PHÙNG-QUÂN





 

NHỮNG CÀNH ĐÀO TRONG KƯ ỨC
 

          So sánh với bạn bè cùng lứa, tôi đă có may mắn được sống trọn vẹn thời thơ ấu tại Đà-Lạt. Vùng đất cao nguyên ấy, một thời đă được tôn xưng là chốn Hoàng-triều Cương-thổ, của cuối triều đại nhà Nguyễn, nơi mà người dân dă, từ các bà quảy gánh hàng rong, đến buôn thúng bán bưng ngoài chợ, lúc nào cũng tươm tất trong chiếc áo dài, cho dù chiếc áo dài kia có cũ nát, bạc gấu sờn vai, không che dấu hết được vẻ nghèo khó với những mụn vá thời gian. Đất Hoàng-triều thuở đó c̣n hoang sơ lắm, thỉnh thoảng vẫn thường có từng đoàn người Thượng, từ miền rừng núi trở về qua phố chợ, họ hăy c̣n đóng khố, đeo gùi và mang rựa trên vai, nối đuôi nhau đi bộ thành một hàng dài, tựa hồ như đă quen với lối sống độc-đạo đường rừng. Đà-Lạt xứ của sương mù thơ mộng, với đồi thông vi vút. Có người c̣n thi vị hóa và gọi thị-xă cao-nguyên này là xứ Anh-Đào, v́ hàng năm cứ vào đầu Xuân trong không khí lạnh mát, thành phố này lại bừng lên một màu tím hồng của những cội mai-anh-đào khoe sắc thắm.

Dạo ấy tôi c̣n bé lắm, kư ức c̣n sót lại của một cậu bé học tṛ tiểu học, chỉ là những quang cảnh đùa nghịch với chúng bạn nơi sân trường, hoặc những buổi sáng đứng nghiêm chỉnh chào quốc-kỳ trong sương sớm. Ấy vậy mà mỗi khi có ai nhắc đến Đà-Lạt, tôi lại hồi tưởng ngay đến một thành phố nhiều núi đồi, với bao nhiêu con dốc cao ngất và không thể thiếu những hàng mai-anh-đào trên con dốc dẫn xuống bờ hồ Xuân-Hương, hoặc dọc ngang dưới phố. Tôi vẫn không thể nào quên được ngôi trường tiểu học, mái ngói năm gian, hàng ngày vang lên từng hồi trống trường hai buổi. Chạy dọc theo là con đường Hai-Bà-Trưng, nơi ven lộ có trồng khá nhiều những hàng cây mai-anh-đào. Mỗi năm cứ vào mùa hoa nở, lại bừng lên một màu hồng tím, rực cả một bên đường. Sau mỗi kỳ hoa nở lại đến mùa mai-anh-đào kết trái, những trái mai-anh-đào nhỏ chỉ bằng nửa đốt ngón tay, chi chít trên cành. Thuở ấy những cô học tṛ bé nhỏ trường tôi, thường hay nhặt những trái chín rụng bên lề đường, tô lên mười đầu móng tay làm dáng. Những trái mai-anh-đào Đà-Lạt khi chín, sắc tím đỏ thẫm, mọng nước cắn vào sẽ thấy một vị hơi đắng, thường khi rụng nhiều, bước chân dẫm lên làm loang tím cả vỉa hè.

