PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.

 

T̀M NIỀM VUI QUA NIỀM VUI CỦA NGƯỜI KHÁC

 

 

Bài viết này tập chú vào châm cứu trị liệu. Đây là một số kỷ niệm về châm cứu mà tôi đă trải qua sau năm 1975. Tôi có viết bài Tôi Đến với Châm Cứu Trị Liệu nên trong bài này tôi không nhắc đến chuyện ấy. Trong bài Tôi Đến Với Châm Cứu Trị Liệu tôi chỉ nêu vài trường hợp chữa trị. Trong bài này tôi sẽ đề cập đến nhiều trường hợp khích lệ khác với đầy đủ chi tiết hơn.

Trong việc cứu và giúp người không có sự phân biệt Đông- Tây hay bất cứ sự phân biệt hay kỳ thị nào khác. Điều tôi muốn nhấn mạnh là tôi làm những chuyện mà trước đó tôi chưa làm thậm chí c̣n chê bai đến nỗi không buồn để tâm đến.

Tôi cảm ơn châm cứu đă choán hết th́ giờ của tôi sau năm 1975 để quên đi ḿnh đang đói khổ và bị đe doạ ngục tù. Nó đă giúp tôi quên đi mối nguy hiểm đang ŕnh rập tôi để t́m một niềm vui trong sự nghèo túng và ngờ vực của tân chế độ. Tôi nghèo túng nhưng không nhận thù lao khi chữa trị bịnh bằng châm cứu chỉ v́ tôi muốn chia sẻ sự đau khổ và túng quẫn của những người đồng cảnh ngộ, ư thức rằng tôi không phải tốn kém để học và hành nghề châm cứu. Tôi cũng cảm ơn châm cứu giúp tôi chế ngự tiên kiến và ḷng kiêu ngạo thường thấy trong cộng đồng nhân loại. Con người quá nhỏ bé trong vũ trụ bao la nhưng tính kiêu căng, ngạo mạn, ích kỷ, nhỏ nhen và suy b́, ganh tỵ lại rộng lớn bao la. Trong vũ trụ bao la đầy bí ẩn loài người đă khám phá được bao nhiêu bí ẩn?

Cũng có những lúc tinh thần tôi bị giao động khi vài người bạn nhắc khéo tôi nên thận trọng về sự theo dơi của chánh quyền địa phương. Một hôm ông hội trưởng Hội Chữ Thập Đỏ Thuận An (tên mới của Lái Thiêu) đến nhờ tôi chữa chứng nhức đầu và táo bón của ông. Lợi dụng cơ hội này tôi nói lên nỗi ḷng của tôi. Không cần suy nghĩ ông hội trưởng Hội Chữ Thập Đỏ (Hồng Thập Tự) nói: "Anh cứ tự nhiên giúp bà con. Thiếu cái ǵ anh cho tôi biết xem có thể giúp được ǵ cho anh." Lời của năm Tường, hội trưởng Hội Chữ Thập Đỏ, trở thành giấy phép hành nghề châm cứu miễn phí của tôi. Lời nói của ông phá tan sự lo nghĩ của tôi.

Trong hoàn cảnh không mấy sáng sủa tôi t́m được niềm vui độc lập với sự sung măn vật chất. Đó là niềm vui qua niềm vui của người khác khi chữa cho một người bịnh vượt qua cơn bịnh. Người bịnh vui v́ hết bịnh. Tôi vui không kém người hết bịnh v́ đă giúp cho người bịnh vượt qua sự đau khổ do bịnh tật gây ra. Trong chừng mực nào đó bịnh tật là nghiệp chướng (karma), là món nợ cần phải trả dài hạn hay ngắn hạn tuỳ theo nghiệp nặng hay nhẹ. Nợ nặng hay nhẹ đều phải trả với tiền lời. Người bịnh có thể phá sản v́ bịnh tật. Khi nghiệp của họ gần dứt họ hết bịnh nhờ có DUYÊN nên gặp trúng thầy trúng thuốc. Người bịnh gặp tôi quả t́nh là có duyên v́ tôi gốc là thầy giáo chớ không phải thầy thuốc hay thầy châm cứu. Người bịnh chỉ cần đặt một câu hỏi thật hợp lư là xa lánh tôi ngay: "Nếu ông ấy là thầy thuốc giỏi sao lại nghèo?". Cầu nghi vấn duy lư này khiến cho người bịnh ấy và tôi không có duyên gặp nhau.

Tôi xin đặc biệt thân gởi bài viết này đến:

- Cháu Hoàn Nguyên Nguyễn Thanh Quan

- anh Lê Trọng Bửu

- anh Nguyễn Hữu Của

- bạn Nguyễn Hữu Lộc

- và tất cả các thân hữu và bịnh nhân có tên trong bài viết dù c̣n sống hay đă mất.

****
 

SỰ BẮT ĐẦU

Sau khi nghiên cứu và lănh hội các nguyên tắc châm cứu qua những cuốn sách Đông Y Châm Cứu do anh cả tôi, em Khưu Quang và anh Cảnh, chồng của nữ dược sĩ Sương, chủ nhà thuốc tây B́nh Dân mang đến tặng, tôi bắt đầu nghĩ đến việc thực hành. Nhưng tôi không có kim. Không có tiền, cũng không biết mua kim ở đâu. Bông g̣n và cồn th́ không khó. Việc nấu kim, nếu có, cũng là một vấn đề v́ không có ḷ ga, ḷ điện. Củi khô và các chất đốt khác đều khan hiếm.

Một hôm cháu Tâm, một cháu gái ở gần nhà, đến nhà và thấy tôi nh́n các ảnh chụp kim châm cứu cháu khoe:

"Mẹ cháu có nhiều loại kim này. Để cháu về nói mẹ cháu cho ông sáu một ít để dùng."

Mẹ của cháu Tâm là nữ y tá do Pháp đào tạo ở Sài G̣n (đường Thévenet) thời Pháp thuộc. Sau cô được gởi sang Copenhagen, Đan Mạch, học về vật lư trị liệu ( Physiotherapy). Có lẽ nhờ vậy mà cô ấy có nhiều kim châm cứu. Theo tin của GS Phạm Quốc Kiệt ở Paris cô đă mất ở Úc.

Có kim, bông g̣n và cồn tôi bắt đầu dùng thân ḿnh để châm thí nghiệm hầu t́m huyệt và cảm giác khác nhau khi chạm vào các huyệt.

Người đầu tiên được tôi châm cứu là cháu Lệ, con gái của người láng giềng. Một buổi sáng cháu Lệ sang nhà và nói:

" Nhờ cậu sáu chữa giùm cháu chứng nhức đầu. Cứ mỗi sáng th́ cháu bị nhức đầu."

Tôi mải lo nghĩ đến việc phải dùng huyệt nào để trị chứng bịnh này nên quên hỏi cháu do đâu cháu biết tôi châm cứu mà đến xin chữa bịnh.

Cháu Lệ là bịnh nhân đầu tiên được tôi chữa khỏi chứng nhức đầu sau một tuần châm trị. Từ đấy tên tuổi của tôi do người bịnh trẻ này loan ra trong xóm nhỏ.

Người thứ hai được tôi chữa trị là Quan. Gia đ́nh của cậu học sinh trẻ này khá giả nên cậu sớm trở thành tay anh chị đối với bạn bè trong lớp. Một hôm Quan đến nhờ tôi chữa chứng mất ngủ giùm cậu ấy. Việc chữa trị cho một thiếu niên như Quan sớm mang lại kết quả tốt. Gặp tôi trong quán nước, cha của Quan, một nhà kinh doanh giàu có gốc Hoa ở địa phương, cảm ơn tôi và nói: Ông chữa chứng mất ngủ của nó rất hay đến nỗi ăn trộm vào nhà, chó sủa vang rền mà nó (Quan) không hay biết ǵ cả. Để tôi nói Quan đem cho thầy vài chục lít cồn để châm cứu giúp cho người khác.
 

