| NGUYỄN VĂN LỤC
DIỆN MẠO VĂN HÓA, VĂN HỌC MIỀN NAM TRƯỚC 1975 PHẦN 1
Những năm 1954, đối với nhiều người-cả miền Bắc lẫn miền Nam- chắc hẳn là một hồi ức khó quên. Miền Nam lúc bấy giờ đă rộng tay mở một sinh lộ cho những thân phận tối tăm nhờ đó có cơ may t́m lại được cuộc sống con người. Những người di cư năm 1954 đa phần đều là dân quê ít học nên xa lạ với những vấn đề chính trị, vấn đề ư thức hệ hay chủ nghĩa. Vậy mà họ là nhân tố chính của cuộc di cư này. Sự thành tựu của cuộc di cư chẳng những về mặt chính trị, xă hội an sinh, kinh tế như một phép lạ Hy Lạp mà c̣n phải nhờ vào ḷng quyết tâm của đôi chân họ. Sự quyết tâm ấy thể hiện nơi một thanh niên mệt mỏi kiệt sức sau chuyến vượt thoát nằm ngủ mê man, nhưng tay vẫn nắm chặt cây Thánh giá đặt trên ngực. Và một bức ảnh gây ấn tượng nhất trong cuộc di cư: đó là h́nh ảnh một người tàn tật bước lên tầu bằng hai tay với lời ghi chú:
“Để có tự do th́ dù đi bằng tay vào Nam vẫn
cứ đi
Và cho đến năm 1975, biên giới khác biệt giữa các miền về mọi mặt đă nhoà đi. Nó chỉ c̣n là Một. Một miền Nam-. Nhớ lại, lúc bấy giờ trong một t́nh thế chính trị bất ổn, nhiều phe phái, nhiều khuynh hướng trái chiều, nhiều áp lực ngoại quốc từ nhiều phía, ḷng người c̣n bất định chia rẽ.. Đó là một t́nh thế xă hội, chính trị, tính địa phương cực đoan vậy mà nó lại có cơ may tạo thành những nhân tố tích cực cho một miền Nam đầy triển vọng như một miền đất hứa sau này. Do những hoàn cảnh Địa-Chính trị (géo-politique) cực đoan trái chiều, thật khó tin là 1954 lại là cơ may miền Nam lại thừa hưởng một không khí văn hóa, văn học mở rộng chưa từng có- Như gió bốn phương- của nhiều ḍng văn học chính thống cũng như không chính thống. Bài viết này nhằm tŕnh bày lại sự hội nhập văn hóa của ba ḍng chảy đó. Ba ḍng chảy đó bao gồm :
- Văn hóa bản địa miền Nam. Việc t́m hiểu này dĩ nhiên không thể nào chỉ bó chặt vào phạm vi văn học, văn hóa. Nhưng c̣n cần t́m hiểu các vấn đề trên liên quan đến vấn đề ngữ học, xă hội học, địa lư thiên nhiên và địa lư nhân văn cũng như tôn giáo, triết học.
Đó là một t́m hiểu có tính cách liên ngành
(interdisciplinaire) và nhờ đó hiểu được ḍng giao lưu văn hóa
giữa hai miền Nam-Bắc cũng như với văn hóa du nhập từ Tây Phương
chảy về. Trước khi có sự hội nhập các ḍng văn hóa, văn học các nơi đổ về miền Nam th́ miền Nam đă h́nh thành một ḍng văn hóa, văn học bản địa sử dụng chữ quốc ngữ- vốn đă có mặt, ít lắm cũng trên trăm năm rồi-. Theo tài liệu của văn khố Pháp để lại cho thấy ở Nam Bộ các vị đề đốc, thống đốc, giám đốc nội vụ đă áp dụng triệt đề việc cưỡng bách dừng chữ Quốc Ngữ qua các Nghị định c̣n để lại từ năm 1869, kư tên lần lượt các ông G.Ohier, Béliard, Le Myre de Vilers, Lafont v.v.. Việc cưỡng bách thi hành ấy được dùng trong các thông tư, thông cáo trong hành chánh. Làng nào viết được những công văn bằng Quốc ngữ sẽ được thưởng. Công chức, nhân viên biết sử dụng tiếng Annam được thưởng. Nó c̣n c̣n áp dụng cho các kỳ thi trong học chánh, trong việc cho xuất bản báo như tờ Gia Định báo. Tờ Gia Định báo được tài trợ dưới quyền ông Potteau và đương sự được nhận lănh thêm 1200 quan nột năm. ( Trích: Nguyễn Văn Trung, Chữ, Văn Quốc Ngữ, thời kỳ đầu Pháp thuộc, trang 25-47). Và người Pháp Pháp phải mất bốn năm để hỗ trợ chính sách này trên toàn cơi Nam Kỳ… Thật ra đây chỉ là một giải pháp chính trị nhằm loại trừ ảnh hưởng của người Tàu trên các thành phần Nho sĩ c̣n sót lại và thực hiện chính sách trực trị và đồng hóa. Người Pháp hiểu rơ về sự cần thiết phải loại bỏ ảnh hưởng văn hóa của người Tàu và mối lo ngại ấy là có thực.
