|
NỮ SỬ ĐẠM PHƯƠNG & CÁC NHÂN VẬT ĐỒNG THỜI
(Đề tài ở buổi hội thảo tại Lan Viên Cổ Tích 2, đường Bạch Đằng, TP Huế
ngày 28
tháng 6, 2026 do TS Thái Kim Lan tổ chức)
Nữ Sử Đạm Phương .( H́nh từ Wikipedia )
Xă hội ta trước thế kỷ XX, văn hóa phong tục vẫn nặng văn hóa phong tục Khổng Mạnh, nhứt nam viết hữu, thập nữ viết vô nên con gái không được đi học. Thế hệ bà nội, bà ngoại tôi không ai biết chữ dù là con nhà con quan! Thế hệ các cô tôi có gia đ́nh cũng không cho con gái đến trường. May mắn cho các cô tôi được cho đi học bài bản. Ông nội tôi là người đi trước thời đại! Và trong thời kỳ phong kiến ấy có một quận chúa cành vàng lá ngọc cũng được đi học, Công Nương Đồng Canh, cháu nội Vua Minh Mạng. Cho thấy triều đ́nh nhà Nguyễn cũng khá thức thời, cởi mở cho nữ giới được phát triển tiềm năng. Hai vị hoàng tử bác của cô là Tùng Thiện Vương và Tuy Lư Vương được Vua Tự Đức khâm phục, trân trọng ngang với thi nhân đời Đường bên Tàu:
Văn như Siêu Quát vô tiền Hán Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường!
Không hổ là con cháu Tùng Tuy, Công Nương Đồng Canh sớm phát hiện tài năng là một nữ sử của thời đại với bút hiệu Đạm Phương. Bà làm thơ, viết văn, viết b́nh luận về vai tṛ phụ nữ trong xă hội, về nữ quyền và cho đăng trên nhiều tờ báo trong nước, gồm cả báo riêng của phụ nữ. Từ năm 1918 đến 1929 bà gởi hơn 200 bài viết cho các báo. Bà là kư giả nữ đầu tiên viết bài cho Nam Phong Tạp Chí của học giả Phạm Quỳnh. Bà cọng tác với tờ Phụ Nữ Tùng San ở Huế do nhóm nữ lưu tiên phong thành lập năm 1929.
Quư bạn cũng biết nữ sử là danh từ Hán Việt chỉ người phụ nữ ghi chép sử sách, văn thư, là một vị nữ quan trong cung đ́nh phong kiến xưa. Trong văn học và văn hóa, ‘nữ sử’ được dùng như một danh xưng trân trọng để chỉ các bậc trí thức nữ, hoặc nhà hoạt động xă hội nữ có kiến thức uyên bác, đóng vai tṛ lớn trong việc lưu truyền văn hóa nước nhà. Bà Đạm Phương là một nữ sử đúng nghĩa đen v́ rất uyên bác về văn hóa truyền thống, thông thạo Hán học, giỏi chữ Pháp và ngôn ngữ Việt. Năm 20 tuổi, bà được mời vào cung phụ tá hoàng hậu và dạy học cho các công chúa, được triều đ́nh phong chức nữ sử. Bà cũng xứng đáng là một nữ sử theo nghĩa bóng, là một influencer lớn đă để lại dấu ấn cho nhiều thế hệ. Bà là một nhà trí thức, có công đẩy mạnh phong trào lưu truyền văn hóa, giải phóng phụ nữ, khai sáng nữ quyền. Bà cho rằng ch́a khóa cho việc nâng cao vị thế của phụ nữ là giáo dục.