NHỮNG KẾT QUẢ CHÂM TRỊ BẤT NGỜ

Chuyện Ô. Nguyễn Văn Ḷng bị Stroke

Xóm nhỏ nơi tôi ở bắt đầu biết đến tôi qua cháu Lệ. Trưởng khu trong xóm có họ hàng với cháu Lệ. Trong xóm có ông Ḷng bị stroke nằm bất động và không nói được. Gia đ́nh nghèo nên không chữa trị ǵ cả mà nhờ thầy đến tụng kinh cho ông sớm siêu thoát. Ông trưởng khu mách với rể ông Ḷng đến nhờ tôi chữa trị. Rể ông Ḷng là Vơ Văn Bảy, bạn ấu thời của tôi. Các bạn học gọi anh là Bảy Vơ. Anh là con của bà sáu Cho có một tiệm may nhỏ ở dăy phố ba căn gần trường tư thục do cha anh Của, một tín hữu Thiên Chúa Giáo dạy và căn nhà thứ ba là nhà của bảy Thưởng, anh họ của Sung và Xương gốc ở vùng Thạnh Lộc, Nhị B́nh trong tỉnh Gia Định. Bảy Thưởng là một trong những người có xe mô-tô đầu tiên ở Lái Thiêu.

Bảy đến nhà nhờ tôi chữa bịnh cho nhạc phụ anh. Tôi thực sự lo sợ v́ phải đương đầu với một thử thách quá lớn lao. Tôi nài nỉ Bảy đi t́m thầy khác có nhiều kinh nghiệm và kiến thức y lư hơn tôi. Bảy đoán biết tôi lo sợ phải chịu trách nhiệm nếu nhạc phụ của anh chết. Anh nói:

" Anh trưởng khu mách tao t́m đến mày. Tao mời trưởng khu đến chứng kiến lời hứa của gia đ́nh bên vợ tao trong trường hợp ba vợ tao chết, mày không có trách nhiệm ǵ cả."

Tôi đành nấu kim và đi đến nhà bịnh nhân nằm bên kia Quốc Lộ 13 cách nhà tôi lối 300 m. Tôi vừa châm vào huyệt Dũng Tuyền th́ chân ông lay động và ông kêu " Đau!". Tôi mỉm cười và nói: " Tôi chờ mỗi một tiếng đó."

Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Ngày thứ hai có hai người con gái d́u ông Ḷng đến nhà tôi. Ngày thứ ba chỉ có một người con gái đi với ông. Ngày thứ tư ông đến nhà tôi một ḿnh. Ngày thứ năm và vài ngày kế tiếp ông không đến nhà tôi mà đi uống cà phê với bạn bè! Vài ngày sau đó ông đến nhà cám ơn tôi với một năi chuối già (1) to lớn trồng trong hố rác quanh nhà ông.

Báo Sông Bé (địa danh của B́nh Dương sau 1975) đăng tin này cùng với tin ông Nguyễn Tài Thu, Viện Trưởng Viện Đông Y Châm Cứu Hà Nội, chữa cho một người Pháp cùng chung bịnh với ông Nguyễn Văn Ḷng bằng châm cứu trị liệu.

(1) Chuối già và cam sành ở nước ta khi chín vẫn xanh chớ không chuyển sang màu vàng.
 

Từ Táo Bón Đến Lăng Tai

Đọc báo Sông Bé về bài viết Những Cây Kim Làm Cho Người Câm Nói Được của kư giả Anh Thành tên thật là Lâm Thành Anh, ông Phan Văn Trang tức Phan Kính Trai đến làm quen và nhờ tôi chữa cho ông chứng táo bón. Lúc ấy ông trên 80 tuổi.

Ông là người miền Trung, em của cựu thủ hiến Trung Việt, Phan Văn Giáo. Ông là một tín hữu Thiên Chúa Giáo năng nổ hoạt động và sống từ miền nam Trung Bộ ra Huế, Thanh Hoá, Hà Nội rồi vào Sài G̣n. Vào thập niên 1950 ông cổ xuư phong trào tiêu thụ hàng nội hoá. Sau ông làm việc cho tờ Le Journal d' Extreme Orient, tờ báo Pháp ngữ ở Sài G̣n.

Phong trào tiêu thụ hàng nội hoá của ông không thành công nhưng bản thân ông thành công lớn: có một người vợ trẻ và đẹp. Bà là d́ họ của tôi. Năm 1954 ông về sống ở quê vợ ở Hưng Định. Hàng ngày ông đi làm ở Sài G̣n và từ Sài G̣n về Hưng Định bằng đường xe lửa Sài G̣n- Lộc Ninh chạy ngang qua Dĩ An, Tân Thới, B́nh Nhâm, Hưng Định, Búng, B́nh Dương. Vào thập niên 1970 ông đổi nhà về Ấp Đông Tư, Tân Thới. Nhưng ông không biết tôi hay nói rơ hơn chúng tôi chưa hề gặp mặt và chuyện tṛ lần nào.

Sau bài báo của tỉnh Sông Bé, ông đến nhà tṛ chuyện với tôi. Ông khao khát được nói một câu tiếng Pháp và có người cùng hiểu như ông. Sau vài phút nói chuyện với tôi ông tỏ ra hối tiếc:

 " Thật lạ kỳ! Tôi ở đây gần 30 năm sao tôi không biết ông? Tôi đến đây nhờ ông chữa chứng táo bón giùm tôi."

Tôi chữa chứng táo bón của ông với kết quả tốt. Nhưng ông càng lúc càng thân thiện và muốn gặp tôi để nói chuyện hàng ngày. Về phần tôi, tôi ngại nói chuyện với ông v́ ông bị lăng tai nên nói chuyện rất lớn nhất là chuyện XHCN. Ông càng ngày càng tin tưởng tôi nhiều hơn. Một hôm ông sắp một hàng chữ " LÔ- XI- NÊ ". Tôi đọc: " Liên Xô ". Ông vỗ vào đùi và nói:

" Ông là người đặc biệt mà tôi được biết. Từ mấy năm nay không ai đọc được như thế!"

Chứng táo bón của ông được chữa xong ông hỏi tôi chữa được chứng lăng tai của ông không? Tôi cho ông biết tôi chưa chữa chứng lăng tai lần nào nên không dám nói là chữa được hay không. Nếu lăng tai v́ bể lá nhĩ th́ bó tay. Nếu lăng tai v́ già, thận yếu dẫn đến mắt mờ tai lăng th́ cứ thử xem sao. Ông nói:

" Ông thử giùm tôi. Không được cũng không sao."

Tôi bắt đầu chữa chứng lăng tai cho ông trên một tháng th́ ông nghe được b́nh thường. Ông rất mừng v́ ở tuổi trên 80 mà nghe lại được c̣n ǵ vui hơn. Ông cho biết khi châm đến ngày thứ tư ông nghe một tiếng nổ như có người đánh trống trong lỗ tai. Ông vui mừng trong bụng v́ biết ông sẽ nghe lại b́nh thường.

Càng ngày ông Trang càng ngưỡng mộ tôi. Một hôm ông tâm sự với tôi rằng gia đ́nh ông sắp khốn đốn v́ lều bán cà phê của con gái ông sắp bị dẹp bỏ v́ nằm sát đường. Tuy lều nhỏ hẹp nhưng đông khách nên cũng nuôi sống gia đ́nh được. Nếu dẹp bỏ th́ không biết bán cà phê ở đâu? Chỗ bán mới có đông khách như hiện nay không? Ngày nào cũng có du kích đến và ra lịnh dẹp lều. Tôi không tu hành nhưng đă xa lánh chuyện thế gian. Nghe ông than văn tôi đành phải góp ư giúp ông. Tôi nói:

" Ông có vơ khí lớn mà không biết xài."