Mùa thu 1963 năm ấy, khi tôi chuyển trường về Saigon là thời gian đầu tiên của thời trung học. Sân trường nơi đây nóng bức, thiếu hẳn những bóng cây và dạo đó không mấy ngày là không thiếu vắng mùi lựu đạn cay bay vào lớp học. Đó là mùa của những thay đổi, chính-biến, mùa của lớp lớp sinh viên, học sinh thi nhau xuống đường, biểu t́nh băi-khóa… Sống trong vận hội mới, và có lẽ nếp sống nơi đô hội cũng dần dần làm tôi bắt đầu quên đi màu hoa xứ Anh Đào từ dạo đó. Cho đến măi ít năm sau, vào một hôm mùng một Tết, tôi đến chúc Tết một gia đ́nh người bạn, th́ chao ôi đó lần đầu tiên tôi được mục kích ngay giữa pḥng khách bày biện thật trang trọng một cành bích-đào tươi thắm, đặt trong một chiếc b́nh sứ cổ kính, an vị giữa pḥng. Bạn tôi cho biết: “Đây là bích-đào Nhật-Tân, do có người quen làm việc trong Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Đ́nh-Chiến mới từ ngoài Hà-Nội mang vào tặng.” Dạo ấy tôi chưa biết thưởng thức thế nào là vẻ đẹp của cành đào. Tôi nào đâu đă biết phân biệt thế nào là đào kép, đào ta, đào phai ăn quả, đào ghép...! Nào đâu đă biết đến cái đẹp của bích-đào là phải từ thân gốc xù x́, chồi ra những cành nhánh gầy guộc, hay những cành đào thế, có dáng hiên ngang như thế người quân-tử hoặc những cành đào già, da mốc như rêu cau. Nghe nói cành đào gọi là đẹp, trước hết phải c̣n tùy ở cái dáng, cái thế của nó. Phần gốc xù x́ cho ta cảm giác về sự vững bền của nền tảng, cái cốt cách sương-kính của người quân-tử, chẳng thế mà người xưa đă nói: Mai cốt cách, Tuyết tinh thần. Những cành, nhánh không nên xum xê quá nhiều, v́ như thế sẽ làm mất đi cái cảm giác thanh thoát, khoáng đạt. Lúc ấy thú thật tôi chỉ thấy cành bích-đào kia sao mà rực rỡ thế, một món quà hiếm lạ, đến từ nửa bên kia phần đất nước, đang tưng bừng khoe sắc trong những hôm Tết nóng bức của miền Nam.
 

Phải đợi cho măi đến khi sang Nhật du-học, mùa Xuân đầu tiên năm đó, tôi mới thật sự được chiêm ngưỡng và biết thế nào là hoa Anh Đào xứ Phù-Tang. Hoa Anh-Đào Nhật-Bản đẹp thật! Chúng tôi là những kẻ du-học-sinh, lần đầu tiên lạc giữa rừng hoa. Anh Đào nở rộ khắp mọi nơi, từ nơi chốn đền đài cung-điện, hay cho đến những công viên rộng bao la, những cánh rừng Anh-Đào bạt ngàn toàn sắc một màu trắng chỉ hơi phơn phớt một chút sắc hồng, trông xa như những đám mây trắng nơn ửng hồng, bồng bềnh nhẹ trôi theo từng ngọn gió xuân.


“Sakura, sakura...” Cô giáo Nhật Ngữ đă dạy và tập cho chúng tôi bài hát dân ca này. Thử hỏi những ai đă từng một thời là sinh-viên du-học Nhật-Bản mà không nhớ măi bài hát ấy. Âm điệu bài hát êm ả như sự hài ḥa giữa con người và thiên nhiên, một xứ sở thật thái-b́nh, đệm vào đấy tiếng đàn Shamisen trầm bổng, quyện vào những động tác uyển chuyển của vũ điệu đón mừng Anh-Đào nở mỗi độ đầu tháng Tư. Phải đi thưởng lăm hoa Anh-Đào nở trong những dịp lễ hội Hanami như thế, mới thấy được dân tộc Nhật-Bản yêu thích và sùng kính biểu tượng Sakura của xứ sở họ như thế nào. Và đấy cũng là dịp thiên hạ được nh́n ngắm những thiếu nữ Nhật-Bản xúng xính trong những bộ áo Kimono cổ truyền lộng lẫy. Mầu sắc rực rỡ từ những chiếc áo Kimono sặc sỡ, nổi bật bên cạnh những cánh rừng Anh-Đào bát ngát. Bức tranh thiên nhiên sinh động ấy với những nét chấm phá thật hài ḥa tuyệt mỹ, thỉnh thoảng đây đó vài cơn gió nhẹ đưa về, làm hàng vạn cánh hoa Anh Đào lăn tăn nhẹ nhàng bay trong gió, như những hạt tuyết mong manh tựa tơ trời, đậu hờ trên vai áo giai nhân...