Vào năm 1905, người Tàu đă đào tạo một cách
bài bản một đội quân với hơn 200.000 người. 200.000 binh sĩ dưới
cờ này đă do các sĩ quan Nhật huấn luyện. Binh đội này trở thành
một mối đe dọa cho láng giềng phương Nam. Giải pháp chính trị của người Pháp lại có tác dụng ngược lại là nhờ chữ Quốc Ngữ đă tạo dựng nên một nền văn học chữ Quốc ngữ ở Nam Kỳ thay thế cho chữ Nho và ảnh hưởng cùa người Tàu. Về điểm này, Nam Kỳ đă đi trước Bắc kỳ một bước về sự phát triển báo chí và số người đọc được chữ quốc ngữ. Số người mù chữ có lẽ ở miền Bắc nhiều hơn miền Nam. Sau 1954, người ta c̣n thấy những bác đạp xe xích lô, ngồi gác chân thoải mái đọc «Bà Bút Trà » trong khi chờ khách. Phải có tiền mới mua báo được. Và phải biết chữ mới đọc được báo. Cả hai yếu tố đó miền Nam trội hơn miền Bắc một bực. Tuy nhiên, ảnh hưởng văn hóa của người Pháp chỉ giới hạn ở một số thị dân giàu có ở Sài g̣n và một vài thành phố lớn. Nửa thế kỷ đô hộ của người Pháp chưa đủ độ chín mùi. Nó c̣n thiếu một chất xúc tác để chan ḥa vào nếp sống bản địa. Đa số dân Nam Bộ vẫn sống nếp sống dân dă từ bao đời nay để lại. Chẳng những thế, nó chia ra hai bộ mặt xă hội trái chiều: một bên là nếp sống của đám dân thị thành-nếp sống theo Tây Phương-. Bên kia là nếp sống của người dân vùng lục châu đậm cá tính miền. Và chính nếp sống này làm nên cá tính của miền Nam từ giọng nói, cách ăn mặc, cách sinh hoạt làm ăn đến nếp sống văn hóa tín ngưỡng. Nó giản dị mà thực tiễn, nó vượt khỏi khuôn khổ mẫu mực, nhưng vẫn có một khuôn mẫu cấu trúc đặc sản của người dân vùng đất mới. Và đây là những nét đẹp văn hóa đặc thù, khởi sắc của con người vùng đất mới. V́ thế, văn học, văn hóa với chữ Quốc Ngữ của vùng đất mới mang tính thực dụng nên c̣n sơ sài, c̣n nhiều mảnh đất hoang chưa khai phá về mặt thi ca, tiểu thuyết, kịch nghệ. Nó chưa tinh luyện, chưa đạt tính nghệ thuật cao. Nó không có cơ hội cọ sát, giao lưu với ḍng chảy chính cho ngang tầm với người ta-. Người ta đây là phía Bắc. Cùng lắm chỉ có một thứ văn hóa được gọi một cách thân thương quen thuộc là văn hóa miệt vườn hay vùng Lục Châu, đủ dùng cho nhu cầu trao đổi, giải trí cho bản địa. V́ thế, nhiều người đă vơ đoán vội vă, nhiều người chế nhạo chữ nghĩa miền Nam chưa đầy một cái cái lá đa!! Nhận xét đó cũng có phần đúng. Miền Bắc dù không chịu trực tiếp sự cai trị của người Pháp xem ra lại tiếp thu khá nhanh về văn hóa Pháp. Sự hội nhập nhanh hay chóng tạo ra cái tâm lư so đo hơn kém, cao hay thấp- do mặc cảm tự tôn cũng có, do truyền thống thi cử tồn tích từ trước một phần, do vị trí địa lư trước đây coi Hà Nội là vùng trung tâm cũng có. Từ đó, phía Bắc vẫn tự xếp ḿnh vào vị trí ưu tiên về văn hóa, văn học ngay từ trước khi người Pháp có mặt. Và một điều trớ trêu là ngay người dân miền Nam cũng tự nhận thế yếu của ḿnh về văn học. Người đầu tiên nhận ra cái thế yếu về văn học giữa hai miền lại là một người miền Nam: Ông Đông Hồ Lâm Tấn Phác, người gốc Hà Tiên, gốc gác truyền đời của họ Mạc. Họ Lâm từ di dân bên Tầu sang nước ta từ thế kỷ XVII. Ông là người miền Nam đầu tiên có thơ đăng trên Nam Phong ở miền Bắc lúc mới 20 tuổi. V́ thế, ông quá hănh diện và coi việc đó như một đặc sủng. Ông cho rằng cần học hỏi văn học xứ Bắc, thống nhất ngôn ngữ- một thứ ngôn ngữ xứ Bắc bóng bảy, trau chuốt, du dương, ư nhị và trang trọng- thay cho ngôn ngữ Nam Kỳ giọng thẳng đuột, tự nhiên lại c̣n hơi thô của các cây bút Nam Kỳ mà tiêu biểu là Hồ Biểu Chánh. Hồ Biểu Chánh trở thành nạn nhân của những thành kiến văn học kể từ đó đến nay! Vị tất ngày nay đă hết!!! Nguyễn Hiến Lê viết lại giai thoại về Đông hồ như sau: “ Đọc những sách báo quốc ngữ miền Nam xuất bản khoảng từ 1900 đến 1920, chúng ta thấy có một lối viết lỏng lẻo, hời hợt, mất hẳn văn hóa cố hữu, tế nhị, cổ truyền của hai miền Trung Bắc.”