|
PHẠM Đ̀NH LÂN
DỪA CAU TÂM SỰ

Trên không trung bỗng nổi
lên khúc nhạc hùng ghê rợn khiến đại diện các cộng đồng Thảo Mộc Thế Giới rùng
ḿnh.
Bên hàng dừa cao ḍng sông mờ soi bóng
Nhớ những chiến binh trầm thây trên máu hồng
Cây tàn, nhà hoang, đường xưa ngập xương máu
Muôn thây bấp bênh giữa ḍng trôi đến đâu
*
Hôm nay ai nghe gió rú gọi hồn về
Ôi! Bao anh linh khuất bóng c̣n lời thề
Vươn lên mây cao khí uất tràn tràn đầy
Nghe dân quân Nam vẫn thét rền nơi đây
Ɖại diện Chà Là hỏi đại diện Măng Cụt ngồi kế anh ta: “Chuyện ǵ vậy?”
“Hôm nay đến phiên Dừa, Cau tâm sự với cộng đồng Thảo Mộc chúng ta.”, đại diện
Măng Cụt đáp.
“Tôi vẫn chưa hiểu. Chuyện ǵ xảy ra bên hàng Dừa cao dọc theo bờ sông? Sông ǵ
vậy?” Ɖại diện Chà Là thắc mắc hỏi.
“Hàng Dừa cao nào đó nằm trong xă An Phú Ɖông, tỉnh Gia Ɖịnh, khoảng 12km cách
trung tâm Sài G̣n. Một phần của xă nằm trên hữu ngạn sông Sài G̣n mà dân chúng
địa phương gọi nôm na là Sông Cái.”, đại diện Măng Cụt giải thích.
“Chuyện ǵ xảy ra ở An Phú Ɖông mà có những câu thơ dưới đây:
Một làng nho nhỏ ở ven sông
Một năm chinh chiến ôi chinh chiến
Sông nước Sài Côn nhuộm máu hồng?”, đại diện Chà Là hỏi.
“Một trận đánh đẫm máu ngay trong những ngày đầu cuộc chiến tranh Ɖông Dương lần
thứ nhất. Ɖẫm máu và hào hùng!”, đại diện Măng Cụt đáp.
“Do đâu anh biết chuyện này?”, đại diện Chà Là hỏi.
“Tôi là láng giềng của mấy anh chị Dừa ở An Phú Ɖông. Nơi tôi sống nằm trên hữu
ngạn sông Sài Côn trong một xóm đạo cách An Phú Ɖông khoảng 5km đến 6km.”, đại
diện Măng Cụt đáp.
Một thông báo bằng Thảo Mộc Quốc Tế Ngữ vang vọng trên không trung do cộng đồng
Thông Reo chuyển về cho biết đă đến giờ tâm sự của đại tộc Dừa, Cau trên thế
giới. Tất cả đại diện cộng đồng Thảo Mộc Thế Giới đứng lên chào mừng đại diện
Dừa, Cau hoàn vũ. Ɖó là một bô lăo Diệp Thủ tộc xă An Phú Ɖông trong tỉnh Gia
Ɖịnh đến. Trông lăo phong trần nhưng rất phong độ. Lăo có vẻ tự tin về quá khứ
của ḿnh với vô số vết sẹo trên thân ḿnh lăo. Lăo mặc bộ đồ màu xám trông sạch
sẽ, gọn gàng nhưng không che giấu nổi hậu quả của quá khứ đầy gian lao khốn khổ
nhưng hào hùng của lăo.
***
Thật là một danh dự to lớn cho
chúng tôi được cộng đồng Cocos trên thế giới ủy nhiệm đến đây để tâm sự với cộng
đồng Thảo Mộc Thế Giới. Ɖây là một danh dự quá lớn đối với bản thân tôi, một lăo
Diệp Thủ trong một làng hẻo lánh trên ḍng sông Sài G̣n thơ mộng.

Quê hương của ḍng Cocos chúng tôi là những vùng khí hậu nhiệt đới, bán nhiệt
đới và đại dương ở Ɖông Nam Á, Nam Á và các hải đảo Nam Thái B́nh Dương. Các
thương nhân Á Rập buôn bán và truyền giảng Hồi Giáo ở Mă Lai và Indonesia mang
ḍng Cocos về giao điểm của hai lục địa Á-Phi. Từ đó các tiền bối của chúng tôi
vượt Ɖại Tây Dương đến vùng biển Caribbean và xuống tận Brazil ở Nam Mỹ, quốc
gia chịu ảnh hưởng văn hóa Bồ Ɖào Nha.
Người Bồ Ɖào Nha là những người Âu Châu đầu tiên vượt Ɖại Tây Dương vào Ấn Ɖộ
Dương trên đường sang Á Châu t́m kiếm hương liệu. Họ chiếm thành phố Goa của Ấn
Ɖộ vào năm 1510. Họ t́m thấy cây Dừa của Ấn Ɖộ và gọi đó là Coco da India,
coco, coqueiro. Coco có nghĩa là cái đầu, cái sọ, ám chỉ h́nh dáng của trái
Dừa. Trái Dừa có lớp vỏ dày bao bọc. Lột lớp vỏ này ta có sọ Dừa tựa như cái sọ
người có ba con mắt quái dị.

