trong cuộc cũng
đă từng thi vị hóa:
Cho dù thất suối tam đèo
Chút hương hoa cũ ướp theo bấy ngày
Mới về em vội qua đây
Ẩn lan gởi lượng trầm này kính dâng...
(Đoạn trường vô thanh - PTT)
Một mối t́nh đẹp như cổ tích, mộng mị như liêu trai, nhẹ nhàng thanh thoát như
tiên đồng ngọc nữ:
Sáng nay vẫn cảnh “Văn Chương”
Lưng non đôi mái khói hương phụng thờ...
(Đoạn trường vô thanh - PTT)
... Núi vuông Thiên ấn ngọc lam
Sông nghiêng lụa đậm dấu chàm thiên thư
Rừng tùng thoảng mơ trầm tư
Nổi trôi chuỗi hạt thái hư bềnh bồng
Thảo đường lập phái thi Tông
Trường sơn vẽ một nét cong vách ngời
Mênh mang mây trải gấm phơi
Hoa lay tưởng ngọn bút trời phê văn
(Đoạn trường vô thanh - PTT)
Tuệ Mai trải ḷng, trái tim để dâng tặng và đón nhận tấm t́nh của người ḿnh yêu
như mưa đông đón chờ nắng hạ:
Pḥng nhỏ trầm thơm, pḥng nhỏ hoa
Bâng khuâng trong đó dáng ai chờ
Bút nghiêng giấy mỏng ḍng thơ biếc
Thơ biếc xanh hàng mực biếc pha
Rất nhẹ... ḿnh trôi theo nắng mai
Qua khuôn cửa mảnh tới bên người
Thướt tha tia sớm vờn trang sách
Ḍng chữ tươi trong hạt nắng tươi
Gác bút, nh́n thơ, anh mỉm cười
Này em, áo lụa bạch reo vui
Có nghe cánh hạc đương băng gió
Cùng ánh xuân về núi đón mai
(Hạt nắng tươi - TM)
Với Tuệ Mai anh là nắng tươi sưởi ấm, là gió mát trưa hè, là nhật nguyệt sáng
soi trong màn đêm u tối:
Ô! Mặt trời có thật
Mầm cây vươn lên rồi
Tôi mỉm cười hôn đất
Chào bóng tối đang lui
(Hôn đất - TM)
Sáng, chiều, trưa, sớm Tuệ Mai luôn mang tâm trạng:
Ngóng anh, phiền cả ḍng mưa
Chim không gọi nắng, mắt chờ lạnh tê
Cổng xanh lá ngả thầm th́
Than mây tiếp nối giọt chia ngăn người
Nghiêng cành lăng đăng ngâu rơi
Mưa buông rèm nước gác mai nhạt nḥa
Tưởng rằng hương thoáng trầm xa
Bút anh mực thắm, ư hoa dâng tràn
Hạt lành chữ nở từng trang
Giữ thơm dân tộc muôn ngàn cánh tơ
Lậu Mai cửa khép, xin chờ
Đón anh, anh với suối tơ mây hồng
(Chim không gọi nắng - TM)
Với nữ sĩ Tuệ Mai từ tuổi dậy th́ đến giờ, đây là mối t́nh đẹp nhất, thơ nhất,
lư tưởng nhất chăng? Đúng thế! Bằng trực giác, Ninh Giang Thu Cúc - trả lời thay
cho người thơ khuất núi với tất cả sự thương quư... Thuở sinh thời những tháng
ngày đẹp nhất của Tuệ Mai nếu không quá chủ quan, th́ Ninh Giang Thu Cúc nghĩ
rằng đó là những tháng ngày Tuệ Mai và Phạm Thiên Thư yêu nhau. Bởi v́ đây là
giai đoạn mà Tuệ Mai sáng tác sung sức nhất và ư thơ tươi mát nhất. Cứ đọc kỹ 23
bài thơ trong “Về phía trời xanh” sẽ thấy bài nào ngôn ngữ cũng như reo cười và
tựa đề của bài nào cũng trẻ trung đầy sức sống, mối t́nh lớn này là lực đẩy, là
chất xúc tác cho cường độ làm việc của Tuệ Mai, h́nh như hai mươi bốn giờ trong
ngày Tuệ Mai đều dành cho Phạm Thiên Thư, nh́n đâu Tuệ Mai cũng thấy đẹp, t́nh
yêu ngự trị mọi nơi chốn, mọi thời khắc.