Thuở ấy chúng tôi và những buổi b́nh minh của tuổi trẻ đă cùng nhau hăng say, ngạo nghễ lên đường. Bao nhiêu điều hay, nét đẹp nơi xứ người, đă tràn đến làm chúng tôi choáng ngợp và lưu lại trong tâm hồn tôi, kẻ du-sinh bao ấn tượng. Nhưng trong kư ức của riêng tôi, không phải mùa Anh-Đào nào nơi xứ Phù-Tang lúc nào cũng đơn thuần tươi sáng như những mùa Xuân tràn đầy hạnh phúc, không phải lúc nào cũng như được êm ả đi trên những thảm cỏ non, c̣n in nhẹ dấu hài. Có một dạo tôi cũng đă trải qua những ngày nghỉ Đông buốt giá, lao động cơ cực, làm việc nơi những công viên cần được trùng tu. Khi ấy thảm cỏ đă thôi xanh, chung quanh chỉ c̣n lại toàn một màu vàng rạ héo úa. Tôi đă làm bạn với bao gốc cội Anh-Đào. Hai bàn tay thư-sinh của chàng du-sinh xứ Việt, lần hồi cũng biết chăm sóc những cây Anh-Đào, cũng biết khéo léo quấn từng lớp rơm khô, bao quanh từng thân cây, từng cành đào, dùng sợi dây gai cuốn chặt lại, rồi âm thầm tự nhủ: “Cuốn rơm cho khéo nhé, Giữ ấm buổi đông th́, Xuân về hoa hé nụ…!”

Qua mùa Đông năm ấy, hai bàn tay chàng du-sinh đă thấy hằn lên những vết nứt nẻ như thân cây đào trong sương gió. Một buổi chiều cuối Đông lang thang một ḿnh trên phố, t́nh cờ gặp lại người yêu cũ, mời nhau tách cà phê trong kitsaten quán nhỏ. Ôn chuyện đời sương gió, chàng ngọt ngào thả nhẹ viên đường vào tách cà phê của nàng như thói quen chưa bỏ. Chợt nh́n xuống bàn tay chàng, nàng sững sờ: “Không lẽ!”.

Bỡ ngỡ chớp vội làn mi, nàng khẽ ngoảnh mặt cúi đầu. Nghẹn lời hồi lâu không nói: “Cố hương ơi…”, chợt thấy ḷng quặn đau một nỗi ngậm ngùi.

Dạo ấy đă xa lắm rồi, mỗi năm trên xứ Phù-Tang hoa Anh-Đào vẫn nở. Không biết có bao giờ, ai đó lạc bước du-xuân đến chốn công viên ngày nọ, nh́n lên những cành hoa Anh-Đào đang rung rinh trong gió, vào mỗi dịp lễ hội Hanami, hoặc ngồi nghỉ chân bên những luống cỏ hoa thơm biếc. Thử hỏi có ai thấy ẩn hiện đâu đó chút vết tích của chàng du-sinh xứ Việt năm xưa, mùa Đông năm nào đă cắm cúi, nâng niu giữ ấm từng gốc cội, cành đào? Hẳn chàng du-sinh ấy cho dù có lưu lạc tận phương nào, chắc chắn suốt đời sẽ không bao giờ quên được những tháng năm đầu đời hạnh phúc, sẽ nhớ măi những ngày Đông giá buốt, lam lũ làm bạn với những cội Anh-Đào già.

Chàng du-sinh ấy, giờ đây đang lần hồi gợi lại trong kư ức từng cánh hoa anh đào, từng bó rơm thơm màu vàng rạ, từng lời hát cũ trong bài: “Sakura, sakura ...”.
 

PHÙNG QUÂN