. Măi cho đến sau thế chiến thứ nhất 1914-1918, nhờ cuộc giao thông tiện lợi, phong trào sách báo ở Hà Nội truyền được vào Nam, t́nh trạng bế tắc này mới thay đổ. Bắt đầu là Nam Phong tạp chí (1917-1934) rồi đến Phong Hóa, Ngày Nay ở Hà Nội (1932-1940 báo Tiếng Dân ở Huế 1927)… (Nguyễn Hiến Lê, Mười câu chuyện văn chương, nxb Văn Nghệ, trang 99.) Sau này, nhiều người miền Nam coi Đông Hồ như một thứ con hoang của Nam Kỳ. Vương Hồng Sển- một người miền Nam tiêu biểu nhất về sự ḥa trộn sắc tộc- Ông mang ba ḍng máu trong người là Việt, Tàu và Campuchia. Ông cũng mang trong ḿnh ngoài ḍng máu c̣n tính chất Nam Bộ đặc sệt trong chữ nghĩa của ông và thường gọi đùa ông Đông Hồ. Người ta gán cho ông Đông Hồ: ” Đông Hồ là nhà văn Bắc Kỳ”. Nguyễn Văn Trung cũng trích dẫn những bài báo của Đông Hồ đăng vào năm 1935 như sau: " Đông Hồ đă lên tiếng về việc phát âm và việc xử dụng hỏi ngă không đúng của các nhà văn Nam Bộ. Ông viết trong báo “ Sống” của ông, số 19, Mars 1935 về dấu hỏi dấu ngă như sau: “ Báo chí in trong Nam mà in được dấu hỏi, dấu ngă là một sự rất khó khăn. Chúng tôi hết sức thu xếp với nhà in và nhiều công phu xem xét để từ đây báo “ Sống” cũng in được đúng dấu hỏi dấu ngă như ở Bắc”. Đặc biệt Đông Hồ không ưa văn của Hồ Biểu Chánh đến độ không chịu được. Ông thú nhận đọc Hồ Biểu Chánh phải nhận là ông tả đúng đời sống xă hội của Nam Kỳ lục tỉnh… nhưng “ đọc th́ cũng đọc, thích th́ cũng thích, duy chúng tôi cứ không chịu được lời văn viết trơn tru thẳng tuột hời hợt của ông." Ông viết tiếp : “Thời kỳ đó, theo quan niệm của chúng tôi viết là làm văn chương mà văn chương th́ phải sửa sang gọt dũa, phải điêu luyện chải chuốt. Đâu là tả thực đâu là tả chân, câu văn cũng phải xếp đặt lại hơn ngôn ngữ thường dân. Tối thiểu phải có một kỹ thuật… Tôi không chịu được văn chương Hồ Biểu Chánh.. Như tôi bây giờ vẫn không chịu nổi văn chương hát cải lương với văn chương của những tiểu thuyết “ chưởng” hiện đang thịnh hành”. (Lục Châu học , Nguyễn Văn Trung, chương đầu, Một mảng văn học bị bỏ quên) Những nhận xét của Đông Hồ ngày nay cho thấy tính “ nông cạn” của ông. Cái hay bản sắc của ḿnh th́ chối từ, đi nhận vơ vay mượn cái hay của người. Phải đợi đến Lê Xuyên với Chú Tư Cầu, sau này bản thân người viết bài này mới nhận thức thấm thía được cái ngôn ngữ Nam Bộ nó hay như thế nào!!! Phải chăng v́ thế mảnh đất trống văn học Nam Bộ sau này đă được bổ sung bởi một số nhà văn, nhà báo từ miền Bắc vào tăng cường gồm những “ mũi nhọn” suất sắc như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Bùi Thế Mỹ, Thiếu Sơn. Đặc biệt Phan Khôi trong nhiều năm trời đă làm mưa làm gió với những bài viết phê b́nh đủ loại của ông trên Phụ Nữ Tân Văn. Phải coi đây là sự hội nhập, tiếp xúc đầu tiên giữa hai miền. Và thừa nhận rằng đây là những sứ giả văn hóa đầu tiên từ Bắc được gửi vào.. Tuy nhiên cây khế ngọt miền Bắc trồng ở trong Nam vị tất đă ngọt. Và cây vú sữa miền Nam mang ra tặng “Bác”, bác chăm bón, tưới mỗi ngày mà cây vú sữa cứ thế mà c̣i cọc, teo dần nay không c̣n ai nhắc tới nữa. Phải chăng văn hóa nhập cảng rất dễ bị rơi vào t́nh trạng bị dư thừa- không được đón nhận-( Unwanted) nếu không khéo chọn? Vậy mà nay -1954- trong phút chốc lịch sử, miền Nam đang phải chuẩn bị đối đầu chờ đón một đội ngũ hàng loạt những văn nghệ sĩ đến từ phương Bắc.
Cái khó chịu phải nhường đất đai, chia sẻ cơm
áo để sống chung đă đành, sự khó chịu, bất nhẫn có thể do sự
khác biệt về lối sống, lối nghĩ, tiếng nói như những kẻ xa lạ. Cứ xét bề ngoài, đa số những người miền Bắc lúc bấy giờ trông quê mùa, chất phác, sùng đạo, vận áo nâu, răng th́ nhuộm đen, chân th́ đi đất-ngón chân cái và ngón chân chỏ xẻ ra để bám chặt trên đất bùn trơn trượt, răng thường hô ra ngoài và chưa bao giờ biết đánh răng bằng bàn chải, chưa bao giờ biết đến bánh ḿ, kẹo tây, xà pḥng. Phụ nữ th́ chít khăn mỏ quạ như phụ nữ Hồi giáo- xa lạ, ngơ ngác, quê mùa- so với người dân miền Nam mặc áo đen, hoặc bà ba rộng thong thả ngồi trên xe thổ mộ hay xe máy ba bánh chạy như bay trên đường phố Sài G̣n. Cả một sự khác biệt