Tên khoa học của Dừa là Cocos nucifera thuộc gia đ́nh Arecaceae (Coco:
đầu, sọ; Nux: quả cứng; fera: mang).
Về cách gọi tên cây Dừa, ta có hai nhánh địa lư khác nhau:
1- Tên gọi cây Dừa của dân chúng hải đảo Thái B́nh Dương và Nam Á luôn luôn có
chữ N, Na, Ni, Nu, Ny.
|
Quốc Gia hay Ɖảo |
Tên Gọi
thông thường |
|
Papua |
Niu |
|
Polynesia |
Niu |
|
Phi Luật
Tân |
Niyog |
|
Guam |
Niyog |
|
Marianas
Islands |
Nizok |
|
Cook Islands |
Nu |
|
Mă Lai &
Indonesia |
Nyiur |
|
Sanskrit (Phạn ngữ) |
Narikela |
|
Ấn Ɖộ |
Nariyal |
2- Tên gọi cây Dừa của người Âu Châu, kể cả Nhật Bản và Ɖại Hàn mang âm Coco
hay Koko do ảnh hưởng của Bồ Ɖào Nha, quốc gia Âu Châu đầu tiên dặt chân
lên Ấn Ɖộ vào đầu thế kỷ XVI.
|
Quốc Gia
|
Tên Gọi |
|
Bồ Ɖào Nha |
Coco da
India, Coco, Coqueiro |
|
Tây Ban
Nha |
Palma de
coco |
|
Anh |
Coconut
tree |
|
Pháp |
Cocotier |
|
Đức |
Kocos |
|
Ḥa Lan |
Kokos |
|
Do Thái |
Kokus |
|
Nhật Bản |
Kokoyashi |
|
Đại Hàn |
Kokosu |
|
Trung
Hoa |
Yeshu (Diệp thủ – Diệp: lá, Thủ: bàn tay/ palm: lá cọ,
bàn tay) |
Sự xuất hiện của cây Dừa giảm dần ở phía bắc vĩ tuyến 25 Bắc Bán Cầu và phía nam
vĩ tuyến 25 Nam Bán Cầu.
Cây Dừa cao từ 5m đến 15m. Cây Dừa già có thể cao đến 25m. Tàu Dừa dài 2m - 3m.
Lá dài trên 1m, màu xanh, mọc theo h́nh cánh chim; sống lá rất cứng. Dừa có
nhiều rễ lồi mọc chi chít trên mặt đất.
Dừa được trồng bằng trái Dừa khô. Phải mất từ 3 - 4 năm Dừa mới có trái.
Dừa rất cần nước. Ở Thái Lan người ta đào mương rộng lối 2m - 3m trong các đồn
điền trồng Dừa để có nước tưới cho Dừa. Nhờ các mương rănh ấy, người ta chuyển
vận Dừa hái được bằng “đường thủy”, khỏi phải khuân vác nặng nhọc.

Hoa Dừa màu vàng ngà kết thành chuỗi dài. Dừa kết trái trên một quài dài. Mỗi
mẫu tây (10.000m2) có thể trồng từ 200 - 250 cây Dừa. Dừa ra trái quanh năm. Cây
Dừa tốt tươi có thể cho từ 200 - 250 trái mỗi năm. Ɖó là một nguồn lợi khá quan
trọng mặc dù việc hái Dừa khá nguy hiểm v́ cây Dừa cao nhưng không có nhánh như
các loại cây ăn trái có thân mộc rắn chắc như Mít, Măng Cụt, Sầu Riêng, Dâu,
Chôm Chôm v.v..
Ở Việt Nam các loại Dừa thường thấy là: Dừa Bị, một loại dừa cao, trái to
nhưng nước không ngọt; Dừa Xiêm, Dừa được lấy giống từ Xiêm La tức Thái
Lan bây giờ (1), không cao, trái nhỏ nhưng nước rất ngọt; Dừa lùn, cao
lối 3m - 5m; Dừa lửa có trái vỏ màu đỏ v.v.. Dừa được t́m thấy khắp nơi ở
Nam Bộ và miền duyên hải Trung Bộ từ Nha Trang đến Bồng Sơn trong tỉnh B́nh
Ɖịnh. Hiện nay Việt Nam có 175.000 mẫu đất trồng Dừa. 75% diện tích này nằm trên
đồng bằng sông Cửu Long trong tỉnh Bến Tre (Kiến Ḥa), Trà Vinh (Vĩnh B́nh) và
Ɖịnh Tường (Mỹ Tho).
Theo số liệu của Tổ Chức Lương Nông Thế Giới (FAO: Food and Agriculture
Organization) số lượng Dừa trên thế giới vào năm 2022 là 62.400.000MT (metric
tonnes – 1 MT: 1.000kg tức 1 tấn). Các quốc gia trồng nhiều Dừa tập trung ở Ɖông
Nam Á, Nam Á, hải đảo Thái B́nh Dương, Brazil, Mexico và một vài quốc gia Phi
Châu. Các quốc gia sản xuất nhiều Dừa là:
|
Quốc Gia
|
Số Lượng Sản Xuất Tính Theo Metric Tonnes (MT) |
|
Indonesia |
17.200.000 |
|
Phi Luật
Tân |
15.000.000 |
|
Ấn Ɖộ |
13.000.000 |
|
Brazil |
2.700.000 |
|
*** |
*** |
|
Việt Nam
( hạng 6 ) |
2.000.000 |
|
Thái Lan
( hạng 10 ) |
680.000 |