Hạnh phúc mịn màng như cát nằm ḷng suối
Hạnh phúc long lanh như sỏi mới ngâm ḿnh
Vào t́nh yêu của anh
Em như con chim nhỏ
Bay trong ḷng trời xanh
Tung tăng theo nhịp gió
Em như làn gió xanh
Trong vườn hương ngây ngất
Em như ḍng nước xanh
Tới biển hồng bát ngát
Em bắt đầu những đêm
Mơ về phương tŕu mến
Em bắt đầu những đêm
Vào chiêm bao âu yếm
Em xin làm mưa mau
Buông sợi mềm óng ả
Trong những giờ đợi nhau
Trong những ngày mong nhớ
Em xin làm dây hoa
Nương ḿnh bên đại thụ
(Ôi! T́nh yêu t́nh yêu
từ đây tôi bé nhỏ)
(Chiêm bao âu yếm - TM)
“Trai tham sắc, gái tham tài” - Câu nói dân gian mộc mạc thế mà không sai một tí
ti nào... T́nh yêu của người phụ nữ bao giờ cũng bắt đầu bằng sự kính phục và
ngưỡng mộ bởi thế khi đă gặp được mẫu người như ước vọng, người phụ nữ sẵn ḷng
hóa thân thành kẻ nô lệ tôi đ̣i để phục vụ người họ yêu trong sự tự nguyện,
trong hạnh phúc được chinh phục bởi tài năng, trí tuệ, đức độ... Ngoại h́nh của
đàn ông chỉ là thứ yếu, họ chỉ cần cao hơn phụ nữ một cái đầu là đủ lắm rồi (?!)
lúc ấy họ sẽ biến thành cây tùng cây bách để:
Em xin làm dây hoa
Nương ḿnh bên đại thụ
(Chiêm bao âu yếm - TM)
Em xin làm dây hoa nhỏ bé yếu ớt bên cây đại thụ vững vàng, em xin làm học tṛ
ngoan bên ông thầy thông minh uyên bác, em xin làm đêm tối để anh là mặt trời
soi sáng cơi dân gian, và Phạm Thiên Thư là Mặt Trời của Tuệ Mai: Hoàng hôn
đưa Mặt Trời về nhà, Mặt Trời về nhà có t́nh yêu đợi đón. T́nh yêu của Mặt Trời
chưa bao giờ phiền muộn. T́nh yêu của Mặt Trời trong như ánh mắt trẻ thơ.
Mướt say như làn da thiếu nữ nương tơ xanh áo đợi chờ.
Mặt Trời mang quà về cho T́nh yêu đó,
Quà sớm nay rừng xanh góp tiếng chim ca.
Trưa xóm thôn trao tặng những lời ru
Và chiều lên gởi bao lời t́nh tự.
T́nh yêu Mặt Trời đeo chuỗi âm thanh chim hót
Ngủ ngoan lành trong tiếng hát ru em
C̣n cất dành những t́nh tự chiều êm
Để ấm áp ngày mai khi Mặt Trời đi vắng
(T́nh yêu Mặt Trời - TM)
Người ta bảo, khi yêu người già hóa trẻ, người trẻ hóa thành bé con. Khi Tuệ Mai
gặp lại một nửa của ḿnh th́ người phụ nữ làm thơ này đă ở vào giai đoạn thật
viên măn về nhan sắc, trí tuệ, tuổi tác, vậy mà sao lúc nào ta cũng thấy bà nao
nức tươi roi rói:
Nắng lên rồi nắng lên rồi
Trái tim hồng hào máu mới
Bằng mắt nắng tươi
Tôi nh́n rơ người
Người nhận rơ tôi
Tôi đang yêu người
Người đang yêu tôi
Tôi thực yêu người
Người thực yêu tôi
Hồng hào nắng mới...
(Hồng hào nắng mới - TM)
T́nh yêu sao mà dễ thương đến lạ, quyền năng đến lạ, phép mầu đến lạ như phù
thủy vung chiếc đũa thần kỳ diệu biến đá thành hoa:
Nghĩ suốt đời là trẻ tập đi
Chân bước hẫng tay quờ không trúng đích
Nghĩ suốt đời nào có tươi chi
Múi thân thể vắt cho thật bă
Nhưng nay - người đến - bỗng dưng
Vừng dương chào mở nụ hồng
Cánh tôi lướt vào xuân chính
Yêu đời vô thủy vô chung
(Hồng hào nắng mới - TM)
Và đêm bỗng thành mặt nước,
Mặt nước mênh mang của ḍng sông ngọt mát.