Trong bài “Muốn cho nữ lưu biết chức nghiệp, phải có Học hội nữ công.” Bà viết: “Nước ḿnh đàn bà con gái không phải không có óc thông minh, cũng không phải không có tài năng song không biết cách cùng nhau mà mưu sự nghiệp hạnh phúc chung, làm cho sự nghiệp về đường nữ công là cái phận sự của ḿnh, phải nên chăm chút để gây dựng một nền giáo dục hoàn toàn mới mong nở mày nở mặt với người ta.” Bà kêu gọi người phụ nữ muốn giải phóng ḿnh th́ phải học chữ, học nghề để có thể bước ra khỏi xó bếp, thoát ra khỏi cái ách tam ṭng, sống tự lập, góp phần phát triển kinh tế, phục vụ nước nhà!
Đạm Phương nữ sử và chồng, ông Nguyễn Khoa Tùng ( ảnh tư lệu )
Bà Đạm Phương là một nhà hành động, không chỉ hô hào suông. Bà kêu gọi nữ giới thành lập Học Hội Nữ Công. Hội ư với cụ Phan Bội Châu, Học Hội Nữ Công được thành lập vào cuối tháng Tư, 1926 nhằm đoàn kết, giáo dục phụ nữ nước nhà. Hiệp hội quy tụ khá nhiều nhân vật có uy tín ở Huế với Bà Đạm Phương là Hội Trưởng, bà Trần Quang Khải là Hội Phó, Tổng thư kư là bà Trần Thị Như Mân cùng các vị ủy viên là phu nhân của quư ông Nguyễn Khoa Tú, Ưng Úy, Thân Trọng Phước, Nguyễn Bá Trác. Mục đích của Hội là dạy nữ công gia chánh, may vá thêu thùa, dạy nghề để phụ nữ có thể độc lập về mặt kinh tế. Quy mô của Hội ngày càng phát triển. Bà Đạm Phương cử cán bộ ra Hà Đông, Hà Nội, vào Quảng Nam học thêm các nghề mới như dệt vải, ươm tơ, nuôi tằm để về chỉ vẻ lại cho chị em trong Hội. Bà mời thầy về dạy kỹ thuật mới như đă mời ông Diễm ở Hà Đông về dạy cách dệt vải khổ rộng với năng suất cao hơn kiểu dệt cũ. Bà cũng đi vào Nam, ra Bắc giới thiệu mô h́nh Nữ Công Học Hội và khuyến khích thành lập những hội tương tự ở địa phương.
Đạm Phương ( ngồi ở giữa, sau bàn ) tại lễ khánh thành Nữ Công Học Hội Huế
Nguồn
ảnh: Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia Việt Nam Nữ Công Học Hội thành công được coi là một sự kiện lịch sử quan trọng trong công cuộc nâng cao vị trí phụ nữ trong xă hội thời bấy giờ. Hoạt động của Hội đă gây được tiếng vang khắp cả nước. Nhiều học sinh ở các tỉnh miền Trung, Saigon, Hanoi tự động tổ chức chi nhánh tại địa phương ḿnh. Nữ sử Đạm Phương thật đúng là một vị nữ lưu hoạt động cho b́nh đẳng giới (Feminist). Bà cũng khởi động phong trào nữ lưu tiên phong cùng bà Trần Thị Như Mân, Hoàng Thị Vệ (vợ bs Thân Trọng Phước), Hồ Thị Hạnh (Sư Bà Diệu Không) và nhiều phụ nữ khác. Bà Như Mân là cựu học sinh Đồng Khánh (h́nh năm 1931) và là phu nhân của học giả Đào Duy Anh.
Nữ sĩ Như Mân và cụ Đào Duy Anh
Nữ sinh Đồng Khánh, Huế 1931 . Ảnh: TL
Nhớ khi kiểm tài liệu để viết cuốn Lá Trúc Che Ngang – Chuyện t́nh của cô tôi, tôi thấy cô tôi (Hoàng Thị Kim Cúc) có nhắc tên bà Đạm Phương. Cô đă tṛ chuyện với bà về vấn đề phụ nữ. Cô cũng rất quan tâm đến vấn đề nữ giới và vai tṛ của người đàn bà ở trong gia đ́nh cũng như ngoài xă hội. Năm 1935, cô gởi bài “Thơ cho chị Thanh Hà” cho báo Tràng An ở Huế qua mục Tiếng Oanh.