Trái Dừa cân nặng từ 1,5kg - 2,5kg. Nước Dừa ngọt và mát. Cơm Dừa nạo ngào đường
làm nhân bánh ít, cho vào xôi hay Bắp chiên ăn với muối Ɖậu Phọng có chút đường.
Các thức ăn ngọt như chè, bánh tằm, xôi, Bắp nấu, Bắp chiên… luôn luôn có nước
cốt Dừa và Ɖậu Phọng rang đâm nhuyễn trộn với đường và chút ít muối. Nước cốt
Dừa được cho vào các thức ăn mặn, ngọt trên đồng bằng sông Cửu Long. Người ta
nạo cơm trái Dừa khô để nấu dầu Dừa.
Dầu dừa dùng để xức tóc, làm mát da, nấu nướng, tẩy sạch răng, củng cố nướu
răng, dùng trong kỹ nghệ sản xuất xà bông v.v.. Phi Luật Tân, Indonesia và Ấn Ɖộ
là những quốc gia sản xuất nhiều dầu Dừa trên thế giới. Dầu Dừa có công dụng đa
dạng đối với người Phi Luật Tân và các dân tộc trên hải đảo Nam Thái B́nh Dương.
Trên đồng bằng sông Cửu Long người ta ăn cổ hủ Dừa như món ăn dân dă nhưng đắt
tiền v́ muốn ăn cổ hủ Dừa phải đốn bỏ cả cây Dừa.

Ɖuông Dừa hay Ɖuông Chà Là là nhộng của loài bọ cánh cứng màu đỏ, có mỏ dài và
cứng (Red palm weevil) mang tên khoa học Rhynchophorus ferrugineus, gia
đ́nh Curculionidae được t́m thấy trên cổ hủ của cây Dừa hay cây Chà Là.
Ɖuông Dừa chiên bơ là món ăn hiếm có và đắt tiền được bán ở các nhà hàng sang
trọng vùng Chợ Cũ Sài G̣n trước năm 1975.
Thân cây Dừa dùng để làm nhà, làm cầu bắt qua mương rănh hay các rạch nhỏ trong
thôn xóm. Lá Dừa dùng để lợp nhà, làm vách, gói bánh, làm nón, giỏ xách hay làm
chất đốt để nấu nướng. Vỏ Dừa phơi khô dùng như chất đốt trong việc nấu nướng,
chùi nồi chảo. Xơ Dừa làm cho đất tơi, xốp, giữ độ ẩm, kích thích cây cối ra rễ,
làm nguyên liệu sản xuất thảm xơ Dừa. Sọ Dừa dùng làm gáo múc nước, làm đàn gáo
hay đàn nhị (v́ có hai dây). Ɖàn gáo có âm thanh réo rắt như đàn violin của các
nước phương Tây.
Nước Dừa là thức uống mát, nhuận tiểu được loài người ưa thích. Những người khá
giả ở Việt Nam thường kho thịt, cá, nấu cà-ri bằng nước Dừa tươi. Nước Dừa có
nhiều proteins, Ca, Na, P, Mg, K và sinh tố C, B1, B2, PP (tức
sinh tố B3 – Niacin/Niacinamide).
Dừa được đưa vào ca dao và âm nhạc Việt Nam với:
Trả ơn ai có cây Dừa,
Cho tôi nghỉ mát, đợi chờ người thương.
*
C̣n duyên nón cũ quai tơ,
Hết duyên nón lá quai Dừa cũng xong.
*
Trồng Tre, trồng Trúc, trồng Dừa,
Muốn nên cơ nghiệp th́ chừa lang vân.
Thi sĩ José García Villa (1908 - 1997) nổi tiếng với Bài ThơTrái Dừa (The
Coconut Poem). Dưới nhăn quan riêng của ông trái Dừa được xem như những núm vú
của Cây Dừa. Ɖó là sự sống của cây Dừa và quần đảo Phi Luật Tân, nơi có nhiều
đồn điền Dừa.
Trong âm nhạc Việt Nam có các bài ca liên
quan đến Dừa như: An Phú Ɖông (Lê B́nh), Dáng Ɖứng Bến Tre (Nguyễn
Văn Tư), Cây Dừa (Xuân Hồng), Cây Cầu Dừa (Hàn Châu).
Ở Thụy Ɖiển giá buốt, ông Mohombi Nzasi Moupondo (1986 -), một nhà soạn nhạc
mang ḍng máu Thụy Ɖiển và Congo, soạn bài The Coconut Tree (Cây Dừa).
***
Thưa quí vị Thảo Mộc,
Dừa, Cau chúng tôi sống trên các vùng đất có sông, rạch, mương rănh để có nguồn
nước dồi dào. Các thân thuộc xa gần của chúng tôi trong gia đ́nh lá cọ Palmae
hay Arecaceae có anh chị sống dưới nước nên gọi là Dừa Nước. Có
anh chị sống trên những vùng đất khô hạn như các anh chị Ɖủng Ɖỉnh, Lá
Buông, Thốt Nốt, Chà Là.
Dừa Biển (Sea Coconut, Coco de mer) mang tên khoa học Lodoicea
maldivica (2) là thân thuộc to lớn trong gia đ́nh Palmae hay
Arecaceae chúng tôi. Địa bàn sống của các anh chị ấy là các hải đảo Thái
B́nh Dương, nhất là trên quần đảo Seychelles (3) trong Ấn Độ Dương.