Nàng khoan khoái ngâm ḿnh,
Những sợi tơ rũ xuống
Thành khuôn mặt anh,
Thành thân thể anh
Và anh thành sóng.
Sóng cuồn cuộn ôm nàng
Nàng thành hơi thở
Sóng thành sợi tơ
(Xuân đêm ḥ hẹn - TM)
Mănh liệt và kỳ diệu, tín ngưỡng và mê hoặc, ai tín đồ và ai giáo chủ trong buổi
đăng quang này:
Đêm hẹn ḥ ngây ngất trầm hương
Rất trạng nghiêm đêm mở thánh đường
Rồi ánh nến, rồi lời kinh, rồi bàn tay phép lạ
Phù trợ nàng nhập với lá hoa đêm
(Xuân đêm ḥ hẹn - TM)
Một t́nh yêu quá đẹp dù có muộn màng cho Tuệ Mai nhưng quan trọng chi chuyện sớm
muộn, bởi:
Một ngày tựa mạn thuyền rồng
C̣n hơn chín kiếp nằm trong thuyền chài
Dẫn cặp ca dao trên kẻ viết bài này chỉ muốn ví von duy nhất chuyện ḥa hợp,
đồng cảm trong t́nh yêu của nam nữ. Ngoài ra, không dùng phương pháp so sánh ấy
cho các trường hợp khác...
Dạo ấy, khoảng thập niên 70 (thế kỷ XX) dân văn nghệ và bằng hữu của Tuệ Mai tại
Sài G̣n ai cũng biết chuyện yêu đương của Tuệ Mai, rất nhiều người không đồng ư
v́ cho đó là chuyện trái khoáy.
Một: Tuệ Mai lớn tuổi hơn Phạm Thiên Thư.
Hai: Phạm Thiên Thư là người xuất gia, là tu sĩ Phật giáo.
Nhưng cũng có người thông cảm cho Tuệ Mai bởi biết bà rất thiếu thốn một thứ
t́nh yêu đích thực của 2 tâm hồn đồng cảm trong nhiều lănh vực thuộc phạm trù
văn học... mà Phạm Thiên Thư là đối tượng có đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu trí
tuệ của nữ thi nhân này. Lại nữa, sự đi tu của Phạm Thiên Thư chỉ là biện pháp
t́nh thế (trốn lính).
Phía gia đ́nh của Phạm Thiên Thư, bà cụ Quế Lâm và hai người chị của nhà thơ
cũng khuyến khích cuộc hôn nhân ấy v́ cụ Quế Lâm rất thương Tuệ Mai và cụ chỉ có
một con trai duy nhất là Phạm Kim Long tức nhà thơ tài hoa Phạm Thiên Thư đi tu
với pháp hiệu Tuệ Không. Cụ bà biểu Phạm Thiên Thư hoàn tục để chính thức làm
đám cưới với Tuệ Mai. Về phần Phạm Thiên Thư chẳng có chi trở ngại bởi ông đă
từng viết:
Đố ai tát cạn mạch sầu
Th́ ta để tóc lên cầu đón ai
(Động hoa vàng - PTT)
Đến lúc gặp “ai” rồi th́ ông đă như một bậc đế vương ngày xưa chỉ mong nghe được
tiếng em cười dù phải xé cả ngàn mét lụa:
Từ em hé nụ cười huyền
Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa
(Động hoa vàng - PTT)
Em cười là lá vàng, là gió heo may tan biến chỉ c̣n mùa xuân về ngự trên miền cỏ
lạ hoa thơm. Một t́nh yêu có yếu tố thuận lợi để đi đến hôn nhân bởi tất cả hầu
như đă được chuẩn bị. Có một chi tiết mà lúc khám phá ra Ninh Giang Thu Cúc thật
sự ngậm ngùi và thương cảm 2 đương sự quá chừng, chuyện là thế này: Trong toàn
bộ tư liệu của nữ sĩ Tuệ Mai gồm có tác phẩm và các bài báo thời ấy viết về bà,
cũng như tất cả cái ǵ liên quan đến văn nghiệp của Tuệ Mai mà Ninh Giang Thu
Cúc đang có để tham khảo, bà phát hiện ra 4 tờ giấy lịch loại Agenda năm 1971
(Tân Hợi) dán vào các trang đầu của tập “Về phía trời xanh”. Những ḍng thủ bút
rất bay bướm trang trọng nhưng đầy chất tài tử của Phạm Thiên Thư (hay của Tuệ
Mai), nội dung thủ bút là viết tên họ của 2 người: Tờ số 1 viết - Phạm Trần Thư
Mai, tờ lịch ghi ngày 7 viết Thiên Thư Tuệ Mai. Tờ ngày 3 viết Phạm Trần Thiên
Khôi mở ngoặc tự chương; tờ mồng 6 viết Phạm Trần Thiên Phương. Thú thật là đọc
xong, Ninh Giang Thu Cúc đă khóc v́ xúc động với suy nghĩ - đó là bản phác thảo
cho một tiểu gia đ́nh lư tưởng của đôi vợ chồng và 2 đứa con ngoan Thiên Khôi và
Thiên Chương (những tờ lịch thủ bút này Ninh Giang Thu Cúc đă chụp bản và đưa
vào phần phụ lục Nữ sĩ Tuệ Mai)
Nhưng sao những hoàn cảnh thuận lợi, những ư tưởng tốt đẹp cho một tương lai
giữa hai người yêu nhau thiết tha như thế lại không thành hiện thực???
