Người ta thường cho rằng,
Nguyễn Du đă “khiêm tốn” khi kết thúc tác phẩm của ḿnh, bằng một
câu như trên.
Chúng ta có thể tự hỏi, một người để cho nhân vật của ḿnh nói giùm,
“anh hùng đoán giữa trần ai mới già”, “dọc ngang nào biết
trên đầu có ai”, một người tự hào về một cuộc đời “trăm năm
rách nát với văn chương”, nếu người đó cần phải tỏ ra khiêm tốn,
chắc là ở chỗ khác, trường hợp khác, nhưng ở chỗ “nhân gian không
thể hiểu” này, ông chẳng cần phải khiêm tốn làm chi cho mệt cái ḿnh!
Nói gần nói xa, chẳng qua nói thẳng: mua vui chính là “chân lư” của
văn chương. Nhà văn là một kẻ mua vui cho thiên hạ. Một thứ
“enchanter”, một thứ ảo thuật gia. Một anh chàng quá buồn, nên vui
bằng nỗi vui của thiên hạ, qua những tṛ phù thuỷ giải buồn “của
ḿnh”.
Theo nghĩa đó, George Steiner, trong một cuộc phỏng vấn, đă nói về
niềm vui lớn lao, “rằng 20 ngàn ngôn ngữ mà con người bịa đặt ra
là những phương thức đáp ứng nhằm thoát ra khỏi cơi đơn điệu là cuộc
sống, mỗi ngôn ngữ cho bạn một viễn ảnh khác biệt về thế giới.”
Khi được hỏi, có khi nào không phải “người viết sách”, mà “sách viết
người”, ông cho biết đă gặp trường hợp như vậy, thí dụ như năm hoặc
sáu trang trong cuốn Sau Babel: những ǵ chưa từng có ai nói
ra, và cũng chưa từng có người nào đồng ư. Đoạn cuối cuốn
Antigones cũng là do chính cuốn sách tự viết. Nhưng toàn cuốn,
có thể là The Portage.
Theo nghĩa đó, chúng ta có thể nói, không phải Nguyễn Du bịa đặt ra
nàng Kiều, mà nàng Kiều bịa đặt ra Nguyễn Du. Và những điều chưa
từng có ai nói ra, ở Truyện Kiều chính là: mua vui cũng được một vài
trống canh.
Tại sao vậy?
Hăy nhớ lại quan niệm văn dĩ tải đạo. Quan niệm người quân tử buồn
trước cái buồn của thiên hạ (cũng được đi!), vui sau cái vui của
thiên hạ (cái này th́ không được!). Quan niệm, người quân tử không
được để lộ cho người đời thấy những khí ô trọc từ người ḿnh toát ra!
(Hăy nhớ những bài thơ vịnh “cái rắm” trong chuyện dân gian, hăy nhớ
lại bà dân biểu “nín tè” của nền chính trị VNCH…). Không được “ngáp”
giữa công chúng (về nhà mà ngáp!)…
Nói theo Steiner, câu “mua vui cũng được một vài trống canh”, là do
cô Kiều nói, thay cho Nguyễn Du, về thân phận nghiệt ngă của ḿnh:
Đời ca hát ngày tháng, cho người mua vui.
Đây là thân phận nghiệt ngă của người nghệ sĩ. Của nhà văn, tiểu
thuyết gia đúng hơn, như một kẻ làm tṛ ảo thuật, mua vui cho thiên
hạ.
Nếu không biết cách làm cho thiên hạ vui, xin hăy kiếm việc khác mà
làm, đừng làm nhà văn, cho mệt ḿnh… độc giả!
Trong bài giới thiệu cuốn Littératures I, nhà văn người Mỹ, John
Updike kể về những buổi giảng văn chương của Nabokov: ông như muốn
truyền hết ḍng điện đam mê từ con người của ông qua sinh viên. Bà
vợ của Updike, một sinh viên của Nabokov, đă “mang cả cơn sốt đến
lớp học, và khi tan lớp, chạy vội tới tiệm thuốc”. Một sinh viên
khác nhớ lại buổi mở đầu một khóa giảng, ông thầy nói: “Những ghế
ngồi đều có đánh số. Hăy chọn cho ḿnh một chỗ, để tôi thấy được sự
liên hệ giữa những con số và khuôn mặt của các bạn… Cấm nói chuyện,
hút thuốc, đan áo, đọc báo, ngủ, và lạy trời, xin ghi ‘nốt’ (pour
l’amour du ciel, prenez des notes). Trong kỳ thi sát hạch: “… trừ
khi có giấy xác nhận của bác sĩ, cấm đi tiểu”.
Như Từ Hải nhận ra Kiều ở giữa chốn chợ buôn người; như Nabokov,
Nguyễn Du nhận ra cái hố thẳm, giữa thực tại và nghệ thuật, giữa
“quân tử” và “nghệ sĩ”. Ông từ chối vai tṛ người quân tử, hoặc chỉ
chấp nhận nó, trong “đời thường”. Một cách nào đó, ông không bắt
buộc văn chương làm cái công việc nặng nhọc là tải đạo. Một cách nào
đó, ông nhận ra chính cái đẹp của thân thể con người mới là điều
đáng ca ngợi, tôn thờ. (Rơ ràng trong ngọc trắng ngà… một toà thiên
nhiên). Tuy dọc ngang nào biết trên đầu có ai, nhưng ông
không đến nỗi ‘ngang ngược’, như Nabokov, khi khẳng định, “khá
nhiều tác giả tuy nổi tiếng nhưng chưa từng hiện hữu dưới mắt tôi.