Cây Dừa Biển cao trung b́nh 35m. Tàu lá dài từ 7m - 10m. Trái Dừa to có 2 hột,
cân nặng 15kg - 30kg.
Dừa Biển được trân quí v́ trái to, nước nhiều. Dừa Biển rất khó trồng. Phải mất
3 - 4 năm hột mới nảy mầm và mất thêm 20 năm cây Dừa Biển mới kết trái. Kế đến
phải mất thêm 3 - 4 năm trái mới được xem là già và dùng được! Người địa phương
cho rằng nước Dừa Biển có tính kích dục, giải độc, hạ sốt, trị tê bại.
Dừa Nước là bà con nghèo của chúng tôi sống dọc theo các bờ sông bùn lầy
hay ở các cửa sông, nơi giao tiếp giữa nước ngọt (nước sông) và nước mặn (nước
biển). Tên khoa học của các anh chị Dừa Nước, người Trung Hoa gọi là Shui Ye
(thuỷ diệp), là Nypa fruticans, gia đ́nh Arecaceae. Người Anh gọi
Dừa Nước là mangrove palm, Phi Luật Tân: Nipa palm. Tên khoa học
và cách gọi của người Phi Luật Tân có âm Nipa hay Nypa dựa vào
cách gọi Dừa Nước của người Mă Lai: Bua nipa.

Anh chị Dừa Nước cao lối 5m - 6m, hoa chùm có nhựa ngọt lợ, trái nhỏ như trái
Chà Là có cơm trắng ngọt lợ. Trong lịch sử Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX xuất
hiện địa danh Đám Lá Tối Trời, ám chỉ chiến khu kháng Pháp dưới sự chỉ huy của
Trương Định trong xă Lư Nhơn, quận Cần Giờ, tỉnh Gia Định, sau khi Pháp chiếm
Đông Tam Tỉnh Nam Kỳ (1862) (4). Đám Lá Tối Trời là vùng có nhiều Dừa Nước.

Nhựa hoa Dừa Nước dùng để làm đường, rượu, giấm. Lá Dừa Nước dùng để lợp nhà.
Tàu lá dùng làm chất đốt nấu nướng trong nhà. Dân chúng trên các hải đảo Thái
B́nh Dương tin rằng nuôi heo bằng nhựa đường Dừa Nước sẽ có thịt ngon. Nhựa Dừa
Nước c̣n được dùng để sản xuất ethanol với kết quả đáng ngạc nhiên:
|
Nguyên Liệu Tính Theo
Ha (10.000m2)
|
Số Lượng Ethanol Sản Xuất |
|
Dừa Nước |
15.000 –
20.000 lít |
|
Mía
|
5.000
|
|
Bắp |
2.000 |
Thốt Nốt và Chà Là là những thân thuộc gần của Dừa, Cau, sống ở những
vùng khô cằn như Phi Châu, Trung Ɖông và Trung Á. Thốt Nốt cũng được t́m thấy
nhiều ở Ấn Ɖộ, Sri Lanka, các nước Ɖông Nam Á như Miến Ɖiện, Thái Lan, Cambodia,
Mă Lai, Indonesia v.v..
Tên khoa học của Thốt Nốt là Borassus flabellifer, gia đ́nh Arecaceae.

Căn cứ vào các tên gọi của:
|
Quốc Gia
|
Tên gọi |
|
Anh |
African
fan palm, Palmyra palm, Sugar palm |
|
Bồ Ɖào
Nha |
Palmeira
abanica
|
|
Tây Ban
Nha |
Palma
palmeira |
|
Pháp |
Palmier
palmyre |
Ta thấy nguyên quán của Thốt Nốt ở Phi Châu hay Trung Ɖông, nhất là thành phố
Palmyra ở Syria. Trong Thánh Kinh đó là thành phố Tadmor nằm về hướng đông bắc
của thủ đô Damacus. Cây Thốt Nốt di chuyển sang Nam Á và Ɖông Nam Á theo hướng
Tây-Ɖông. Thốt nốt có vai tṛ quan trọng trong đời sống của người Ấn Ɖộ, Sri
Lanka, Cambodia.
Các tên gọi khác của Thốt Nốt:
|
Quốc Gia
|
Tên gọi |
|
Ấn Độ |
Taltar |
|
Mă Lai
và Indonesia |
Lontar
|
|
Thái Lan |
Tan-tai,
Not |
|
Khmer |
Thnaot |
|
Việt Nam |
Thốt
Nốt, âm từ chữ Thnaot của người Khmer |
Trong tỉnh An Giang ngày nay có quận Thốt Nốt. Trước khi người Việt hoàn thành
cuộc Nam Tiến vào năm 1757, vùng đất Nam Bộ ngày nay là Thủy Chân Lạp (Water
Chenla).
Các anh chị Thốt Nốt có chiều cao như ḍng Cocos chúng tôi. Cây Thốt Nốt rất
cứng, được dùng để cất nhà, làm hàng rào. Miến Ɖiện nổi tiếng về việc sản xuất
nhiều gỗ Thốt Nốt. Trái Thốt Nốt nhỏ và có ba hột. Cơm và hột đều ăn được. Lá
Thốt Nốt tạo h́nh cái quạt, v́ vậy người Anh gọi Thốt Nốt là African fan palm.
Lá dùng để lợp nhà, làm thúng, rổ, giỏ xách, dù, áo mưa v.v.. Ngày xưa người
Indonesia và Khmer dùng lá Thốt Nốt như giấy để khắc chữ. Nhựa Thốt Nốt dùng để
sản xuất ra đường Thốt Nốt, làm rượu Arrack (5), làm giấm..