Lại một lần nữa bất hạnh đổ xuống cuộc đời người phụ nữ tài hoa, mệnh bạc này...
Khi Tuệ Mai gặp được một t́nh yêu quá đẹp Tuệ Mai quá sung sướng, quá hạnh phúc
- cái hạnh phúc của tài tử văn nhân “khi chén rượu khi cuộc cờ khi xem hoa nở
khi chờ trăng lên”. Yêu nhau v́ nết v́ tài tưởng như vậy là quá đủ, nhưng
khi t́nh yêu thơ mộng cao khiết sắp chạm mặt với hôn nhân, để hóa thân người yêu
thành người vợ, với thiên chức nặng nề cao quư đang chờ đợi, th́ Tuệ Mai mới ngă
đạn ra để thấy lại bản thân ḿnh không có khả năng làm mẹ, không c̣n nét trẻ
trung để sống cuộc đời chồng vợ - xứng lứa vừa đôi với người yêu theo định lư
thuận của cuộc đời.
Tuệ Mai phản tỉnh quay ngoắt một trăm tám mươi độ, cho tâm trí rời khỏi động hoa
vàng, rời khỏi vương cung t́nh ái... từ chối cuộc t́nh trong đoài đoạn xót xa
bằng những bài thơ, bức thư tŕnh bày cùng cụ bà thân mẫu nhà thơ Phạm Thiên Thư
những lư do bất khả và giới thiệu một cô bạn gái trẻ hơn ḿnh nhiều để cụ Quế
Lâm cưới cho Phạm Thiên Thư hầu sinh con nối dơi cho nhà họ Phạm (cô bạn này đă
từng yêu thơ Phạm Thiên Thư và có dự nhiều buổi nói chuyện và b́nh thơ của ông
Thư).
Đối với cụ Quế Lâm th́ đây là một trường hợp khá đau ḷng và khó xử. Cụ rất
thương Tuệ Mai về nết về tài và muốn Tuệ Mai cùng Thiên Thư nên chồng nên vợ.
Nhưng c̣n quyền lợi của ḍng tộc, của gia đ́nh bà không thể để con trai của bà
mang trọng tội với tổ tiên (bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại). Phần Phạm Thiên Thư
- ông không quan trọng lắm về chuyện con cái bởi ông từng là tu sĩ phật giáo,
nghiên cứu về duy thức học, về thiền học, về triết lư nhà phật. Ông lại là nhà
thơ với nhiều tác phẩm giá trị, là vơ sư, là thầy thuốc v́ thế ông sống rất
thoáng. Ông thường an ủi Tuệ Mai: Sau này chúng ta không có con đẻ nhưng những
tác phẩm văn học là những đứa con tinh thần vô giá. Dạo đó (1971), Phạm Thiên
Thư mở cơ sở xuất bản “Văn Chương”, mở trường phái thiền học và vơ thuật tên gọi
Thi Tông và được mẫu thân là cụ Quế Lâm truyền nghề Đông Nam y dược.
“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định
do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư
đặt, v́ nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn
nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài
tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật
(trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông c̣n
viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia
nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài G̣n 5
(nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế
Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quư yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành
hôn lễ, v́ thế gia đ́nh Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng
như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ
trở thành bạn...