Ông im lặng lắng nghe tôi đề cập đến vơ khí lớn nào mà ông có. Tôi nói tiếp:

" Vơ khí có tầm cỡ mà chính d́ chín (vợ ông) cũng không hay biết th́ uổng quá."

"Vậy làm sao sử dụng vơ khí lớn mà ông nói?" Ông Trang hỏi ngược lại tôi.

"Người giúp ông là em của vợ ông. Ông cho một em lên gặp cậu út và nhờ cậu út lên gặp ông X mà tôi gọi là vơ khí lớn để can thiệp th́ xong ngay. Ông X là chỗ dựa lớn của bà con bên vợ ông mà bà Trang không hề biết đến." Tôi đáp.

Ông Trang làm đúng theo lời dặn của tôi. Từ đó quán lều cà phê của ông không c̣n bị đe doạ hằng ngày như trước. Từ đó ông gọi tôi là Tôn Sư bắt chước Lục Vân Tiên khi bái tôn sư để xuống núi.

Sức khoẻ của ông Trang yếu dần. Biết ngày trở về không c̣n xa, ông thiết tha xin tôi một điều cuối cùng: đọc điếu văn trước linh cửu của ông ngày ông rời dương thế. Huyền diệu thay! Ngày tôi đọc điếu văn trước linh cửu của ông là ngày tôi chuẩn bị đi Sài G̣n để đi xuống miền Tây t́m đường vượt biên. Ông rời dương thế. Tôi rời Việt Nam. Ông theo đạo Thiên Chúa và đă ứng dụng câu:

Ai xin th́ được

Ai t́m kiếm th́ sẽ gặp

Ai gơ cửa th́ cửa sẽ mở.

một cách nhuần nhuyễn.

Năm 2008 Lê Quang Thanh và tôi đi Niagara Falls. Nhân dịp này chúng tôi đi Rochester thăm gia đ́nh Nguyễn Xuân Sơn và Đỗ Thị Dung. Một t́nh cờ ngộ nghĩnh là Nguyễn Xuân Sơn, em của hoạ sĩ Thái Tuấn, biết rơ về ông Phan Văn Trang khi anh c̣n sống ở Thanh Hoá. Anh Sơn cho tôi xem ảnh chụp của một người em gái của ông Trang. Đó là một Soeur trong một tu viện ở Thanh Hoá thời Chiến Tranh Việt Nam lần thứ nhất.

Ông Trang thân kính, người năn nỉ ông đừng gọi tôn sư đang nói chuyện về ông. Dưới tuyền đài ông có gặp ông LÔ-XI-NÊ nào nói tiếng Tây với ông không?
 

Chuyện Hai Ông Già

Hai ông già trong chuyện là ông Phan Văn Trang và ông Nguyễn Đồng Quí. Ông Trang lớn tuổi hơn ông Quí. Ông Trang gốc ở miền Trung. Ông Quí gốc ở Tân An nhưng dạy học ở Bạc Liêu và các tỉnh trên đồng bằng sông Cửu Long. Sau năm 1954 ông được xem như một chuyên viên Sư Phạm Cộng Đồng. Con ông là Nguyễn Đồng Danh từng học về ngành Sư Phạm Cộng Đồng ở Mexico. Tôi biết anh Nguyễn Đồng Danh nhưng chỉ biết ông Quí là thân sinh của anh sau khi châm cứu cho ông Quí.

Hai ông Trang và Quí quen nhau khi đi lễ nhà thờ B́nh Nhâm mỗi tuần.

Trước khi về hưu ông Quí làm việc tại bộ Giáo Dục và Thanh Niên. Về hưu ông sống ở B́nh Nhâm. Sau năm 1975 ông không được hưởng hưu bổng nữa. Cuộc sống của ông về già bị thử thách trầm trọng mặc dù thỉnh thoảng thân nhân của ông ở nước ngoài gởi quà về giúp đỡ ông.

Một hôm ông Quí ra bến xe Lam để đi xuống bịnh viện Chợ Rẫy khám bịnh v́ bác sĩ cho rằng ông bị ung thư! Gặp ông Quí ông Trang hỏi:

" Sao lúc này trông anh yếu quá?"

" Khổ quá anh ơi! Tiền bạc không có mà c̣n bị bịnh ung thư nữa. Hôm nay có hẹn gặp bác sĩ về chuyện này." Ông Quí đáp một cách bi quan.

" Đừng đi! Đừng đi! Anh ngồi ở quán cà phê chờ tôi phụ con tôi bán xong tôi dẫn anh đi gặp ông thầy này." Ông Trang nói.

Trong trạng thái bi quan, tự nhiên ông Quí nghe lời ông Trang một cách máy móc. Ông không hỏi ông Trang ông thầy nào? Ở đâu? Nếu ở quanh đây sao tôi không nghe tiếng và không biết? v. v. để quyết định bỏ cuộc hẹn với bác sĩ ở bịnh viện Chợ Rẫy.

Bán xong đợt cà phê giờ cao điểm ông Trang dẫn ông Quí đến nhà tôi. Trông ông Quí xanh xao và buồn bă. Ông không nói năng ǵ giữa lúc ông Trang rất lạc quan sau khi thính giác của ông hoạt động b́nh thường trở lại.

Sau khi hỏi ông vài câu tôi cho ông biết ông bị chứng huyết tiện. Thấy ông quá bi quan tôi đành phải chấn chỉnh tinh thần của ông bằng cách nói quả quyết:

" Tôi sẽ châm cứu cho ông. Chiều nay nước tiểu màu máu của ông sẽ chuyển sang màu trà. Ông chỉ mất 1 đồng là bịnh ông sẽ khỏi. Ông về khu nhà thờ xem nhà nào có trồng cây sống đời tức cây cầm máu, cây trường sinh, lá Quan Âm.. ông hỏi mua hay xin tuỳ theo chủ nhà. Nên nhớ chỉ hái lá xanh, mọng nước vào buổi sáng về giă nát, vắt nước uống. Nếu quá chua th́ cho chút muối cho dễ uống. Mỗi ngày ông đến đây tôi châm cho ông."

Ông Quí bắt đầu tin tưởng tôi sau khi kiểm màu nước tiểu vào ngày đầu châm cứu. Ông làm theo lời tôi dặn. Đến ngày thứ năm tôi không thấy ông đến. Măi đến hơn một tháng sau ông đến xin lỗi tôi và cho biết ông đă hết bịnh và có chuyện phải về Thủ Thừa, Long An, gấp.

" Bây giờ tôi có thể chở 60 ki-lô gạo bằng xe đạp chạy từ Thủ Thừa về B́nh Nhâm! Thấy tôi khoẻ mạnh bà con ở Thủ Thừa ngạc nhiên. Tôi nói với họ về ông. Tất cả đều muốn lên Lái Thiêu. Ông nghĩ sao?"

" Bà con có ḷng nghĩ đến tôi, tôi xin cảm ơn. Việc đến Lái Thiêu từ Thủ Thừa không dễ dàng v́ đoạn đường dài. Chánh quyền địa phương ḍm ngó nguy hiểm cho tôi. Nếu đến đây bà con sẽ ở đâu?" Tôi đáp.

" Ông nói như vậy cũng phải." Ông Quí nói và mời tôi đi uống cà phê.

Năm 1990 anh Nguyễn Đồng Danh đến San Francisco theo diện HO. Trong lúc nói chuyện với anh qua điện thoại tôi có hỏi đến ông Quí, thân sinh của anh. Anh Danh cho biết ông Quí đă mất. Anh nói:

" Ba tôi ca tụng cây sống đời dữ lắm."

 

Lưng Ễnh Khi Đi Phải Chống Gậy và Ngó Lên Trời.