Năm 1936, cô gởi bài “Thiên chức đàn bà” cho báo Tràng An. Cũng năm 1936, cô gởi bài “Vài nguyên nhân làm ngăn trở bước đường tiến hóa của chị em con nhà khuê các” cho báo Đàn Bà ở Hà Nội. Mồng 6, tháng 12, 1941 cô viết thư trả lời bà Thụy An, báo Đàn Bà ở Hà Nội, về “Chị em trí thức ở thần kinh.” …
Nói đến nữ lưu tiên phong của Huế mà không nhắc đến tiểu thư Hồ Thị Hạnh là một thiếu sót lớn! Trước khi trở thành nhà tu hành Thích Nữ Diệu Không, cô Hồ Thị Hạnh, con út của quan đầu triều Hồ Đắc Trung, cũng là một bậc nữ lưu tiên tiến. Cô tốt nghiệp trường Đồng Khánh, giỏi tiếng Pháp, tinh thông Hán học và rất năng nổ, chung tay cùng chị em sinh hoạt xă hội, dấn thân vào các hoạt động từ thiện, khích động phong trào giải phóng phụ nữ, đ̣i quyền b́nh đẳng với nam giới, quyền làm người. Cô từng là thành viên sáng lập Học Hội Nữ Công và làm thủ quỹ cho hội cùng với bà Tổng thư kư Như Mân. Con nhà danh gia vọng tộc, cô Hồ Thị Hạnh nhất định không thiếu vương tôn công tử muốn kết thân, nhưng cô chọn làm vợ kế của một người bị bệnh lao thời kỳ cuối có 6 con mất mẹ là hạnh nguyện bồ tát của cô. Cô thưa với thân phụ, “Con muốn nuôi các con ông ấy.” Ông ấy là ông Cao Xuân Xang, con cụ Cao Xuân Dục, quan Phụ Chính Đại Thần, được phong Đông Các Điện Đại Học Sĩ khi về hưu.
Không có chức quan nào to hơn! Ông Cao Xuân Xang học ở Pháp về cũng làm quan ở Cơ Mật Viện. Ông c̣n vẽ giỏi, thơ hay. Ông bị bênh lao khi vợ qua đời nên không thể tục huyền, không dám hỏi cưới ai. Tiểu thư Hồ Thị Hạnh phải mở lời với ông trước và đem 6 người con của ông về nhà ḿnh nuôi dưỡng. Ba năm sau bên nhà ông xin cưới để cô được danh chính ngôn thuận làm mẹ. Đám cưới buồn như một đám tang. Trong hồi kư “Đường Thiền Sen Nở” Sư Bà viết: “Ngày chú rể lên lạy hai cụ, cả nhà hai họ đều khóc. Khi các con ra lạy ông bà ngoại và cha mẹ, họ hàng đều khóc như là đám ma.” Bà làm bài thơ Đám Cưới như sau:
Đám cưới hay là một đám tang? Cả nhà, lớn, nhỏ thảy đều than Chồng chung, bệnh hoạn t́nh phai nhạt Vợ kế, kề vai gánh đoạn tràng Kẻ nói là ngu, người nói dại Người cho là dở, kẻ cho gan Biết chăng chỉ có người trong cuộc
Gạy mái thuyền từ phải biết sang
Đúng là chỉ có người trong cuộc mới
biết phận ḿnh phải “gạy mái thuyền từ” để thực hành
hạnh nguyên bồ tát v́ bản thân đă sớm hiểu câu “phụng sự
chúng sanh là cúng dường chư Phật!” Đám tang xảy ra vào
tháng 3, năm 1930, 11 tháng sau ngày đám cưới buồn ấy.