Nhưng Tuệ Mai v́ ḷng tự trọng, không muốn làm cái đích cho sự đàm tiếu của mọi
người bởi sự chênh lệch về tuổi tác cũng như về đường con cái nên đă kiên quyết
chia tay... Hành động đẹp như nữ hiệp sĩ này đă làm các bạn hữu trong thi hội
Quỳnh Dao cảm kích - nhà thơ Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền đă gửi cho Tuệ Mai bức
tâm thơ ca ngợi việc làm của bà với tựa đề:
BÀI THƠ KẾT THÚC
(Thương yêu vô vàn trước nghĩa cử
của Tuệ Mai khi rời Động hoa vàng)
…Thuở đó, một dạo xôn xao...
Chuyện thơ phiêu lăng lối vào mù sương
Người thơ thả bước quên đường
Động hoa vàng ngát hương vương cánh vàng
Nhụy hoa quấn quưt mơ màng
Sắc màu mừng đón “Nữ hoàng thi ca”
Ngập ngừng ghé Động thăm hoa
Rụt rè cảm hứng, sa đà thơ duyên
“Về phía trời xanh” mơ tiên
Bút hoa nở thắm “Bay nghiêng ṿng đời”
Góp chương nối khúc không lời
Đoạn trường thi tứ tuyệt vời trang thơ
T́nh thơ cuộc kết nào ngờ
Động hoa vàng bỗng ngẩn ngơ lá sầu
Tạ t́nh một khối v́ nhau
Cho Mai bóng mát nhiệm mầu bấy nay
Ân t́nh xếp cuộc chia tay
Dâng tràn tâm nguyện niềm tây Động vàng
Đóa mai khép cánh vô thường
Chiêm bao một giấc hoàng lương thơ đề
(Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền)
Ta có thể dễ dàng h́nh dung ra cuộc chia tay của hai kẻ thương yêu nhau v́ cảnh
ngộ éo le đành phải cắn răng nói lời từ tạ, nó vừa buồn như điệu kèn tử biệt,
như hồi chuông giáo đường giục giă gọi hồn ai... lại vừa đẹp, vừa thơ, vừa hào
hiệp nghĩa khí như tráng sĩ thời cổ sử quên ḿnh cho b́nh yên, cho hạnh phúc của
bao người...
Biết rằng chấm dứt cuộc t́nh này là làm một việc quá sức chịu đựng, là trở về
với sự vây bủa của cô độc, cô đơn, nhưng bằng nghị lực và ḷng quả cảm, Tuệ Mai
đă chiến thắng được niềm đam mê, sự yếu đuối. Ai là người thân thiết của Tuệ Mai
đều hiểu rằng cuộc đời bà rất thiếu thốn t́nh thương yêu. Lên chín tuổi đă bị tử
thần cướp đi người mẹ, đến tuổi vừa chớm yêu với t́nh đầu vụng dại cũng bị luật
vô thường tử sinh chia biệt, rồi bị lấy chồng theo những yêu cầu bức thiết của
mọi người chung quanh. Vậy Tuệ Mai đă thật sự có tí ti nào hạnh phúc chưa? Xin
thưa là chưa! Cho nên bà thèm khát một t́nh cảm đích thực. V́ thế khi gặp được
Phạm Thiên Thư - một tâm hồn đồng thanh khí với “văn chương nết đất thông minh
tính trời”, với “đề huề lưng túi gió trăng" trong phong vận nhẹ nhàng, hài rơm
lần bước ôm pho kinh điển. Chênh vênh đầu trượng thiền sư. Cửa non khép ải
sương mù bóng ai. Non xanh ướm hỏi trang đài. Trăm năm c̣n lại dấu hài động hoa.
Họ đến với nhau như có sự hẹn ḥ từ tiền kiếp. Họ kính yêu nhau như con chiên
yêu chúa, như tín đồ yêu thần tượng, họ quên hết bao buộc ràng khuôn khổ, khe
khắt của cơi nhân sinh. Tới nỗi này ta mới thấy Tuệ Mai là một phụ nữ có cá tính
dứt khoát mạnh mẽ. Khi yêu, yêu mănh liệt, yêu với tất cả sự rung động của
trái tim băng giá giữa ḷng hỏa tinh nhưng khi sự việc không mang tính hợp
lư Tuệ Mai quay đầu ngay - đó là sự mạnh mẽ của lư trí - yêu mà không đắm ch́m
mê muội, trái tim không lầm chỗ để trên đầu, đó là điều rất đáng trân trọng tấm
t́nh cao thượng của nữ sĩ Tuệ Mai.