Ông Nguyễn Văn Nhỏ là một phú nông ở Ấp Đông Ba, Tân Thới, gần căn cứ Sóng Thần. Ông cao lớn và có sức khoẻ nên thường kẹp nách hai bao phân khi làm công việc đồng áng. Xương sống của ông bị cụp đau nhức khiến cho việc đi đứng khó khăn. Chứng bịnh này làm cho ông tốn kém nhiều th́ giờ và tiền bạc để chạy chữa nhưng không khỏi giữa lúc ông công việc đồng áng bị bỏ phế.

Vào một ngày đầu Xuân một người rể của ông đến thăm nhạc phụ và khuyên ông ra Ấp Chợ nhờ giáo sư Lân (tác giả bài viết) chữa trị. Trong t́nh trạng bi quan gần như tuyệt vọng ông Nhỏ không để tâm đến lời khuyên của rể ông với hai lư do dễ hiểu. Thứ nhất, có ông thầy nào hơn những thầy Đông, Tây Y ở những bịnh viện nổi tiếng mà ông đă trải qua. Thứ hai, ông không tin vào người rể v́ anh ấy là người hay nhậu nhẹt say sưa khiến lời nói của anh mất tín lực.

Chiều cùng ngày đầu Xuân một người cháu của ông Nhỏ, một cựu trung uư Quân Y trước năm 1975, đến chúc Tết ông. Trong lúc nói chuyện về bịnh t́nh của ông Nhỏ, người cháu này gợi ư ông nên ra chợ nhờ giáo sư Lân chữa giùm cho. Khác với lời đề nghị của người rể, lần này ông Nhỏ để ư đến lời đề nghị của người cháu có quá khứ Quân Y. Trong cùng một ngày có hai người đề nghị ông nên gặp giáo sư Lân. Sự nghi ngờ của ông tan biến. Ông hỏi người cháu:

" Nhà ông ấy ở đâu?

" Ông ra Ấp Chợ và hỏi nhà giáo sư Lân th́ người ta chỉ cho." Người cháu đáp.

" Bây giờ là Tết không đi được. Chừng nào ông ra đó được?" Ông Nhỏ hỏi.

" Sớm nhất là mồng 6 Tết." Người cháu đáp.

Sáng ngày mồng 6 Tết ông Nhỏ đến nhà tôi bằng xe ngựa. Sau khi hỏi qua về bịnh t́nh của ông tôi bắt đầu việc châm trị. Sau bốn ngày châm trị ông ra tiệm hớt tóc của ông bảy Sảnh ở Ấp Trưởng để cạo đầu. Ông Sảnh hỏi ông Nhỏ:

" Tại sao mày cạo đầu?"

" Tao bịnh. Mày biết đó. Tao van vái gặp thầy chữa cho tao hết bịnh th́ tao cạo đầu." Ông Nho đáp.

" Ai chữa bịnh cho mày? Tao thấy mày không có vẻ ǵ hết bịnh cả." Ông Sảnh nói.

" Tao thấy đỡ rất nhiều và hy vọng sẽ khỏi hẳn." Ông Nhỏ nói.

" Tao hỏi mày ai chữa bịnh cho mày?" Ông Sảnh hỏi.

" Giáo sư Lân." Ông Nhỏ đáp.

" Mày có nói lộn không chớ tao biết giáo sư Lân rất nhiều. Ổng mới hớt tóc tại đây hôm qua." Ông Sảnh nói.

" Tao chỉ nghe thằng Định nói ông là giáo sư Lân chớ tao đâu có biết ông. Nhà của ông kia ḱa, chỗ có cây mận to đó." Ông Nhỏ nói.

" Đúng đó là nhà của ông Lân. Tao biết ông rất nhiều. Ông dạy học ở đâu chớ không phải ở đây. C̣n việc ông châm cứu tao không nghe ông nói bao giờ." Ông Sảnh nói.

Sau lối một tháng chữa trị ông Nhỏ không ngồi xe ngựa mà cỡi xe đạp ra cảm ơn tôi với một ít nông sản.

 

Lưng Cụp Người Nhỏ Lại, Khi Đi Nh́n Xuống Đất

Anh Nguyễn Văn Đực cao lớn, mạnh khoẻ và trẻ hơn ông ông Nguyễn Văn Nhỏ vài tuổi. Anh là một thợ mộc khéo. Vào thập niên 1950 anh có nhiều tiền khi làm việc tại phi trường Tân Sơn Nhứt. V́ vậy anh là người đầu tiên ở Lái Thiêu có xe mô-tô BMW của Đức. Lúc bấy giờ các hiệu mô-tô thường thấy như Motobecane, Terrot, Triumph, Ogar, Java đều rẻ hơn BMW của Tây Đức. Từ thập niên 1960 các trại mộc ở Lái Thiêu hoạt động yếu dần v́ sự cạnh tranh của bàn ghế formica và bàn ghế, tủ thờ sản xuất ở Hố Nai. Anh Đực chuyển sang ngành mộc sửa nhà cửa.

Một buổi trưa có một người kḥm lưng chống gậy đi vào nhà. Tôi tưởng đó là một người hành khất đến xin tiền. Không ngờ người lưng kḥm chống gậy đó là anh Đực. Tôi cất tiếng hỏi:

" Anh hai sao như thế này?"

" Khổ quá chú ơi! Tôi cậy sức vác đi-văng và bị cụp xương sống. Tôi hết tiền v́ chứng bịnh này đó chú ơi! Lối xóm chỉ tôi ra gặp chú chữa bịnh giùm tôi. "

Tôi dùng các huyệt đă châm cho ông Nguyễn Văn Nhỏ để châm cho anh Đực. V́ bịnh mới phát và v́ anh trẻ và mạnh khoẻ hơn ông Nhỏ nên việc b́nh phục của anh nhanh chóng hơn. Sau một tuần châm trị anh cỡi xe đạp đi uống cà phê và làm công việc mộc sửa nhà cửa như trước.

 

Đau Tim Đến Thời Kỳ Thầy Chạy

Một buổi sáng Nguyễn Văn Thơm đến nhà tôi. Anh nói anh là thân chủ của bác sĩ TPC ở Sài G̣n. Anh tốn nhiều tiền chạy chữa bịnh tim của anh. Xe Honda và các vật dụng trong nhà đều bán sạch. Bịnh của anh càng ngày càng trầm trọng. Môi anh thâm đen; da anh ngả màu da trắng mét của người sắp chết. Anh nói:

" Ông thầy ơi! Người ta nói tôi bị hở van tim đến thời kỳ bất trị. Thầy thuốc nào cũng từ chối chữa trị cho tôi. Bác sĩ D. Không chịu chữa cho tôi mà chỉ tôi đến gặp ông thầy."

Những lời nói thành thật của Thơm làm cho tôi ớn lạnh. Tôi có cảm tưởng tôi là 'Charlot' tŕnh độ ' vơ ba gà đánh trên đỡ dưới chết bà cái lưng ' được cặp độ với vô địch quyền Anh trên vơ đài.

Tôi không nghĩ bác sĩ D. phá tôi. Trái lại ông quá tin tưởng tôi. Trước năm 1975 ông và tôi chỉ nghe danh mà không gặp nhau lần nào. Khoảng năm 1979 ông gặp một chuyện cực kỳ rắc rối ảnh hưởng đến nghề nghiệp và tự do của ông. Không biết v́ lư do ǵ ông lại đến nhà tôi và tŕnh bày thành thật nguồn gốc của sự rắc rối để nhờ tôi giúp ư kiến. Ông làm đúng theo những điều tôi dặn và đạt kết quả ngoài sự mong đợi của ông. Việc ông đến với tôi không đến nỗi là chuyện đến nhà sư mượn lược. Ông vui mừng khôn xiết khi đến cảm ơn tôi.