Ông ra đi ngay sau khi được nh́n mặt đứa con thứ 7 vừa
chào đời. Bà nuôi con trai được cứng cát rồi gởi cho
người chị. Bà gởi người con gái đầu của chồng cho vợ
chồng người anh chồng rồi đưa hết 5 người con vào nội
trú hai trường Quốc Học và Đồng Khánh. Bà cũng gởi gắm
nhờ chị ḿnh trông nom rồi thí phát xuất gia năm 1932,
với pháp danh Thích Nữ Diệu Không. Chị bà tên Hồ Thị
Huyên, phu nhân của cụ Ưng Úy, về sau cũng xuất gia là
Sư Bà Diệu Huệ.
Tiểu thư Hồ Thị Hạnh Thích Nữ Diệu Không
Một nữ lưu tiên phong miền Trung nữa là nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Ḥa, sinh năm 1896 ở Đà Nẵng, là nhà báo, nhà văn, nhà diễn thuyết, nhà hoạt động xă hội. Bà tranh đấu không ngừng nghỉ cho phong trào nữ lưu và văn học, cọng tác với các báo An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Nam Phong tạp chí, Phụ nữ tân văn. Bà để lại cho đời nhiều tác phẩm giá trị như Tây Phương Mỹ Nhân, Huyền Trân Công Chúa, Chiêm Thành Lược Khảo được Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng và bà Đạm Phương khen ngợi. Hưởng ứng Nữ Công Học Hội của bà Đạm Phương, bà thành lập Nữ Công Học Hội Đà Nẳng, lập đoàn phụ nữ, khuyến khích nữ sinh đi du học nước ngoài. Bà thật đáng nể phục là một feminist rất sớm ở nước ta. Bà là người đầu tiên cắt tóc ngắn, xử dụng phương tiện xe đạp đi lại trong thành phố.
Nữ sĩ Huỳnh thị Bảo Ḥa
Đó là h́nh ảnh rất lạ đối với phụ nữ đương thời. Nhưng bà được học Tây học có điều kiện tiếp cận với những sinh hoạt văn minh hiện đại.
Ở Hà Nội th́ có bà Thụy An tên Lưu Thị Yến sinh năm 1916. Có khiếu văn thơ từ nhỏ. Năm 13 tuổi, báo Nam Phong đă đăng thơ của bà. Năm 16 tuổi bà được giải thưởng văn chương của triều đ́nh Huế. Ngoài ra, bà c̣n là một nhà báo được tín nhiệm. Bà cùng chồng sáng lập Báo Đàn Bà Mới ở Sài G̣n (1934) với vai Tổng biên tập. Bà tuyên bố Đàn Bà Mới là cái trường để chị em cùng nhau học hỏi và bàn luận ư kiến. Trên tờ số 1, bà cho đăng bức h́nh hí họa giới nữ gánh, bê gạch vữa, và xây tường với lời chú: “Chị em chúng tôi xây nền, đắp móng.” Sau khi tờ Đàn Bà Mới ở Sài G̣n bị đ́nh chỉ năm 1937, bà mở tờ Đàn Bà Mới ở Hà Nội năm 1939, cũng cùng năm, bà nhận làm chủ nhiệm tờ Phụ Nữ Tân Văn ở Sài G̣n.
Chân dung Thụy An và báo Đàn Bà Mới
Đồng thời với bà Đạm Phương c̣n có những nữ lưu tiền phong ở phương Nam. Nhà nghiên cứu Bằng Giang trong tác phẩm ‘Saigon Cố Sự’ cho rằng : “Tính đến năm 1930, văn học quốc ngữ Nam Kỳ có non 20 tác giả nữ c̣n để lại tác phẩm in thành sách, nhưng các tác giả trên không để lại một tiếng vang nào ngoại trừ Phan Thị Bạch Vân, chủ nhân Nữ Lưu Thơ Quán ở G̣ Công.”