Ở Ấn Ɖộ và Sri Lanka trung b́nh mỗi
cây Thốt Nốt có 350 trái mỗi năm. Mỗi cây cho từ 4 - 5 lít nhựa mỗi ngày, liên
tục 200 ngày trong năm. Trung b́nh 100kg nhựa Thốt Nốt cho từ 7kg - 8kg đường
Thốt Nốt và 7kg - 8kg mật. Trong 200 ngày mỗi cây Thốt Nốt cho 4 x 200 x 8 : 100
= 64kg đường Thốt Nốt và 64kg mật đường.
Ɖường Thốt Nốt đắt tiền hơn đường Mía và đường Củ Cải. Ɖường Thốt Nốt có
Inulin hay Fructo-oligosaccharides FOS (C6H10O5)n có khả năng trợ
tiêu hóa, giảm cân và hạ máu đường. Các quốc gia sản xuất đường Thốt Nốt trên
thế giới hiện nay nằm ở Nam Á (Ấn Ɖộ) và Ɖông Nam Á (Indonesia, Thái Lan, Phi
Luật Tân). Thị trường đường Thốt Nốt trên thế giới chiếm khoảng 2 tỷ Mỹ kim.
Cây Thốt Nốt là Quốc Mộc của xứ Cambodia.
Chà Là là những thân thuộc gần của Diệp Thủ tộc chúng tôi. Các anh chị ấy sống ở
những vùng khô hạn.

Có người cho rằng nguồn gốc của các anh chị Chà Là là vùng vịnh Ba Tư (Persian
Gulf). Từ đó Chà Là lan tỏa ra cực đông Ɖịa Trung Hải và Bắc Phi. Tên khoa học
của Chà Là là Phoenix dactylifera, gia đ́nh Arecaceae. Chữ
Phoenix trong tên khoa học của cây Chà Là không có nghĩa là Phượng Hoàng mà
là người Phoenicians hay Canaanites sống trong vùng Lưỡi Liềm Ph́
Nhiêu (Fertile Crescent) thời cổ sử. Vùng Lưỡi Liềm Ph́ Nhiêu bao gồm Lebanon,
Syria, Do Thái, Jordan, Palestine, Iraq, Kuwait ngày nay.
Người Anh gọi Chà Là là Phoenix palm, Judean date palm (Chà Là xứ Judea tức Do
Thái). Cách gọi tên của người Anh như công nhận nguồn gốc Canaanites của cây Chà
Là.
Người Pháp gọi Chà Là là Palmiers de Canaries (Chà Là quần đảo Canary ngoài khơi
Ɖại Tây Dương) hay Dattiers des Canaries (Chà Là quần đảo Canary. Quần đảo này
thuộc Tây Ban Nha). Cây Chà Là cũng mang tên khoa học Phoenix
canariensis. Như vậy cây Chà Là di chuyển từ miền Ɖông Ɖịa Trung Hải ra Ɖại
Tây Dương theo hướng Ɖông-Tây.
Trong thời gian 1963 - 1965 người ta khai quật cung điện của vua Do Thái Herod
(72 - 04 tr. Tây Lịch, Vua; 37 - 04 tr. TL) thời Chúa Jesus trên cao nguyên
Masada và thấy một cái hũ đựng hột Chà Là. Bốn chục năm sau người ta thử trồng
Chà Là bằng những hột trên 2.000 tuổi trong một Kibboutz trong sa mạc Arabah
miền Nam Do Thái. Những cây Chà Là này đều là Chà Là đực nên không có trái.
Người ta dùng tên Methuselah, người sống thọ mấy ngàn năm trong Thánh Kinh, để
đặt tên cho những cây Chà Là đực có tuổi thọ trên 2.000 năm này.
Cây Chà Là được t́m thấy nhiều ở Trung Ɖông, Trung Á và Bắc Phi. Các anh chị ấy
được đề cập nhiều trong Thánh Kinh Do Thái và Thánh Kinh Koran của thế giới Hồi
Giáo. Tín hữu đạo Hồi nêu ra 700 công dụng của Chà Là. Về phương diện kinh tế,
thương mại và giao tiếp quốc tế, Chà Là vượt xa Dừa chúng tôi.
Cây Chà Là có chiều cao trung b́nh ngang hàng với Dừa chúng tôi. Hoa Chà Là
trắng và thơm. Chà Là có Chà Là đực và Chà Là cái. Sự thụ phấn kết trái cần phải
có sự hiện diện của Chà Là đực, Chà Là cái và sự trung gian của con người. Chà
Là ra trái chùm như Dừa nhưng trái nhỏ như trái Cau. Khi chín, trái Chà Là rất
ngọt. Mỗi trái có một hột cứng. Hột Chà Là được dùng để cất dầu. Nhựa Chà Là
dùng làm đường, rượu, giấm.
Chà Là được trồng bằng hột. Sau 3 hay 4 năm Chà Là có trái. Mỗi hectare trồng
được lối 150 cây Chà Là với khoảng cách 08 x 08m. Trung b́nh mỗi cây Chà Là cho
70kg trái mỗi năm. Trung b́nh mỗi hectare (10.000m2) Chà Là sản xuất: 70 x 150 =
10.500kg Chà Là/năm. Theo thứ hạng, các nước sản xuất nhiều Chà Là trên thế giới
hiện nay là:
1- Ai Cập.
2- Saudi Arabia.
3- Algeria.
4- Iran.
Saudi Arabia là quốc gia xuất cảng nhiều Chà Là nhất thế giới. Thương vụ Chà Là
trên thế giới năm 2024 lối 10 tỷ Mỹ kim. Cùng gia đ́nh Arecaceae của cây
lá cọ, các anh chị Lá Buông hay Lá Gồi và Ɖủng Ɖỉnh là những bà con nghèo của
chúng tôi sống trong t́nh trạng hoang dă v́ không có lợi ích kinh tế đáng kể.