Trở lại chuyện của Thơm, người thanh niên mất tinh thần v́ bị thầy chê. Tôi cũng chê luôn v́ không dám chuốc hoạ vào thân giữa lúc bản thân tôi đă có nhiều hoạ rồi. Thơm rươm rướm nước mắt qú xuống nài nỉ tôi. Tôi đỡ Thơm đứng dậy. Tôi im lặng không biết phải nói ǵ đề an ủi Thơm. Anh ấy nói:

" Ông thầy ơi! Ông thầy cứu tôi! ".

Tôi đứng trước bàn thờ và khấn vái trong tâm xin cho tôi chữa người thanh niên bịnh tim này. Nếu chữa không khỏi th́ cũng đừng để anh ta chết khiến tôi bị vạ lây. Sau khi tinh thần lắng đọng tôi bắt đầu việc chữa trị.

Sáng hôm sau Thơm đến với tôi với tinh thần lạc quan. Anh ấy nói:

" Có lư quá ông thầy ơi! Tối hôm qua, lần đầu tiên tôi có một giấc ngủ ngon lành. Ông thầy chữa cho tôi cỡi xe đạp từ nhà đến chợ Lái Thiêu lối 200 m th́ xem như tôi đă hết bịnh."

Sau một tuần lễ châm trị cho Thơm tôi được một số người ở Ấp Đông Ba trên hương lộ Tân Thới- Thủ Đức mời tôi đến dự bữa cơm thân mật để làm quen với tôi. La Chấn chở tôi. Thơm thấy vậy cũng đ̣i cỡi xe đạp đi theo.

" Không được đâu chú Thơm. Từ đây đến đó lối 3.5 km, đường có nhiều cát rất khó đi xe đạp. Đi và về tổng cộng lối 7 km. Chú chưa đủ sức khoẻ để đạp xe đến đó." Tôi nói.

" Ông thầy cho tôi đi. Tôi lượng sức có thể đi được." Thơm nói.

Tôi đành phải chấp nhận cho Thơm cùng theo. Thơm về nhà cỡi xe đạp cùng đi với La Chấn và tôi đến Đông Ba. Cuộc hành tŕnh 7 km không ảnh hưởng ǵ đến bịnh t́nh của Thơm. Đến ngày thứ 21 Thơm nói với tôi anh sẽ đi xuống bác sĩ TPC ở Sài G̣n bằng xe đạp. Tôi dặn anh hai điều:

Thứ nhất: đừng nói cho bác sĩ TPC biết anh chữa bịnh với ai ngoài bác sĩ và thuốc men mà ông cho.

Thứ hai, nên t́m một người bạn cùng đi. Nếu có chuyện ǵ bất trắc th́ có người giúp đỡ.

Lần này Thơm đi xe đạp trên lộ tŕnh đi và về lối 50 km. Chiều về Thơm vui mừng ghé nhà tôi để báo tin mừng. Theo anh, bác sĩ TPC rất ngạc nhiên khi cho biết bịnh t́nh của anh thuyên giảm 90%! Về phần anh, anh cảm thấy anh b́nh phục 100%. Anh cho rằng, nếu anh cỡi xe đạp từ nhà anh ra chợ Lái Thiêu lối 200 m th́ anh xem như hết bịnh. Sau không đầy một tháng chữa bịnh anh đă cỡi xe đạp trên hai chặng đường dài tổng cộng lối 57 km. Anh bắt đầu giúp vợ đem hàng ra chợ bán mỗi ngày.

 

Cổ Cứng Đơ Không Quay Ra Sau Được

Tôi rất cảm động khi bạn Huỳnh Hữu Hùng cỡi xe đạp từ Sài G̣n lên Lái Thiêu nhờ tôi chữa chứng đơ cổ không quay ra sau được. Đoạn đường lối 20 km nhưng có nhiều gió và nắng gay gắt trong khi bạn Hùng cao lớn cổ cứng đờ không xoay chuyển dễ dàng.

Hùng dạy Sử ở đại học Cần Thơ. Có lẽ anh nghe GS Châu Long nói về tôi nên anh mới lên Lái Thiêu t́m tôi.

Sau hai lần châm trị cổ của anh hoạt động b́nh thường. Anh nói với tôi:

" Tôi có đi châm cứu nhưng không có kết quả. Các huyệt anh dùng khác với các nơi tôi đă đến."

Có lẽ anh muốn nói đến huyệt Thừa Tương và Dịch Môn.

 

Chuyện Anh Ba Đực

Tôi không biết họ và tên thật của anh mà chỉ nghe người ta gọi anh là Ba Đực. Ba Đực là lính Địa Phương Quân ở chi khu Lái Thiêu. Năm 1968 anh về Ấp Đông Ba ăn Tết. Bất th́nh ĺnh xảy ra biến cố năm Mậu Thân. Quân MTDTGP miền Nam trên đường tiến về Sài G̣n đă đưa anh vào hàng ngũ quân GP. Anh bị quân đội VNCH bắn trọng thương và bị bắt đưa ra Côn Đảo với tư cách tù binh CS. Năm 1973 anh được về đất liền sau cuộc trao trả tù binh qui định trong hiệp định Paris kư kết ngày 27 - 01 - 1973. V́ sức khoẻ kém anh không tiếp tục cầm súng dưới ngọn cờ MTDTGP mà được đưa ra miền Bắc dưỡng sức. Ba Đực không buồn biết ḿnh ở nơi nào trên đất Bắc mà chỉ la cà với người bạn nhậu nhẹt như một phương cách giải sầu của người ly hương. Sau năm 1975 anh được về Nam. Anh sống ở thôn ấp cũ trong xă Tân Thới. Anh được bầu làm hội đồng nhân dân xă, đầu đội nón tai bèo, chân mang dép làm bằng vỏ xe hơi. Năm 1954 người ta gọi đó là dép B́nh-Trị-Thiên (Quảng B́nh- Quảng Trị- Thừa Thiên). Năm 1975 người miền Nam gọi đó là dép râu. Nói theo từ ngữ Cộng Sản anh Ba Đực là một cán bộ thoái hoá suốt ngày chỉ nhậu nhẹt, gây gỗ, đánh lộn sau khi say men. Có lần say rượu và gây lộn với vợ, anh đốt ngôi nhà tranh và ra nằm ngoài bờ tre.

Ba Đực nhờ La Chấn dẫn anh đến làm quen với tôi. Trong lúc nói chuyện anh than:

" Tôi có chuyện này muốn bàn với anh sáu. Tôi lập gia đ́nh gần 10 năm rồi mà không có con. Anh sáu có cách nào giúp cho vợ chồng chúng tôi có con không?"

"Về chuyện này tôi không biết đó là khuyết điểm của anh hay của vợ anh. Anh chị cùng đến đây để châm trị và xem kết quả ra sao."

Ngày hôm sau Ba Đực và vợ đến nhờ tôi châm cứu. Một tháng sau Ba Đực hớn hở ra gặp tôi và báo tin vợ anh mang thai. Tôi có dự lễ đầy tháng của cháu gái đầu ḷng của Ba Đực.

 

Chuyện Bà Chín

Tôi không biết rơ tên bà mà chỉ biết bà là bà Chín qua cách gọi của những người quen biết bà. Nhà bà gần Cầu Cát giữa trường Trịnh Hoài Đức và Thánh Thất Cao Đài Phú Văn tức cùng nơi sinh quán của ấu nhi anh hùng c̣n cơng trên vai. Bà biết rơ về vị anh hùng này v́ anh ấy thường nhậu rượu ghi ở quán của bà trước khi chết vào tuổi 20 trước thềm bịnh viện Sông Bé vào một ngày gần lễ Giáng Sinh.