Chân dung Phan thị Bạch Vân và tờ Nữ Lưu Thơ Quán
Phan Thị Bạch Vân, tên thật là Phan Thị Mai sinh năm 1903 ở Biên Ḥa. Bà theo chồng về sống ở G̣ Công và sáng lập Nữ Lưu Thơ Quán ở đây. Ban biên tập gồm có Đạm Phương (Huế), Nguyễn Thị Đan Tâm (Phú Quảng Trung Kỳ), Hoàng Thị Tuyết Hoa (bút danh của Phan Thị Bạch Vân), Tùng Viên (Phủ Quảng Trung Kỳ), Vũ Xuân Đệ (Hà Nội), Quốc Anh (giáo học Phú Thọ, Đồng Hới), Á Nam Trần Tuấn Khải (Hà Nội). Nữ lưu thơ quán xuất bản sách mỗi tháng 3 kỳ với mục đích bán giá hạ cho độc giả nữ, giúp cho trí thức nữ lưu được chóng mở, học vấn thêm cao. Nữ Lưu Thơ Quán chọn xuất bản những tác phẩm có giá trị về chính trị, lịch sử, truyện kư, tiểu thuyết, phụ nữ, nữ công, văn học, khoa học, thương mại và thiệt nghiệp. Tiếc thay Nữ Lưu Thơ Quán chỉ hoạt động được gần hai năm thị bị chính quyền Pháp thu hồi giấy phép v́ không muốn thơ quán truyền bá những tư tưởng dân chủ, tiến bộ, những kiến thức khoa học cho thanh niên nam nữ nước ta.
Nam Kỳ c̣n có nữ sĩ Sương Nguyệt Anh với tên khai sinh là Nguyễn Thị Khuê hay Ngọc Khuê sinh năm 1864, cùng người chị Nguyễn Thị Xuyến nổi danh khắp vùng là Nhị Kiều v́ tài sắc vẹn toàn. Bà là con gái thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đ́nh Chiểu gốc Bến Tre. Bà có một con gái khi chồng qua đời. Không muốn đi bước nữa nên bà lấy bút danh là Sương Nguyệt Anh, mở trường dạy chữ Nho và bắt đầu làm thơ, viết văn. Năm 1918, được mời làm chủ bút tờ Nữ Giới Chung. Tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt dành riêng cho phụ nữ ở Việt Nam. Tờ báo thể hiện tư tưởng tiến bộ, đ̣i quyền b́nh đẳng nam nữ, chủ trương nâng cao dân trí, khuyến khích công nông thương và nhất là đề cao vai tṛ phụ nữ trong xă hội, đưa ra những tấm gương phụ nữ tân tiến tại châu Âu, Mỹ. Tờ báo c̣n đề cao tinh thần quật khởi của phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa như Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân v.v… Tờ báo nhấn mạnh sự quan trọng của ngôn ngữ Việt. Trong số báo ra mắt, bà chủ bút nêu mục đính chính là truyền bá chữ quốc ngữ v́ Nam kỳ không c̣n là đất đai của nước ta nữa mà là thuộc địa của Pháp và chính quyền Pháp không cho dạy chữ quốc ngữ ở trường học! Tuy chỉ hoạt động gần một năm - báo bị đ́nh bản ngày19 tháng 7, 1918 – sau khi ra được 22 số, tờ Nữ Giới Chung gây ấn tượng mạnh trong làng báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX. Báo bị đ́nh bản có thể v́ bà từ chối lời yêu cầu của chủ nhân tờ báo, một người Pháp có tên Henri Blasquiere. Ông này muốn tờ báo “ca ngợi chính quyền” và “cổ động người Việt đi lính cho Pháp.” Không những cô chủ bút không nghe mà c̣n cho đăng liền mấy bài thơ có nội dung ngược lại. Tài liệu cho thấy bà được mời đi gặp chính quyền trong năm 1930! Ngày 1, tháng 2 năm 2023, Google Doodle tôn vinh bà là Nữ tổng biên tập đầu tiên của tờ báo phụ nữ đầu tiên tại Việt Nam.
Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh
Tờ báo phụ nữ thứ hai ở miền Nam ra đời năm 1929 là tờ Phụ Nữ Tân Văn do vợ chồng bà Cao Thị Khanh sáng lập. Bà Cao Thị Khanh sinh năm 1900 ở G̣ Công. Bà quy tụ một đội phụ nữ trí thức có văn tài, lấy tờ Phụ Nữ Tân Văn làm phương tiện tổ chức những hội đoàn phục vụ cho xă hội và lư tưởng canh tân. Tờ Phụ Nữ Tân Văn với logo 3 cô gái Bắc Trung Nam thể hiện tinh thần đoàn kết, tuy ba mà một, kê vai gánh vác sơn hà! Báo hướng tới khuynh hướng tiến bộ, tuyên truyền dân chủ, dân sinh, phục vụ cho quyền lợi phụ nữ. Báo được phổ biến rộng răi, bán ra tận ngoài Trung và ngoài Bắc. Ngoài việc dùng giấy mực để cổ vũ lối sống mới, vợ chồng bà c̣n tổ chức nhiều hoạt động xă hội, cụ thể hóa những đường lối tờ báo chủ trương. Họ thành lập “Quỹ Đồng xu học sinh nghèo”, “Bữa cơm cho người nghèo”, “Ban ủy viên Phụ nữ cứu tế”, “Hội Dục Anh” và “Nữ lưu học hội” để tạo môi trường trao đổi, bàn luận về các vấn đề b́nh đẳng giới, khuyến khích phụ nữ tham gia vào các diễn đàn chính trị và khoa học, thúc đẩy giáo dục trẻ em gái. Tờ báo phải đ́nh bản vào tháng Tư, 1935 do gặp khủng hoảng kinh tế.
Tờ Phụ Nữ Tân Văn và Nguyễn thị Manh Manh
Và người nữ lưu cấp tiến đồng thời với Nữ Sử Đạm Phương cuối cùng tôi muốn giới thiệu hôm nay là kư giả Manh Manh, nổi tiếng là nhà thơ mới, là một cây bút xông xáo, nhà diễn thuyết nữ tài năng. Bà tên thật là Nguyễn Thị Kiêm sinh năm 1914 ở G̣ Công. Thuở nhỏ bà theo học Trường Nữ Sinh Áo Tím ở Sài G̣n. Năm 1931, tốt nghiệp bằng thành chung, ban Sư Phạm, bà được giữ lại trường giảng dạy. Vừa dạy học, bà dấn thân vào nghề báo, một nghề rất mới mẻ với nữ giới thời ấy. Theo tài liệu, bà là người phụ nữ đầu tiên, đăng thơ, viết bài, đăng đàn diễn thuyết hô hào ủng hộ phong trào thơ mới tại Việt Nam. Bà cọng tác với nhiều tờ báo, làm phóng viên đắc lực cho tờ Phụ Nữ Tân Văn, tờ báo của người bạn thân cùng chí hướng. Tờ báo là bệ phóng quan trọng giúp bà công bố các sáng tác thơ văn truyền bá tư tưởng tiến bộ! Rất tiếc tờ báo chết yểu (đ́nh bản 21 tháng 4,1935). Cô thi sĩ trẻ với mộng tưởng cao không c̣n nơi thi thố tài năng. Nhưng những đóng góp của cô vẫn được những thế hệ sau trân trọng. Hoài Thanh Hoài Chân đă viết về cô như sau: “… người nữ chiến sĩ tiền phong anh dũng và hăng say hoạt động để bảo vệ và củng cố nền tảng thơ mới bén rễ, sống mạnh, ta phải kể Nguyễn Thị Manh Manh một tay đă đóng góp không nhỏ cho nền văn học đất nước.”
Câu chuyện giới thiệu những nữ lưu
tiên phong đồng thời với nhà Nữ Sử Đạm Phương xin khép
lại ở đây. Cám ơn quư vị đă lắng nghe. Xin chào. Hoàng Thị Quỳnh Hoa
|