về mầu đen- mầu nâu, về tiếng nói, về y phục. Và sự khác biệt lớn nhất là sự giàu và nghèo. Cho nên trong công việc hội nhập, trăm ngàn khó khăn, khổ đau không thiếu các uẩn khúc, sự tị hiềm, sự hiểu lầm, ngôn ngữ xa lạ va chạm khó tránh nổi cái mà ngày nay ta gọi là những cú sốc văn hóa (Choc culturel). Sốc cho cả hai bên. Sốc cho kẻ phải đón nhận và sốc cho kẻ mới tới. Kẻ đón nhận th́ khó chịu, kẻ mới tới th́ ngỡ ngàng. Mặc dầu vậy, nhiều người di cư từ miền Bắc sau này vẫn coi mảnh đất miền Nam là miền đất hứa, coi là quê hương của ḿnh. Miền đất ấy tóm gọn trong một vài chữ là: Chỗ nào cũng có, chỗ nào cũng thừa, gần như ăn thật làm chơi. Tự nhiên người dân nghèo miền Bắc trở thành trung nông mà mỗi gia đ́nh được tặng không ba mẫu đất. Chỗ nào cũng hứa hẹn một ngày mai tươi đẹp. Đó là cái thừa của miền Nam cộng với cái thiếu của miền Bắc trộn vào nhau. Chính cái thừa, cái thiếu này đă gây ra biết bao sự tranh luận! Tuy nhiên không mấy ai lưu tâm đến một thiểu số những thanh niên, thiếu nữ, gốc gác Hà Nội đă vô t́nh một cách nào đó đem theo họ những tinh hoa đất Bắc làm đẹp miền Nam.. Thứ nhất là tiếng Bắc Hà Nội- được gọi là giọng nói Hà Nội đă trở thành iếng nói chuẩn trên các đài phát thanh và truyền h́nh sau này. Các xướng ngôn viên, các ca sĩ bất kể là giọng Nam hay Huế bắt buộc phải bắt chước nói tiếng Bắc. Các giáo sư dạy trung học người Bắc được trọng dụng hơn v́ giọng Bắc chuẩn và hay. Và một số nhà văn miền Bắc viết trong các nhóm Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ 20 sau này được nhiều giới trẻ ưa đọc. Tuy nhiên sự Hội nhập thường hai chiều. Chiều nhận và chiều thải loại. Giọng Bắc được ưa chuộng. Nhưng một số lớn từ thông dụng, các tiếng xưng hô theo chức tước, danh phận, các lối nói láy, nói mát, nói bóng nói gió, các câu chửi đủ loại có vần điệu, hầu như biến mất khi vào miền Nam. Tôi đă viết một bài tham khảo nhan đề: Cuộc di cư chữ nghĩa của miền Bắc để phân tích hiện tượng văn hóa, xă hội này. (Nguyễn Văn Lục, Lịch sử c̣n đó, trang 105) Thứ hai cách ăn mặc của Hà Nội- nhất lá áo dài của tiểu thư Hà Nội- đă có một ảnh hưởng toàn diện trên toàn thể miền Nam sau này. Miền Nam đẹp, tươi sáng, mát mẻ với những tà áo trắng nữ sinh trên khắp miền đất nước.. là thứ văn hóa kế thừa, nhập cảng từ đất Bắc. Áo bà ba, quấn ống loe, rộng của người Miền Nam chui đầu vào cũng lọt, không ôm sát cơ thể người phụ nữ chỉ c̣n thấy xuất hiện ở người dân dưới ruộng. Nhưng ngược lại mầu nâu của người miền Bắc cũng tuyệt chủng v́ trong Nam chắc không có củ nâu để nhuộm. Răng đen cũng biến mất. Khăn mỏ quạ hay chít khăn cũng dần bị thay thế. Đó là sự thải loại tự nhiên, để chỉ giữ lại cái nét đẹp. (20 năm tuổi trẻ miền Nam, Nguyễn Văn Lục)
Đó là ba nhân tố tích cực trong sự giao lưu giữa hai miền Nam-Bắc.
Vùng đất Nam Bộ bị bỏ qua hoặc bị bỏ quên Đó là ngữ từ được Nguyễn Văn Trung dùng khi ông viết cuốn Lục Châu Học, một cuốn sách xử dụng nhiều tài liệu để biện minh và phục hoạt lại ḍng Văn học vùng đất mới. Công việc phục hoạt này là chính đáng bởi v́ từ nhiều năm, nhiều thế hệ nhà văn có tiếng tăm vẫn có thói quen dễ dăi không nh́n ra được cái cá tính, cái đặc sản của văn học, văn hóa của miền Nam. Ngay bản thân người viết bài này, sau 1954 thường không đọc tờ báo Sài G̣n Mới của bà Bút Trà, không đọc truyện của nhà văn Hồ Biểu Chánh, không đậm đà với hát Cải Lương, đi coi Hát Bội th́ chỉ thấy như phường tuồng của Tàu, la hét om ṣm, ăn mặc, bôi vẽ mặt quá lố… Sự ngộ nhận ấy bắt đầu bằng việc các trí thức miền Bắc cho rằng: Truyện ngắn và tiểu thuyết xuất hiện sớm nhất ở miền Bắc. Vũ Ngọc Phan cho rằng Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách là cuốn tiểu thuyết đầu tiên. Ông viết: “Bởi thế cho nên Tố Tâm là quyển tiểu thuyết đầu tiên được mọi người chú ư đến một cách đặc biệt, và như thế, ta phải nhận là dư luận cũng nhiều lúc công minh”. (Vũ Ngọc Phan, Nhà Văn Hiện đại, trang 141) C̣n truyện ngắn