Tên của họ được khắc trên những nấm mồ trống trơn, những cuốn sách
của họ chỉ là những cái b́a trống rỗng…” (“Nombre d’auteurs
reconnus sont tout bonnement inexistants à mes yeux. Leurs noms sont
gravés sur des tombes vides, leurs livres ne sont que des
couvertures vides…”). Nhưng chắc chắn, ông gật gù khi nghe Nabokov
nói, “Đây là chân lư: những cuốn tiểu thuyết lớn là những câu
chuyện thần tiên lớn” (La vérité est que les grands romans sont
de grands contes de fée).
Liệu có thể gọi Truyện Kiều: câu chuyện về một nàng tiên bị đọa đầy
xuống trần gian, làm một giọng ca, giữa chợ buôn người?…
Trong bài mở đầu cuốn tiểu luận về văn chương Littératures I, “Độc
giả tốt và nhà văn tốt”, Nabokov viết:
"Văn chương không sinh ra vào cái ngày mà một chú bé hớt hơ hớt
hải chạy từ một thung lũng ra bên ngoài, la bai bải, ‘chó sói, chó
sói’, và đằng sau chú là một con sói chạy bén gót; văn chương bắt
đầu khi cậu bé la, ‘chó sói, chó sói’ và đằng sau chú, chẳng có một
con sói nào. Chuyện chú bé nói láo, rồi sau đó bị sói ăn thịt, ở đây
chỉ là phụ thuộc. Điều quan trọng là giữa chú sói ở một góc rừng và
chú sói ở góc trang sách, có một mắt xích long lanh. Mắt xích đó,
lăng kính đó, là nghệ thuật văn chương.”
“Văn chương là bịa đặt (invention). Giả tưởng là giả tưởng. Gọi
một câu chuyện (là) ‘chuyện thực’ là làm nhục cả nghệ thuật lẫn sự
thực. Tất cả nhà văn lớn đều là những nhà ảo thuật gia lớn, nhưng
Thiên Nhiên chính là một tổ sư đại bịp. Thiên Nhiên luôn luôn đánh
lừa, từ một tṛ bịp bợm giản dị về tái tạo (de la simple supercherie),
tới chuyện mà con mắt tuyệt vời, đa đoan phức tạp trong những công
tŕnh nhái đi nhái lại nhằm bảo vệ loài bướm, loài chim… Nhà văn của
giả tưởng chỉ việc đi theo con đường mà Thiên Nhiên đă vạch ra.”
Bắt chước. Tái tạo. Mà con mắt người ta bằng ba tṛ ảo thuật. Sáng
tạo chỉ có nghĩa là lập lại?
Có người cho rằng Nguyễn Du đâu có sáng tạo, mà là “ăn cắp” Tầu. Khi
túng, mượn đỡ Thanh Tâm Tài Nhân.
Ăn cắp, đạo văn… là những từ nặng nề. Nhưng Picasso xúi: cứ việc ăn
cắp, và hỏi lại: bạn có ǵ không, để cho tôi ăn cắp? Một ông nhà văn
khác, (tôi quên mất tên) nói thẳng: chỉ có những bậc đại gia mới lấy
đồ trong túi người khác như móc từ túi của ḿnh, nói rơ hơn, chỉ
những thiên tài mới biết ăn cắp. C̣n hạng thường nhân chúng ta, chỉ
biết bắt chước, mô phỏng, nhái đi nhái lại (imiter).
Những người coi văn chương là cao quí, là nói về sự thực, làm hiển
hiện chân lư chắc buồn khi tôi rẻ rúng văn chương, chỉ là chuyện mua
vui cũng được một vài trống canh… Họ có thể tự hỏi: Chẳng lẽ trong
văn chương, không có một chỗ dành cho… hiện thực?
Có, có. Như chúng ta đă biết, Lăo Tôn khoe với Đức Phật, ta có 72
phép thần thông, trong đó có phép “câu đẩu vân”, chớp mắt ở đây,
chớp mắt đă cách đây hàng ngàn dặm. Hiện thực ở trong văn chương,
chính là dấu vết mà Tôn Ngộ Không để lại, trên bàn tay Đức Phật, sau
khi đă đi khắp ta bà thế giới, với trí tưởng tượng của một nhà văn.
Hăy trở lại với chú nhỏ và con sói của chú. Chúng ta có thể tóm tắt
câu chuyện như sau: điều huyền diệu của nghệ thuật nằm ở trong cái
bóng của con sói mà chú bé bịa đặt ra, trong giấc mơ của chú về chó
sói… (la magie de l’art était dans l’ombre du loup qu’il a
délibrément inventé, dans son rêve du loup.)
Sau cùng chú bé chết, câu chuyện về chú trở thành một bài học bên
những đống lửa trại. Nhưng nhà ảo thuật tí hon, chính là chú. Nhà
phát kiến (l’inventeur), chính là chú.
Updike nói về chú bé: Đứa trẻ trở thành một vết thương nhức nhối cho
bộ lạc, và bộ lạc bỏ mặc cho nó chết.
C̣n cái chết nào đau thương cho Nguyễn Du hơn là cái chết “hoài Lê”?
Nguyễn Quốc Trụ
(Nguồn : Tin Văn
www.tanvien.net )