Lá Buông hay Lá Gồi mang tên khoa học Corypha lecomtei, gia đ́nh Arecaceae.
Người Anh gọi là Fan palm; Pháp: Latanier, Talipot palm; Mă Lai: Talipot. Giữa
Long Khánh và Phan Thiết có khu Rừng Lá. Ɖó là rừng Lá Gồi.

Ɖủng Ɖỉnh mang tên khoa học Caryota mitis, gia đ́nh Arecaceae.
Người Anh gọi là Fish tail palm (Cây Cọ Ɖuôi Cá); Mă Lai: Dudar; Phi Luật Tân:
Bato v.v..
***
Trong gia đ́nh Arecaceae hay Palmae, Dừa, Thốt Nốt, Chà Là giống
nhau về h́nh dáng, công dụng, sự hữu ích nhưng khác nhau về không gian sinh tồn.
Dừa chúng tôi rất thân thiện với Cau, mặc dù khác nhau về công dụng và lợi ích
nhưng chúng tôi là những người láng giềng hầu như khó tách rời nhau ở Nam Á,
Ɖông Nam Á và trên các hải đảo Thái B́nh Dương.
Anh chị Cau được đề cập trong Cổ Sử Việt Nam nhưng không thấy Dừa được đề cập.
Tục nhuộm răng và ăn Trầu được t́m thấy trên nước Việt Nam cổ. Ở phía Bắc vĩ
tuyến 25 không có tục này.
Cây Cau không to và không cao như cây Dừa. Cả hai chúng tôi đều có rễ lồi nổi
trên mặt đất. Trái Cau nhỏ, rất chát, không ăn được (6). Cau thường đi đôi với
lá Trầu. Trầu Cau luôn luôn đi đôi với nhau ở các quốc gia Nam Á, Ɖông Nam Á,
trên các hải đảo Thái B́nh Dương.

Tên khoa học của cây Cau là Areca catechu, gia đ́nh Arecaceae
hay Palmae. Người Bồ Ɖào Nha là người Âu Châu đến Ấn Ɖộ vào đầu thế kỷ
XVI. Họ cho rằng cây Cau gốc ở Ấn Ɖộ. Người Tamil (7) gọi cây Cau là Areec. Chữ
Areca trong tên khoa học do tên gọi Areec của người Tamil mà ra. Tên gọi cây Cau
của người Âu Châu:
|
Quốc Gia
|
Tên gọi |
|
Bồ Đào Nha |
Areca |
|
Tây Ban
Nha |
Areca
catechu, Palma catechu
|
|
Anh |
Betel
palm, Areca nut palm |
|
Pháp |
Arequier |
Sinh quán thực của cây Cau là Ấn Ɖộ hay các quốc gia Ɖông Nam Á và hải đảo Thái
B́nh Dương, nơi cư dân gọi cây Cau khởi đầu bằng những âm PU, BU, BUA, BUEI,
PUPUA, PI?
|
Quốc Gia
|
Tên gọi |
|
Phi Luật Tân |
Bunga
(Tagalog) |
|
Mă Lai
|
Pinang
(8)
|
|
Indonesia |
Pinang
(8) |
|
Ấn Độ |
Paan
supari |
|
Sri
Lanka |
Puak |
|
Trung
Hoa |
Bing
Lang (8) |
|
Việt Nam |
Cau, Tân
Lang, B́nh Lang, Nhân Lang |
Cau không ăn được như Dừa nhưng ḍng họ B́nh Lang có quan hệ xă hội rất quan
trọng trong xă hội loài người. Ḍng họ B́nh Lang rất thân mật với Trầu, Vôi và
Thuốc Lá.
“Miếng Trầu là đầu câu chuyện”.
Ɖó là cách nói vắn tắt cho gọn gàng chớ miếng Trầu nào lại thiếu Cau, Vôi hay
Thuốc Lá. Trầu, Cau lúc nào cũng có mặt trong đám hỏi hay đám cưới của người
Việt Nam. Trái Cau tuy không ăn được nhưng Cau khô mang nhiều lợi nhuận cho
người tồn trữ chúng. Trong thời kỳ đất nước qua phân, Cau khô được tiêu thụ ở
miền Nam, trong cộng đồng người Chăm và người thiểu số trên Cao Nguyên Nam Trung
Bộ.

Cau, Dừa và Tre, Trúc gợi lên vẻ đẹp thiên nhiên và cảnh thái b́nh của thôn xóm
miền nhiệt đới Á Châu.
Mo Cau, một bộ phận tầm thường của ḍng họ B́nh Lang được dùng để ‘mo cơm”. Cái
quạt Mo là vật sở hữu duy nhất của thằng Bờm được phú ông để ư và muốn chiếm hữu
trong bài ca dao Thằng Bờm.
Thằng Bờm có cái quạt mo,
Phú ông xin đổi ba ḅ chín trâu
v.v..
Mo Cau là đề tài của bản nhạc Người Phu Kéo Mo Cau của nhạc sĩ Trường
Giang Thủy.
Ḍng họ B́nh Lang có duyên với thi ca, âm nhạc. Nhạc sĩ Phan Huỳnh Ɖiểu sáng tác
bài Trầu Cau, một trong những bản nhạc xưa của Việt Nam chào đời trong đệ
nhị thế chiến.
Sự tích Trầu Cau là chuyện t́nh buồn ngang trái thời cổ sử ở nước ta. Hai anh em
thầm yêu một mỹ nữ. Người anh thành công trong việc chinh phục trái tim của
người đẹp. Người em bị loại ra khỏi t́nh trường nên bỏ nhà ra đi và chết trong
âu sầu, buồn bă và hóa đá (9). Người anh đi t́m kiếm em trong tuyệt vọng và chết
bên ḥn đá nơi người em đă chết, trở thành cây Cau. Người vợ ra đi t́m chồng,
chết bên cây Cau và ḥn đá, trở thành dây Trầu bám lấy cây Cau. Ḥn đá làm vôi
têm Trầu nhai với Cau. Cao quí thay t́nh huynh đệ và t́nh nghĩa phu thê! Ɖó là
chuyện Một Mối T́nh Ba Cái Chết bi thương và đẫm lệ vào lúc b́nh minh của lịch
sử.