th́ dành vinh dự ấy cho Phạm Duy Tốn: Nói về truyện ngắn viết theo lối Âu Tây, Vũ Ngọc Phan cũng khẳng định " Phạm Duy Tốn là người đi trước nhất…” (Vũ Ngọc Phan, Ibid, trang 176.) Nói chung, dư luận miền Bắc đánh giá cao vai tṛ của Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh đối với quốc văn và học thuật.. Nhưng ông Nguyễn Văn Trung đă đặt ngược vấn đề bằng cách đưa ra bằng chứng là trong Nam có truyện ngắn xuất hiện sớm nhất ngay từ năm 1887. Truyện có nhan đề: Truyện thầy Lazarô Phiền của JP.J.B. Nguyễn Trọng Quản. Truyện in thành một cuốn sách, không phải đăng trên báo . Cuốn sách được ghi là tại Libraire-éditeur, rue Catinat, 1887( do nhà bán sách và xuất bản J.Linage, đường Catinat, 1887.) Tôi phải viết ra điều này, v́ nhiều vị làm nghiên cứu từ miền Bắc vào không đủ điều kiện tra cứu tài liệu miền Nam đă tự nhận họ có tác phẩm đó trong tay và viết bài phê b́nh.. Đây là một điều rất đáng tiếc không thích hợp cho tư cách lương thiện trí thức của người làm công việc nghiên cứu. Như thế, công bằng mà nói, Vùng Lục Châu th́ từ bao giờ đến nay, nó vốn có sẵn một ḍng văn học bản địa vốn tự nó có sắc thái riêng- sắc thái miền-. Họ tự hào gọi cái sắc thái đó là cá tính miền Nam. Cái vấn đề là một bên đặt nặng cán cân phê phán trên tính chất văn học, một bên đặt nặng đến cá tính văn học. Sau này, tôi mới nhận thức được cái đúng cái sai khi tiếp xúc với nhiều sắc thái miền của các chủng tộc trên thế giới. Khi học Nhân Chủng học, tôi mới nhận thức được rằng cá tính văn học ở trên và ở rất cao so với tính chất văn học. Và nói một cách công bằng th́ không thể mang sự cao thấp ra để so sánh hoặc đánh giá cao thấp.. Có điều ǵ cho phép người ta đánh giá thấp các văn hóa các dân thiểu số so với các chủng tộc được coi là văn minh? Phải nh́n nhận có nhiều văn hóa và nh́n nhận sự đa tạp và tính chất bản địa của mỗi nền văn hóa ấy. Ngày nay ai mà c̣n cho rằng văn hóa Tây Phương “cao hơn” văn hóa Đông Phương th́ họa là điên rồ. Và đề xuất ra một nguyên tắc bất di bất dịch cần thiết nhất: “ Đó là tinh thần biết tôn trọng cái cá biệt, cái địa phương tính và từ đó mới cảm thức và nhận ra vô vàn cái đẹp của văn hóa và văn học.” Về mặt Nhân chủng học, cái văn minh miệt vườn đó đă bao lần trở thành lời mời gọi quyến rũ, thúc dục người ta cuốn gói ra đi t́m một b́nh minh mới cho tương lai ḿnh và con cháu ḿnh. Đă gọi là cá tính th́ không ai giống ai và sự khác biệt là chính. Trong số những tác giả coi nhẹ giá trị văn học của miền Nam cách này cách khác có những tên tuổi lớn như các cụ: cụ Dương Quảng Hàm, Trần Trọng Kim, Vũ Ngọc Phan, Đào Đăng Vỹ. Đặc biệt Phạm Duy Tốn, ( thân Phụ Phạm Duy), tác giả truyện ngắn: Sống chết mặc bay chê dân Nam Kỳ không có văn minh. Lời chê trách này gây nên một làn sóng phẫn nộ và một số tác giả miền Nam đă lên tiếng phản bác: Thế nào là Văn Minh như quư ông Lương Khắc Ninh, Trương Duy Toản, Nguyễn Kim Đính, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Ngọc Ân.. Hầu như cả Sài g̣n- lục tỉnh chỗ nào cũng bàn chuyện ông Tốn. Chưa cần bàn đến nội dung, đến giá trị văn học. Sự phê phán, nhận xét của văn giới Bắc Kỳ kể là quá quắt lắm nên tờ Nông Cổ Mín Đàm đă phải lên tiếng vào ngày 26-6-1919 như sau: " Xưa rầy bổn báo thường xem báo giới Bắc Kỳ thấy luận nhiều bài thiệt là khinh bỉ Nam Kỳ thái quá; như Trung Bắc Tân Văn bàn luận về quốc văn th́ cho văn Nam Kỳ là hát bội; c̣n Nam Phong bài của M. Phạm Quỳnh, Một tháng ở Nam Kỳ th́ cho người Nam Kỳ có lượng mà không có phẩm; người Nam Kỳ những nhà giàu có phần đông toàn là ngu ngốc cả .." Và lời nhận xét được coi là chuẩn mực nhất là của Phạm Quỳnh với một lời lẽ trịch thượng cho rằng: – Trí thức Nam Kỳ mất gốc: Dự tiệc thấy có người vào dân Tây nói toàn tiếng Tây. Như thế cho thấy các bậc thượng lưu trong Nam Kỳ không c̣n chút ǵ là cái phong thể Annam nữa. – Sinh hoạt văn hóa nhiều về lượng, nhưng kém về phẩm” Kể đến báo ở Nam Kỳ th́ nhiều hơn báo Trung, Bắc