Một hôm, trong lúc tôi ngồi ở quán cà phê vệ đường của con gái ông Phan Văn Trang, có một thanh niên mặc áo màu xanh dương của nhân viên thuế vụ đến ngồi bên tôi và nói về bịnh t́nh của nhạc mẫu của anh tức bà Chín trong chuyện. Anh ngỏ ư muốn chở tôi lên Cầu Cát để chữa bịnh giùm cho nhạc mẫu anh. Măi đến gần ba tháng sau anh mới đến nhà để chở tôi đi Cầu Cát ngay lúc tôi vừa mới dắt xe đạp ra khỏi nhà để đi Thủ Đức thăm một thầy học cũ ở Đại Học Văn Khoa. Tôi đành phải hủy bỏ chuyến đi Thủ Đức để đi Cầu Cát với anh nhân viên thuế vụ. Thời ấy trong dân gian loan truyền các câu ca dao thời đại như sau:

Công an, thuế vụ, kiểm lâm

Trong ba thằng đó anh đâm thằng nào?

Tôi ngồi xe do một anh cán bộ thuế vụ chở. Vậy tôi là ai dưới mắt một vài người biết tôi?

Tôi không biết bà bịnh ǵ. Chỉ thấy bà là một người có vóc dáng sang trọng ở vào tuổi 60. Bà nằm trên bộ ván. Thấy tôi bà không buồn chào hỏi. Tôi cảm thông dễ dàng tâm trạng bi quan và mất tin tưởng vào thầy thuốc của người bị bịnh kinh niên. Có lẽ v́ vậy mà rể của bà phải chờ một thời gian khá lâu đến khi bịnh của bà trở nên cực kỳ trầm trọng bà mới đồng ư cho chàng rể xuống Lái Thiêu chở tôi đến nhà bà. Tôi châm cho bà khoẻ và ngồi dậy. Bà ra lịnh cho con gái bà pha cà phê cho tôi. Khi bà ngồi dậy tôi thấy cứ mỗi một phút một con mắt của bà nhắm nghiền lại và một bên miệng bị xệch như thể một bên vùng mặt của bà bị chuột rút (cramps).

Sáng ngày hôm sau bà đến và ngồi trước cửa ngơ chờ mở cửa. Lần này bà chào tôi và xin lỗi tôi về thái độ của bà đối với tôi ngày hôm qua. Bà nói rất nhiều về chứng bịnh làm cho bà phải bán vườn, đất để chữa trị nhưng vẫn không thuyên giảm chút nào. V́ bị giựt mạnh đến xệch miệng, xệch mắt nên bà rất khó ngủ, ăn uống khó khăn. Đúng như tôi đoán người bịnh kinh niên chẳng những không tin thầy thuốc mà c̣n oán ghét nữa.

Bà Chín là người bịnh kiên tŕ nhất trong số các người bịnh đă đến với tôi. Nhà bà cách nhà tôi lối 7 km. Vậy mà mỗi sáng bà thức dậy lúc 2 giờ khuya, đi bộ từ Cầu Cát đến Búng để đi Lái Thiêu bằng xe Lam ba bánh. V́ thiếu nhiên liệu xe không chạy theo giờ giấc như xưa mà phải có đủ số hành khách cần thiết mới chạy được. Thường thường bà đến nhà tôi khoảng 6 giờ sáng. Bà đi lại như vậy qua nhiều tháng với hy vọng tôi sẽ chữa hết bịnh cho bà. Việc chữa trị có kết quả phần nào chớ cơn bịnh không dứt hẳn. Thời gian các sớ thịt máy động làm mắt bà nhắm nghiền và miệng bị xệch qua một bên không liên tục sau mỗi một phút như trước nên bà có thể ăn uống và ngủ được. Da bà hồng hào và bà lên cân. Nhiều người ngạc nhiên hỏi bà về người chữa chứng can phong của bà. Bà không nói. Bà phân trần với tôi rằng:

" Thầy hiểu cho tôi. Không phải tôi ích kỷ. Tôi có duyên mới gặp thầy nên bịnh thuyên giảm rất nhiều. Người khác không có duyên, không kiên nhẫn nên không hết bịnh. Họ có thể nói xấu thầy. Tôi mang tội v́ đưa người đến để nói xấu thầy."

Đó là cách xử thế và quan điểm riêng của bà Chín về tiền duyên và nghiệp chướng.

Khi đến nhà tôi như mọi khi và được biết tôi đă rời khỏi quê nhà, bà Chín thoáng buồn trên nét mặt. Bà như ngầm hiểu chuyện bất khả dừng của tôi. Bà buồn bă nói với vợ tôi:

" Nhờ bà thầy cho tôi gởi lời thăm ông thầy."

 

Từ Đau Lưng Đến Tích Tụ Bỉ Khối

Tôi không biết nhiều về người bịnh ở xă Vĩnh Phú này. Qua tên ghép hai họ Ngô- Trần Nhựt của anh tôi không nghĩ anh là người địa phương.

Xă Vĩnh Phú là một xă nhỏ ở cực nam quận Lái Thiêu. Xă không đông dân. Dân chúng sống bằng nghề nông. Lợi tức thu nhập nhờ bán mía, dừa, rau cải. Vĩnh Phú lại nổi tiếng về nghề làm guốc. Nhựt nổi tiếng trong xă v́ sự thành công của anh trong việc sản xuất guốc. Guốc do anh thiết kế được phụ nữ ở B́nh Dương, Biên Hoà, Gia Định và Sài G̣n hưởng ứng. Nhựt có xe hơi và sử dụng nhiều loại nhạc khí khác nhau như organ, guitar.

Nhựt đến với tôi qua sự giới thiệu của một người học tṛ cũ của tôi ở Hóc Môn nhưng có vợ ở Vĩnh Phú. Đó là Cao Quốc Việt, anh của Cao Quốc Dân. Cả hai đều là học tṛ của tôi. Tôi có cảm t́nh với hai người học tṛ này v́ cả hai đều có năng khiếu Sử- Địa đặc biệt với lư luận khá chặt chẽ ở vào lứa tuổi của các em thời bấy giờ.

Nhựt nhờ tôi chữa chứng đau lưng của anh. Sau một thời gian châm trị bịnh của anh được khắc phục. Anh bắt đầu có cảm t́nh với tôi. Mỗi khi có dịp đi chợ Lái Thiêu anh đều ghé thăm tôi với chút ít đặc sản Vĩnh Phú.

Khoảng một năm sau anh bị đau nhức toàn thân khiến anh có cảm giác là anh sắp chết. Một người bán thuốc Tây bán cho anh một viên thuốc ǵ đó với giá 400 (1 đồng CHXHCN: 500 VNCH. 400: 400 x 500: 200, 000 tiền VNCH cũ). Bịnh vẫn không thuyên giảm. Anh trối với vợ phải chôn anh ở nơi nào quanh nhà nếu anh chết. Nhiều dân làng đến thăm anh khi nghe tin anh bị cơn bạo bịnh. Trong số này có một người bạn ấu thời của tôi, anh Đào Văn Nghị, một chủ trại chăn nuôi người Hoa, một đại tá MTDTGP phục viên v.v.

Anh Nhựt thều thào nói:

" Bịnh của tôi chỉ có ông Lân chữa khỏi mà thôi."

Bạn tôi lên tiếng:

" Ông Lân là bạn của tôi. Nhưng làm sao có xe gắn máy chở ông xuống?"

Người chủ trại chăn nuôi tiếp lời người bạn họ Đào của tôi:

" Tôi có xe Mobylette. Tôi biết nhà ông Lân. Thằng Tường, con tôi, là học tṛ của ông ấy. Nhưng ông Lân không biết tôi, làm sao chở ông đi được?"