Phạm Thiên Thư khoác áo cà sa v́ nguyên nhân nào ta không dám lạm bàn, ta chỉ
biết ông có một cái đầu thông tuệ uyên bác và một trái tim cực kỳ đa cảm, có thể
nếu không gặp lại “chiếc xương sườn” của ông từ kiếp nảo kiếp nào th́ ông đă
được “hoa khai kiến phật”:
Khơi trầm thơm tụng kinh hiền
Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da
Vườn chùa có nụ hàm ca
Sương khuya pháp bảo trăng tà: vô minh
Nhưng rồi tất cả mọi kiếp nhân sinh đều bị sự chi phối của nghiệp lực, nghiệp
lực đă đưa đường dẫn lối cho Thiên Thư và Tuệ Mai gặp nhau trong hoàn cảnh:
Rất không thuận trong mắt nh́n thiên hạ. Tuệ Mai có buồn đau nhưng rồi năm
tháng sẽ phôi pha bởi tất cả sẽ đi vào kỷ niệm, phía trời xanh đă một lần vẫy
gọi Nàng Thơ vào Động hoa vàng bằng dấu hài đẫm nguyệt và đă trả nàng về lại với
lầu Mai sương khói thuở cô miên...
Rồi qua bao dâu bể trầm luân, tháng năm chất chồng hệ lụy, bệnh tật lao lung,
tác giả “Về phía trời xanh” đă thật sự thơng tay buông bỏ sự đời làm cuộc hành
hương về phía trời xanh vĩnh cửu, để lại niềm thương tiếc cho gia đ́nh máu thịt,
cho bằng hữu văn chương, cho bao trái tim ngưỡng mộ, và cho một người đă từng
“trăm năm tính cuộc vuông tṛn” phải ngậm ngùi:
Cuối xuân ta lại t́m em
Tiểu thơ chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đ̣ sang
Bên đường cổ mộ lại vàng cúc hoa
(Động hoa vàng - PTT)
Nghe tiếng ca nàng run giữa khuya
Tưởng đâu tiền kiếp thoáng em về
Nắm xương tàn lụi nằm trong mộ
Cỏ lạnh trăng vàng rụng xuống bia
(Tiếng cũ - Đoạn trường chủ nhân - PTT)
Ninh Giang Thu Cúc mượn ba câu của cụ Nguyễn Du để đóng lại bài cảm nhận “Về
phía trời xanh”:
Rằng hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu
Nỗi niềm tưởng đến mà đau...
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Cũng xin được tŕnh bày cùng Á Nam Lưu Niệm Đường và ông bà Phạm Thiên Thư ít
ḍng tâm sự: Khi cảm nhận tập “Về phía trời xanh” người đọc - Ninh Giang Thu Cúc
tất nhiên phải đề cập đến chuyện t́nh yêu bởi đấy là tập thơ t́nh yêu - mà tại
sao lại không ca ngợi một t́nh yêu đẹp và bi tráng như thế? Tại sao không nói
tác giả “Về phía trời xanh” là một nữ sĩ đẹp từ tâm hồn đến ngoại h́nh và nhân
cách như thế? Lại nữa, Ninh Giang Thu Cúc tâm niệm nếu mai sau những người làm
văn học sử Việt Nam có nhắc đến sự nghiệp của cô con gái cưng của Á Nam Trần
Tuấn Khải th́ những bài viết thô thiển này biết đâu sẽ được góp phần để họ làm
tư liệu cho một giai thoại đẹp về văn học. Bằng ư niệm tôn trọng và vinh danh
những nét đẹp trong t́nh yêu và sự hi sinh của người phụ nữ Việt Nam trong mọi
cảnh ngộ, tác giả vô cùng mong ước sự đồng cảm của quư vị như sự đồng cảm của
nhà thơ nữ lăo làng Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, trong lời đề bạt cho tập “Về phía
trời xanh”.
“Chàng ung dung đến, bát ngát như những sợi tơ trăng - đến với nàng công chúa
đương ngủ ngoan lành, bỏ quên t́nh ái.
Chàng đến không với bó hoa hồng, mà là với một nếp thiên thư b́a bướm giấy tằm,
ấn điểm son tươi, chữ thơm mực xạ...”
(Trích lời bạt của Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội).
Ninh Giang Thu Cúc
Rút từ tập Nữ sĩ Tuệ Mai - Thân thế và sự nghiệp (NXB Trẻ , 2007)

Trang Ninh
Giang Thu Cúc
art2all.net