Kỳ về cái lượng, nhưng c̣n cái phẩm có được xứng đáng với cái phẩm hay không? – Về sách th́ cái tệ dịch sách của Tàu.. (..) Thứ nhất là các bản dịch cũ của tàu như Tam Quốc, Thủy Hử, Chinh Đông Chinh Tây, Đông Châu, Phong thần…Những chuyện Tàu tự tám mươi đời, văn chương đă chẳng ra ǵ mà truyện th́ toàn những chuyện huyền hoặc, quái đản, của mấy bác cuồng nho bên Tàu đời xưa ngồi không bịa đặt ra để khoái trá những bọn hạ lưu vô học. Thế mà dịch nhiều như vậy, thịnh hành như vậy, nghĩ cũng khả kính thay.. Ấy là các cái tệ tiểu thuyết cũ dịch của Tàu. Đến cái tệ của phần nhiều các tiểu thuyết mới ngày nay th́ lại thậm hơn nữa, v́ cách đặt để đủ làm cho bại hoại phong tục, điên đảo luân thường vậy. Tôi biết có bộ cực là dâm bôn mà lại rất là thịnh hành trong phụ nữ, coi đó th́ th́ biết cái hại sâu đến chừng nào." (Nguyễn Văn Trung, Lục Châu Học, chương mở đầu) Cả một thế hệ văn học, cả một lô “ đỉnh cao trí tuệ” cũng rập theo một luận điệu lối ṃn, chủ quan, hời hợt… Nói ǵ bây giờ. Nhưng qua kinh nghiêm này, tôi trở thành người viết “ đặt lại vấn đề” về mọi lănh vực từ triết học, văn học, nhất là sử học và chính trị. Tôi thú nhận đốn ngă nhiều cây cổ thụ trong rừng và trở thành người viết ngược ḍng.. gây nhiều ân oán.. Đó là nỗi thiệt tḥi của kẻ hậu sinh muốn đi t́m sự thật Việc bỏ quên hay bỏ qua có một nền văn học ở miền Nam kể ra cũng khó trách, bởi v́ đôi khi chính dân miền Nam cũng tự nhận ḿnh như thế.. Hăy nghe ông Phan Văn Hùm trong bài Văn miếu ở Nam Kỳ viết về giới trí thức miền Nam. “Dưới triều Nguyễn ở Nam Kỳ có đỗ đạt chỉ lưa thưa vài bốn tiến sĩ mà Phan Thanh Giản là được sự nghiệp hiển hách hơn cả.. Rồi trường cao đẳng, rồi trường cao học, rồi trường đại học, lần hồi thiết lập đều ở cả tại Hà Thành. Người đỗ cao ở bên Pháp về như các ông Ngụy Như Kôn Tum, Hoàng Xuân Hăn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Nguyên, Ngô Đ́nh Nhu… cho đến văn thi sĩ, nghệ sĩ sau buổi ra trường cao tiểu học hoặc trung học, cũng không phải ở Nam Kỳ mà có. Tôi muốn nói vô duyên với sự học thời kim như thời cổ”. (Tạp chí Tri Tân, số 144, ngày 01-05-1944) (Nguyễn Văn Trung, Lục Châu Học, chương mở đầu) Không biết cụ Phan Văn Hùm nghĩ thế nào về trí thức chứ bản thân cụ cũng có bằng cao học triết học- Diplôme d’Études Suprieures de philosophie- nào có thua kém ai? Và nếu hiểu trí thức là người dấn thân nhập cuộc tranh đấu th́ đất Nam Kỳ thiếu ǵ. Đó là những Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Trần Văn Thạch, Hồ Hữu Tường, Lê Bá Cang, Trần Văn Chiêu, Phạm Ngọc Thạch, Hồ Văn Ngà, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Sĩ, Đào Hưng Long, Lư Sanh Hạnh, Nguyễn Văn Lịnh, Lương Đức Thiệp, Lư Vĩnh Khuôn, Lê Quang Lương, Nguyễn Văn Quá, Nguyễn Văn Tiền vào các thập niên 1930-1935.. Những thiên kiến đối với văn học miền Nam c̣n được tiếp sức bởi những nhà phê b́nh khác như Phan Khôi, Thiếu Sơn, Lê Văn Siêu. Sau này có thêm Phạm Thế Ngũ và luật sư Trần Thanh Hiệp của nhóm sáng Tạo. Trong số trên, Phan Khôi là cây bút tranh luận đanh thép nhất, trận địa nào cũng có mặt ông đi hàng đầu, nhất là về vấn đề văn học và phụ nữ. Phan Khôi trong Phụ nữ Tân Văn số 32 viết: "Vấn đề viết chữ Quốc ngữ cho đúng”. Có chỗ ông khuyên các cô kén chồng là: hễ các cậu nào viết chữ Quốc ngữ không đúng th́ không lấy. Và ông cũng không ngần ngại đem mấy ông cố đạo, các ông Trương Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Của ra mà kết án… C̣n ǵ bất công hơn mang Trương Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Của- những người thợ nề xây dựng cái nền nhà miền Nam lúc khởi đầu ra mà phê phán-. Sau 1955, trong một bài nói chuyện tại Câu lạc bộ Văn Hóa đường Tự Do nhan đề “ Viễn tượng văn nghệ miền Nam, ngày 12-8-1960 ông Trần Thanh Hiệp khẳng định ”Văn nghệ miền Nam không có quá khứ..” Ông Nguyễn Phủ đă phản biện lại bài viết của ông Trần Thanh Hiệp đăng trên tạp chí Bách Khoa như sau: số 88 ngày 1-9-1960.