Bạn Nghị viết cho tôi vài hàng giới thiệu để ông chủ trại chăn nuôi này chở tôi xuống Vĩnh Phú. Đến nơi tôi thấy Nhựt nằm trên bộ ván. Trông anh ốm yếu và đau khổ lắm. Thấy tôi anh gật đầu chào tôi, người mang hy vọng cho anh. Tôi bắt đầu công việc và lưu kim trong ṿng 15 - 20 Phút. Sau khi tôi rút kim Nhựt ngồi dậy và chính anh tự nấu nước pha cà phê cho tôi. Những người đến thăm anh ngạc nhiên. Có người hỏi trong cây kim có thuốc ǵ không? Một vị đại tá phục viên nói:

" Tôi có nghe về châm cứu nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy hiệu quả của nó."

Ông mời tôi về nhà ăn cơm. Sau đó ông gởi các con ông lên học với tôi. Ông rất vui khi thấy các con ông học hành tiến bộ trong trường. Ông càng thích tôi sau khi tôi chữa chứng ho khan dây dưa của vợ ông.

Chiều ngày 25 - 05 - 1985 tôi cỡi xe đạp đi Sài G̣n để đi miền Tây trên lộ tŕnh vượt biên. Đến Vĩnh Phú ông chặn xe tôi lại và nói:

" Tôi thấy ông chạy ngang đây nhưng kêu ông không được. Tôi có mua cho ông một trái mít thật ngon. Ông vào nhà chở mít đi."

Tôi t́m cách khước từ viện lẽ tôi đi chữa bịnh cho một người ở Sài G̣n (TP Hồ Chí Minh) nên không thể chở mít được.

" Để tôi xẻ cho ông một miếng ăn cho biết loại mít đặc biệt". Ông nói.

Ông có ngờ đâu buổi gặp mặt chớp nhoáng này là buổi gặp gỡ cuối cùng giữa ông và tôi trên quê hương Việt Nam.

 

Đau Lưng, Xụi Tay.

Có một thời gian tôi chữa cho các anh em chở lu, chén, cũi, than về chứng đau lưng. Phần lớn các anh em này là các cựu quân nhân chở đồ gốm từ Lái Thiêu về bán ở miền Tây. Có người lên Bến Cát, Chơn Thành chở than về bán ở Sài G̣n, Bà Chiểu, Chợ Lớn v. v.

Người công an bảo vệ chánh trị đầu tiên điều tra tôi nhờ tôi châm trị chứng đau lưng của anh. Châm xong anh chở tôi đi uống cà phê ở Phú Long. Nhiều người quen biết không che giấu nổi sự ngạc nhiên trước sự kiện này.

Một vài phụ nữ đốn mía ở Phú Long, Vĩnh Phú cũng có đến nhờ tôi chữa chứng xụi tay.

Một hôm có một ni sư tu trong một Phật tự trên đỉnh núi Châu Thới đến nhờ tôi chữa một cánh tay xụi và đau nhức của bà. V́ cánh tay xụi nên việc mặc quần áo rất khó khăn. Mọi việc trong chùa đều chịu ảnh hưởng của căn bịnh của bà. Bà cho biết bà bị chứng này lối hai năm rưỡi.

Tôi hỏi bà do đâu bà biết tôi. Bà cho biết bà là người Phú Long, chị của thiếu tá Ẩn. Một người cháu của bà làm nghề đốn mía bị xụi tay và được tôi chữa khỏi. Mừng quá chị lên núi Châu Thới gọi ni sư qua Lái Thiêu gặp tôi để chữa cánh tay xụi của ni sư.

Tôi chữa cánh tay xụi của ni sư chùa Châu Thới. Sáng hôm sau bà đến nhà cám ơn tôi để trở về chùa. Tôi khuyên bà nên ở lại thêm vài ngày cho tôi chữa cánh tay của bà.

" Tôi đă hết bịnh rồi!" Bà vừa nói vừa đưa cánh tay thẳng lên. Rồi bà nói tiếp: " Phải chi gặp thầy sớm th́ cánh tay tôi đâu phải chịu sự đau nhức và tàn phế suốt hai năm rưỡi."

" Ni sư gánh chịu nghiệp hai năm rưỡi. Bây giờ nghiệp đă hết nên mới gặp người chữa hết." Tôi nói.

Ni sư cười và chào tôi để ra bến xe về Dĩ An (1) cho kịp giờ. Từ Dĩ An về núi Châu Thới không biết ni sư dùng phương tiện ǵ.

 

(1) Thời Pháp thuộc Dĩ An thuộc tỉnh Gia Định. Vị trí của Dĩ An rất quan trọng v́ có trạm hoả xa Xuyên Việt và v́ là nơi hội tụ ranh giới của ba tỉnh Gia Định- Biên Ḥa- Thủ Dầu Một (B́nh Dương). Sau năm 1954 Dĩ An thuộc tỉnh Biên Hoà. Sau năm 1975 Dĩ An thuộc tỉnh Sông Bé (B́nh Dương).

 

Rối Loạn Đường Tiểu

Một buổi trưa có một cặp vợ chồng đến gặp tôi. Người vợ họ Hứa, tên Hoa bị chứng rối loạn đường tiểu. Cô sinh trưởng trên bờ Vịnh Thái Lan, nơi tiếp giáp của ba nền văn hoá Việt- Hoa- Khmer. Chồng cô cho biết mỗi đêm cô đi tiểu lối 20 lần nên cô ấy xanh xao tiều tụy. Anh cũng thú nhận đă chạy chữa nhiều nơi nhưng không khỏi. Có nơi c̣n cho cặp vợ chồng này những lời khuyên đầy bi quan.

Cô Hoa được châm trị trên 10 ngày th́ chứng bịnh được khắc phục trước sự vui mừng vô hạn của hai vợ chồng.

Thỉnh thoảng tôi cũng gặp những trường hợp tương tự trong số những người học tập cải tạo.

 

Mụt Lẹo (Mụt Chắp)

Người Anh gọi mụt lẹo hay chắp là stye. Pháp gọi là orgelet. Tên y khoa là hordeolum externum. Theo Tây Y mụt lẹo (chắp) do nhiễm trùng ở tuyến dầu trong mí mắt mà ra. Đông Y cho đó là hậu quả của gan nhiệt và táo bón mà ra.

Trong một buổi dạy học cho cháu Hùng và các con của Xà Nă và Lư Anh tôi thấy Lủ, con trai của Xà Nă, bị mụt lẹo khiến một con mắt bị sưng vù. Lủ cho biết sẽ đi mổ.

Sau khi dạy xong tôi châm vào một huyệt Cao Hoang (1) trên lưng nghịch chéo với mắt bị sưng v́ mụt lẹo và nặn máu. Lủ vui mừng la lên: " Hay quá! Nghe nhẹ liền!". Lủ được châm và nặn máu lần thứ hai th́ mụt lẹo lặn đi, mắt không c̣n sưng.

Cháu Ẩn ở Paris cho tôi biết Lủ đă mất v́ bị stroke.

 

(1) Huyệt Cao Hoang trên lưng gần vùng phổi. Ngày xưa người ta tin rằng bịnh nhập Cao Hoang rất khó chữa, thầy thuốc bó tay.

 

Trúng Gió Méo Miệng Xệch Mắt, Suyễn, Mắt Đứng Tṛng

Trường hợp trúng gió méo miệng mắt xệch có hai trường hợp điển h́nh được chữa trị khỏi trong ṿng từ 07 đến 10 ngày.

Trường hợp thứ nhất là một chủng sinh ở Nha Trang tôi không biết tên nhưng có tin anh hiện định cư ở San Francisco.

Trường hợp thứ hai là bà Nguyễn Thị Dưa, người Hải Pḥng. Bà bị trúng gió xệch mắt méo miệng. Sau khi tôi chữa dứt chứng này th́ bà nói với tôi có lẽ bà chết vào tuổi 53. Tôi hỏi tại sao? Bà cho biết gia đ́nh bà có hai người anh chết v́ bịnh suyễn ở tuổi 53. Bà cũng bị bịnh suyễn nên tin rằng năm 53 tuổi bà cũng đi theo hai người anh chết v́ chứng bịnh này. Bà nhờ tôi chữa cho bà chứng bịnh này.