Trầu Cau sống măi trong những vần thơ sau đây:
Cau non khéo bửa cũng dày,
Têm Trầu cánh phượng để thầy ăn đêm
.
Trầu vàng ăn với Cau Sâu,
Lấy chồng thua bạn thảm sầu mà hư
.
Thân em như miếng Cau khô,
Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày
.
Ai về cho gởi buồng Cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.
Xưa kia vùng đất chạy dài từ phía nam vĩ tuyến 18 (Quảng B́nh) xuống vĩ tuyến 11
(B́nh Thuận) là xứ Champa (10) tức Chiêm Thành. Xứ này có hai thị tộc lớn:
1- Thị tộc cây Dừa (Narikelavamca - Narikela: cây Dừa) ở Indrapura (Ɖồng
Dương, Quảng Nam).
2- Thị tộc cây Cau (Kramamukavamca – Kramamuka: cây Cau) ở Panduranga
(Phan Rang).
Trái Cau được dùng để trục sên, lăi trong đường ruột v́ có arecoline
C8H13NO2. Ở Ấn Ɖộ người ta dùng Cau để trị nhức đầu, sốt, tê thấp. Trái Cau có
tannins (chất chát), gallic acid C7H6O5, arecoline
C8H13NO2, guracine C6H9NO2. Trong ngành Thú y người ta dùng arecoline
hydrobromide C8H14BrNO2 để trị chứng đau ruột của loài ngựa.
Ở Việt Nam khi trẻ sơ sinh nấc cụt, người ta giă lá Trầu hay ngắt phần đầu của
lá Trầu dán vào huyệt Ấn Ɖường (phần dưới của trán, trên sống mũi giữa hai đầu
chân mày).
***
Kính thưa toàn thể quí vị Thảo Mộc Hoàn Vũ,
Cau, Dừa chúng tôi thuộc văn hóa thảo mộc vùng khí hậu nhiệt đới, bán nhiệt đới
và đại dương. Chúng tôi không có sự thay đổi sâu đậm khi loài người đạt đến
tŕnh độ khoa học và kỹ thuật cao. Nông thôn là không gian sinh tồn bất di bất
dịch của Cau, Dừa. Các vùng có nhiều Cau và Dừa ở Nam Á, Ɖông Nam Á và các hải
đảo Thái B́nh Dương là những vùng đất bị người Bồ Ɖào Nha, Ḥa Lan, Tây Ban Nha,
Anh, Pháp, Hoa Kỳ chinh phục trong quá khứ.
Nước Dừa, Dừa nạo, nước cốt Dừa vẫn tồn tại trong các nhà bếp như vật bất khả
thay thế. Tục ăn Trầu vẫn tồn tại ở các quốc gia Nam Á, Ɖông Nam Á và trên các
hải đảo Thái B́nh Dương mặc cho sự bành trướng ồ ạt của văn hóa phương Tây trên
các thuộc địa.
Những cây cầu Dừa được thay thế bằng cầu gỗ được siết ‘bù lon” (boulon) chắc
chắn hay cầu xi măng cốt sắt đơn giản. Máng xối bằng cây Cau hay cây Tre được
thay thế bằng máng xối thiếc, Cao Su hay xi măng. Mái nhà lá Dừa, lá Cau được
thay thế bằng mái “tôn” (tôle), mái ngói, mái fibrociment. Vách lá được thay thế
bằng tường gạch tô xi măng. Ɖó là những thay đổi đáng nói trong quá tŕnh sống
của gia đ́nh Arecaceae của chúng tôi.
Tục nhuộm răng ở Bắc Bộ biến dần từ thập niên 1930.
Tục ăn Trầu vẫn tồn tại ở nông thôn trên ba miền đất nước. Mâm Trầu Cau
vẫn tồn tại vững mạnh trong các lễ hỏi và lễ cưới ở Việt Nam.
Vào giữa thế kỷ XX số đàn ông ăn Trầu hầu như không c̣n nữa. Phụ nữ ở nông thôn
vẫn c̣n ăn Trầu. Phụ nữ sống ở thành phố giảm thiểu việc ăn Trầu tối đa vào cuối
thế kỷ XX.
Làng Bà Ɖiểm, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Ɖịnh nằm cách Sài G̣n 12km là nơi nổi tiếng
về việc trồng Trầu, Cau cung cấp cho người ăn Trầu sống trong vùng Sài G̣n, Gia
Ɖịnh và các vùng ven biên. Làng Bà Ɖiểm, tức Thập Bát Phù Lưu Viên (Mười Tám
Thôn Vườn Trầu) (11) chẳng những nổi tiếng về Trầu mà c̣n lưu danh trong lịch sử
với trận đánh quyết tử đẫm máu vào năm 1885 dưới sự chỉ huy của quản Hớn tức
Phan Công Hớn và Nguyễn Văn Quá. Sau cuộc nổi dậy oai hùng này Pháp cải danh