"Lời tuyên bố của ông Trần Thanh Hiệp gián
tiếp phủ nhận văn học cổ truyền miền Nam, cô lập và tách rời
miền Nam ra khỏi ḍng văn học nói chung một cách nông nổi và vô
bằng. Không có quá khứ là điều đáng tiếc, nhưng có may mắn là
tiến mau lẹ”. Câu chuyện phê phán văn học miền Nam tưởng rằng là văn học, nhưng thực chất là vấn đề Nam-Bắc. Sự đố kỵ giữa hai miền là một thực trạng thường trực, có lúc đậm, lúc nhạt, lúc công khai, lúc âm ỉ. Nhờ có cuộc hội nhập của các ḍng văn học từ miền Bắc, hoặc từ các nước Tây Phương mà sự ngộ nhận dần dần được khai thông. Nhưng kể từ sau 1954, khi có sự va chạm giữa hai nền văn học cho thấy Văn học miền Nam đă tự khẳng định bản chất văn học miền Nam như thế nào.. Ḍng Văn Học bản địa miền đất mới được xây dựng dựa trên địa lư thiên nhiên, địa lư nhân văn và hoàn cảnh chính trị, xă hội thời bấy giờ • Về địa lư thiên nhiên Trong một bài viết của tôi nhan đề Sông nước với con người, tôi cho rằng miền Nam có thể có một nền văn minh sông nước( Civilisation de l’eau) chăng? Nước phải chăng là một tiền đề cho sự xác lập một nền văn hóa mà sau này Sơn Nam gọi là Văn minh Sông Rạch? Người Pháp khi đặt chân lên đất Nam Kỳ có lẽ hơn ai hết đă nhận thức rơ được điều ấy. Trong những tài liệu mà nay c̣n được lưu trữ, người ta thấy có những nhật kư về Đàng Trong như trong Nhật kư du hành bằng Tàu của ông D Richery đến đảo Côn Sơn (Poulor Condor) c̣n được biệt danh là đảo Isle d’Orléans và từ đó đề ra những hoạt động thương mại với Đàng Trong. Mà mục đích của các công cuộc khảo sát là: “ Dự án chỉ thị liên quan đến sự thám thính bờ biển Đàng Trong và đặc biệt nhất về Đà Nẵng." (Xem Victor Tantet, Chef au burerau au Ministère des colonies nhan đề : Mục lục tóm lược văn thư tổng quát về Đàng Trong/Nam Kỳ, người dịch Ngô Bắc, trong Gió-o.net) Sự quan tâm của người Pháp cho thấy họ nh́n từ Đà Nẵng đến đảo Phú Quốc có một thuận lợi không chối căi được về sự giao thông đường biển. Nhất là Lyautey đă có cái nh́n viễn kiến về Sài G̣n. Theo ông, nó không chỉ là nơi thuận tiện cho việc giao thông và buôn bán làm ăn, mà trong tương lai nó c̣n là “ tiền đồn” của Viễn Đông. Và công của Lê Văn Duyệt là dựng lên một Sài G̣n, cho người ngoại quốc đến làm ăn buôn bán và dựng nên một bến cảng trù phú, sầm uất. Sài g̣n lúc ấy được gọi là Gia Định Kinh (một thứ kinh đô của miền Nam). Nguyễn Ánh do úy kỵ và do chính sách Trung ương tập quyền đă đổi thành ly sở của Thành Gia Định. Không lạ ǵ, Nguyễn Ánh đă từng trú chân ở miền đất này và lập nên sự nghiệp th́ cuối cùng khi lên ngôi đă gọi miền Nam là miền đất xa xôi ấy. Điều đó cho thấy ông chỉ coi mảnh đất miền Nam như mảnh đất tạm dung. Tầm nh́n tương lai và điều ông ấp ủ là mảnh đất Phú Xuân quen thuộc. Chọn lựa ấy là đúng hay sai? Nhưng giả dụ thay v́ chọn Phú Xuân, Nguyễn Ánh chọn đất Gia Định với bày tôi là Tổng trấn Lê Văn Duyệt th́ tương lai Việt Nam chắc hẳn là khác. Khác theo nghĩa tiến bộ và giàu mạnh hơn? Mặc dầu bị Trung ương hạn chế quyền hạn, nhưng cả hơn 100 năm trước đây, Sài g̣n đă có Hoa Luân Thuyền công ty với thủy tŕnh đi khắp nơi như xuống Mỹ Tho, Cái Bè, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cù lao Gien, Châu Đốc, Long Xuyên… Đường sông, kênh đào, rạch là mạch máu chính nối liền các lưu dân. Nay ở U Minh Thượng, tháng sau đă ở U Minh Hạ. Lúc sông Tiền, lúc sông Hậu, lúc ẩn nấp ở lung vào láng hoặc len lỏi vào các con kinh rạch.. Và cũng không lạ ǵ, trong một bài viết trên tờ Indochine, Louis Malleret ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam di chuyển khắp nơi chỉ bằng thuyền. Người ta di chuyển bằng đủ thứ thuyền: thuyền có người chèo, thuyền có mái che có nhà để ở, thuyền nan, thuyền buồm, tam bản, thuyền thúng. Đặc biệt ở Huế có thuyền rồng ( Galères du roi), sơn nhiều mầu, trạm trổ rực rỡ, có con rồng có vẩy và đầu ngổng cao. Đặc biệt ở vùng lục châu- Văn hóa miệt vườn- 100% do đất phù sa bồi từ sông Cửu Long người ta di chuyển chủ yếu bằng chiếc tam bản. Trong khi miền Đông thuộc- Văn Hóa miệt Giồng-, đất phù sa pha trộn với sỏi- người ta dùng xe ḅ, xe ngựa để di chuyển. Như thế, nước và đất xác định cách sinh sống làm ăn và nếp sống vật chất cũng như văn hóa của một vùng đất nước. Chẳng khác ǵ các xứ Âu Châu hay các nước có sa mạc như Mông Cổ th́ sự di chuyển của họ bằng ngựa. Sông nước với miền địa lư ưu đăi như thế đă biến những người lưu dân miền Nam, lúc ban đầu, một phần không nhỏ là những dân du mục, những khu dân cư di động. ( Quartier mouvant.) khó phân biệt vùng nào với vùng nào.. Ngôn ngữ thông tục gọi là nếp sống Hạ Bạc. (population flottante). Đơn vị làng xă như đơn vị kinh tế xă hội khép kín ở miền Bắc không có ở trong Nam. Cho nên họ có giọng nói riêng, không giống Trung cũng không giống Bắc mặc dầu phần đông họ đến từ dân Ngũ Quảng.