Tôi có chút kinh nghiệm về chứng bịnh này sau khi chữa cho Khưu Quang hiện ở Pennsylvania và Hoàng Tiến Minh, gốc ở Nha Trang, hiện sống ở California sau khi rời North Dakota, với kết quả tốt. Trong trại tỵ nạn chính Hoàng Tiến Minh dùng dây đàn làm kim châm cứu cho tôi dùng.

Bà Dưa không chết vào tuổi 53 mà vẫn c̣n sống khi tuổi đời qua 85.

Đến trại Bataan chúng tôi được Âu Di t́m một căn nhà ở Vùng V, nơi có nhiều người Hoa. Người láng giềng của tôi là Hồng Phát, một thương gia ở Cầu Ông Lănh. Một hôm Hồng Phát nói với tôi:

" Con Thanh nó suyễn nặng lắm anh sáu ơi! Đêm nào nó cũng lên cơn suyễn tôi không sao ngủ được. Anh sáu làm ơn chữa giùm cho nó."

Sau khi tôi chữa cho cháu Thanh hầu như dứt hẳn cơn bịnh, Hồng Phát ra lịnh cho các con ông:

"Mấy thằng con trai xách nước cho anh sáu. Mấy đứa con gái phải lănh thực phẩm và nấu cơm cho anh sáu."

Hồng Phát định cư ở Los Angeles.

Đến lượt vợ Âu Di đau bụng lăn lộn. Bịnh mới bộc phát nhưng có vẻ trầm trọng lắm. Hôm ấy nhằm chúa nhật Âu Di không biết phải làm sao đành chạy đến cầu cứu tôi. Trong ṿng không đầy 10 phút châm trị vợ Âu Di (1) không c̣n nghe đau. Chị ấy nằm ngủ ngon lành. Vài ngày sau vợ của Bé (2), một người đồng hương khác ở Lái Thiêu cũng bị chứng đau bụng như vợ của Âu Di. Âu Di nói: Đừng sợ! Để tôi xuống mời anh Lân chữa giùm cho.

Một buổi sáng có một người đàn ông đến t́m tôi trong trại tỵ nạn Bataan ở vùng V. Một con mắt của anh đứng tṛng sau một cơn máy động thần kinh tựa như điện giựt. Thị giác của anh bị mất 50% khiến anh khó chịu và bị nhức đầu chóng mặt. Tôi hỏi anh do đâu anh biết tôi mà t́m. Anh cho biết anh ở vùng X. Một phụ nữ bị viêm xoang v́ té xe Honda ở Vũng Tàu được tôi chữa khỏi. Bà ấy không biết tên ông thầy cũng không biết số nhà mà chỉ cho biết ông thầy ở vùng V.

Mắt của người đàn ông này hoạt động b́nh thường sau hai tuần châm trị. Anh vui mừng đến cảm ơn tôi với cà phê và thuốc lá Camel trước khi lên đường định cư ở Hoa Kỳ.

Một cô giáo Phi Luật Tân trong trại Bataan mời em tôi và tôi ra thành phố Morong để giới thiệu với thân nhân và người quen của bà. Bà quen biết với đại tá Bensen, người chỉ huy trại Bataan, nên việc xin giấy phép cho chúng tôi ra khỏi trại được dễ dàng. Không biết cô giáo Phi giới thiệu với người thân quen như thế nào mà các người chạy xe gắn máy chở khách di chuyển trong 10 vùng trong trại khi gặp tôi họ chào tôi và gọi tôi là Doctor. Quan trọng hơn họ không lấy tiền xe khi tôi di chuyển lên vùng X hay xuống vùng I mặc dù tôi không châm trị cho một người Phi Luật Tân nào cả.

Tôi cũng xin ghi lại đây một trường hợp cứu một người Phi Luật Tân bị lên cơn sốt, ngă quị và dăy dụa dưới đất. Anh la thét giữa rừng cạnh bờ suối rồi nằm bất động. Đối với tôi đây là một sự thử thách giữa lương tâm và trách nhiệm. Tôi đành phải hành sử theo lương tâm. Tôi chỉ em tôi bấm huyệt Tam Âm Giao. Tôi bấm huyệt Túc Tam Lư. Không đầy 05 phút người Phi Luật Tân cựa quậy và đứng dậy. Hai anh em tôi d́u anh qua suối. Anh cảm ơn chúng tôi bằng một loạt tiếng Tagalog Salamat! Salamat! có nghĩa là cảm ơn.

Một điều lạ tôi muốn ghi ở đây là ngày chúng tôi sắp rời trại Palawan lên Bataan có gia đ́nh của một mục sư ở đảo Mindanao đến đảo Palawan lánh nạn đến cho chúng tôi cá khô và đồng ca những bản Thánh ca cầu chúc chúng tôi thượng lộ b́nh an.

 

(1) Vợ Âu Di là con của ông chủ ḷ đường ở Phú Long. Âu Di thích chơi bóng bàn và quán triệt truyện chưởng của Kim Dung. Anh định cư ở San Francisco.

(2) Bé là cháu của ông hai Xướng, chủ vựa bụi và của ông Hoàn Xương, chủ một cửa tiệm bán chiếu ở Lái Thiêu. H́nh như Bé định cư ở Florida.

 

****

Dưới thời phong kiến châm cứu trị liệu bị cấm chỉ ở Trung Hoa nơi phát tích ngành này. Ngày xưa chỉ có vua, quan Trung Hoa mới được thụ hưởng châm cứu trị liệu mà thôi. Ở Việt Nam trước kia châm cứu rất ít được biết đến.

Ngày xưa y học chưa phát triển nên người ta nói: Vạn Bịnh Nhất Châm. Đó là phương thức chữa trị bịnh đơn giản lâu đời nhất trong cộng đồng nhân loại với những ư niệm về y lư đơn giản (đau đâu châm đó) với y cụ tầm thường như kim, miểng đồ sứ (dùng để cắt, lể), đá mài nhọn v. v.

Vạn bịnh nhất châm chỉ phản ánh phương cách chữa bịnh nghèo nàn của người xưa chớ không phải bịnh nào châm cứu cũng trị dứt. Đông Y bó tay trước bốn loại bịnh gọi là Tứ Chứng Nan Y. Đó là: Phong, Lao, Cổ, Lại.

Châm cứu có thể chữa được nhiều loại bịnh nhưng không chữa được các bịnh vi trùng hay vi khuẩn. Trong Tứ Chứng Nan Y có ba loại bịnh có vi trùng hay vi khuẩn: Lao (TB: Tuberculosis), Cổ (Cirrhosis), Lại (Leprosy). Trước kia ở Việt Nam những người mắc bịnh vi trùng như bịnh lao, sốt rét, thương hàn, thổ tả, cảm cúm thường khó thoát khỏi lưỡi hái của Tử Thần.

Suyễn (asthma) và tiểu đường (diabetes) không phải là bịnh vi trùng nhưng rất khó chữa. Tôi đă tŕnh bày việc chữa trị bịnh suyễn bằng châm cứu ở phần trên. Về tiểu đường việc chữa trị chỉ có kết quả đoản kỳ mà thôi dù có kết hợp với các loại dược thảo dễ t́m như lá sống đời ( Kalanchoe pinnata), lá Insulin ( Myrcia uniflora), lá, dây, hột và trái khổ qua ( Mordica charantia), lá Insulin ( Costus igneus) v. v.

 

Phạm Ɖ́nh Lân, F.A.B.I.
 

 

Trang Phạm Đ́nh Lân

art2all.net