huyện B́nh Long thành quận Hóc Môn.
Ngày nay Bà Ɖiểm trở thành một đơn vị hành chánh trong huyện Hóc Môn, một trong
24 quận huyện trong Thành Phố Hồ Chí Minh (ghi chú: sau ngày 01-01-2021 Thành
Phố HCM được phân chia lại, chỉ c̣n 21 quận huyện và 1 thành phố trực thuộc là
Thủ Ɖức – do sáp nhập quận 2, quận 9 và quận Thủ Ɖức). Việc trồng Trầu không mang
nhiều lợi nhuận bằng đầu tư vào việc buôn bán đất đai và xây dựng nhà cửa trong
một xă thôn đô thị hóa. Ɖến đầu thế kỷ XXI tục ăn Trầu tồn tại yếu ớt ở Việt
Nam.
Ɖến đây tôi xin chấm dứt phần tâm sự của Dừa, Cau và kính chúc đại gia đ́nh Thảo
Mộc Hoàn Vũ tránh xa cuồng phong, băo tố từ Thiên Nhiên và dao, kéo, máy của
loài người. Chúng ta luôn sống trong cảnh Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng.
Tất cả đại diện Thảo Mộc đứng dậy, vỗ tay hoan nghinh vị bô lăo Dừa An Phú
Ɖông liên hồi. Ban nhạc Quốc Tế Diệp Thủ trổi điệp khúc “Ɖây An Phú Ɖông! Ôi! An
Phú Ɖông! Ngày nào quân đi reo vang hùng dũng. Ɖây An Phú Ɖông! Ôi! An Phú Ɖông!
Muôn đời uy linh sống với núi sông.”
Bô Lăo Diệp Thủ An Phú Ɖông, Gia Ɖịnh, Việt Nam.
PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.
_______________
Chú thích:
(1): Nhiều loại trái cây và động vật ở Nam Bộ đến từ Xiêm La vào cuối thế kỷ
XVIII sau khi chúa Nguyễn Ánh và tùy tùng chạy trốn quân Tây Sơn trở về: Nào là
măng cầu Xiêm, Dừa Xiêm, Chuối Sứ hay Chuối Xiêm, Hồng Xiêm (trái Sa-bô-chê –
Sapote, Pouteria sapote, gia đ́nh Sapotaceae), Vịt Xiêm, cá lia thia Xiêm, canh
Xiêm Lo (La), Xiêm y v.v..
(2): Tên của quần đảo Maldives trong Ấn Ɖộ Dương ở cực tây nam Ấn Ɖộ và cách
nước này lối 750km. Ɖó là một xứ Cộng Ḥa nhỏ bé: 298km2 với lối 550.000 dân.
Quần đảo Maldives trải dài trên Ấn Ɖộ Dương trên một diện tích biển rộng
90.000km2.
(3): Seychelles là một đảo Quốc (cộng Ḥa Seychelles) gồm 115 hải đảo nằm về
phía tây bắc đảo Madagascar. Xứ Cộng Ḥa này rộng 457km2 với trên 120.000 dân.
(4): Ɖông Tam Tỉnh Nam Kỳ: Biên Ḥa, Gia Ɖịnh, Ɖịnh Tường (Mỹ Tho).
(5): Rượu cất từ nhựa hoa Thốt Nốt, Mía, thường thấy ở Ấn Ɖộ, Sri Lanka (Tích
Lan), Phi Luật Tân, Indonesia. Cách cất rượu Arrack phỏng theo cách sản xuất
loại rượu này ở vùng Levant ngày xưa bao gồm các nước Lebanon, Do Thái,
Palestine, Syria, Jordan, Iraq ngày nay. Hương vị của rượu Arrack phảng phất mùi
anis (Tiểu hồi) hay rượu Whiskey.
(6): Tàu Cau, thân cây Cau đều có công dụng như tàu Dừa, thân cây Dừa. Cổ hủ của
cây Cau là thức ăn ngon như cổ hủ của cây Dừa. Nếu ăn cổ hủ cây Cau th́ cây Cau
xem như bị hủy bỏ.
(7): Người Tamil sống ở miền Nam xứ Ấn Ɖộ và đảo Sri Lanka. Họ nói ngôn ngữ
Dravidian.
(8): Tên đảo Penang của Mă Lai có nghĩa là cây Cau. Từ đó có âm Pinang, Binlang
(Trung Hoa). Trên đảo Penang có một Chủng Viện Thiên Chúa Giáo. Vào thế kỷ XIX
các chủng sinh mang giống Sầu Riêng, Măng Cụt, Chôm Chôm từ đảo này về trồng ở
Cái Mơn (Vĩnh Long, sau thuộc về Bến Tre), Nhị B́nh (Gia Ɖịnh), B́nh Nhâm, Hưng
Ɖịnh (Biên Ḥa, sau thuộc về tỉnh tân lập Thủ Dầu Một).
(9): Vôi ăn Trầu (Slaked lime) Ca(OH)2.
(10): Theo tiếng Hindi, Champa có nghĩa là cây Hoa Sứ.
(11): Phù lưu: dây Trầu. Thập Bát Phù Lưu Viên: Mười tám thôn vườn Trầu. Trong
tỉnh Bắc Ninh có làng Phù Lưu tức làng Trầu.
art2all.net
|