( như Quảng Nam, Quảng B́nh, Quảng Trị, Quảng Đức(Thừa Thiên), Quảng Nam, Quảng Ngăi. Ngôn ngữ nay đầy phương tính du nhập thêm tiếng Trung Hoa, tiếng Chàm, tiếng Cao Mên. Tiếng nói của họ dần mất đi cái vẻ hào nhoáng, chau chuốt bên ngoài và nhất là dụng ư hàm ẩn. Do cọ sát thực tế, tiếng nói trở thành bộc trực đơn giản, một chữ một nghĩa, cái hiểu sao nói vậy của thuở b́nh minh đầu đời. Đó là thứ tiếng nói và viết như một, nói sao viết vậy. Trong Nam không có lũy tre, không có cổng làng, không có đơn vị kinh tế biệt lập nên những giá trị xă hội, tôn giáo, phong tục đều cũng khác biệt, thông thoáng, thực tiễn và mở rộng. Đó là một xă hội mở. Mở theo mọi nghĩa.. Luật pháp nếu có là luật giang hồ. lấy lời nói làm trọng, trọng chữ tín. Cho dù có đi ăn cướp, ăn trộm th́ cũng nhuốm sắc thái anh hùng Lương Sơn Bạc, trọng điệu nghệ giang hồ, hào hiệp bốc trời. Nếu có luật th́ là thứ luật bất thành văn. Nếu có thứ luân lư th́ lấy đạo lư giang hồ làm trọng. Nếu có văn hóa th́ có thứ văn hóa đa tạp, kế thừa và chọn lọc, thải loại. Nếu có tôn giáo th́ là thứ tôn giáo pha trộn-tổng hợp- điều tiết. Bỏ thứ luân lư cầu lợi cho bản thân, bỏ thói giả h́nh, bề ngoài thơn thớt.. Nếu có luân lư th́ đó là thứ luân lư khi thấy hoạn nạn th́ tương cứu, đùm bọc, sống chết có nhau. Trong t́nh nghĩa bạn bè, khinh miệt bọn ḷng lang dạ sói, bọn phù thịnh hay xu nịnh. Tánh nết cương trực, bảo có là có, bảo không là không. Chẳng hạn đạo Phật có đấy, nhưng không phải theo Đại thừa « thuần túy » mà ảnh hưởng tiểu thừa từ người Miên, pha một chút, bớt một chút, gia giảm, nặng phần tổ chức, có xu hướng chính trị và được vơ trang vừa thỏa đáng nhu cầu tâm linh, vừa thích hợp với t́nh thế.. Đặc biệt vắng bóng hiếm hoi sư săi trung gian.. mà chỉ có hàng Chức sắc trung gian lănh đạo.. Và nói như Vilmont( quan đầu tỉnh ở Tây Ninh), viên chức cao cấp người Pháp nhận xét rằng: " Il est strictement Cochinchinois.". Nó là một hiện tượng tôn giáo thuần túy Nam Kỳ.. Nhận xét trên càng đúng khi áp dụng vào trường hợp đạo Cao Đài. Đạo Cao Đài thờ Lăo Tử, Khổng tử, Thích Ca, Giêsu, Lư Thái Bạch, Quan Vân Trường, Khương Tử Nha v.v.. Thờ tất tần tật… Người Pháp lại một lần nữa lấy làm khó chịu nhận xét một cách chế giễu là « Thứ đạo tạp hóa » ( La religion de bazar).
Về địa lư nhân văn Vùng đất mới này, dân số hỗn tạp với sắc dân từ nhiều nguồn đổ về. Từ miền Trung đổ vào v́ lệnh cấm đạo, từ phía Bắc tới trong tiến tŕnh Nam tiến. Và nói dại, không có cuộc Nam tiến này th́ tất cả chúng ta đều ngồi bó gối trên dẻo đất hẹp của đồng bằng sông Hồng. Cộng thêm là số người Trung Hoa tỵ nạn. Đó là những di thần bài Măn, phục Thanh với các tên tuổi như Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch đă đến Cù Lao phố Biên Ḥa. Tưởng đến ở tạm để nuôi chí phục thù hóa ra ở luôn. Dân số v́ thế tăng lên đến 20%. Dưới triều Nguyễn, tỉ lệ thi đỗ cử nhân ở Nam Kỳ chỉ chiếm 2% so với cả nước. Tinh hoa dồn cục ở đất Bắc Kỳ nên thường được coi hay tự nhận là đất văn học. Trong khi Nam Kỳ- do những người đi khẩn hoang- th́ chữ nghĩa không đầy một cái là me. Họ không rành câu cách ngôn thánh hiền. Người dân miền Nam sống gần sông nước nên chủ yếu di chuyển bằng thuyền. Nh́n lên là Trời, nh́n xuống là nước như một thứ sân khấu thiên nhiên do trời đặt để. Cho nên người ta c̣n gọi đó là nền văn minh sông rạch. Nhiều người lưu dân sống lang bạt, rầy đây mai đó. Làm ăn không khá cũng bỏ đi, gặp rắc rối với pháp luật cũng bỏ đi.. Lại c̣n bọn “ Gia Long tẩu quốc”, bọn bị Tây Sơn xua đuổi, sau này lại đến bọn giặc theo Lê Văn Khôi thời Minh Mạng bỏ trốn. Tất cả những đám dân đó trở thành lớp người lang bạt, rầy đây mai đó, đâu cũng là nhà, vui th́ ở, không vui th́ bỏ đi.. Và người Pháp đă có lư khi gọi bọn họ là Population flottante. Người ghét th́ gọi bằng đủ thứ tên như dân « trốn xâu lậu thuế », bọn « trôi sông lạc chợ ». Trường hợp Phan Thanh Giản đỗ tiến sĩ nói huỵch tẹt ra chỉ là món quà Huế tặng cho dân miền Nam. Biên niên sử triều Nguyễn tỏ ra bận tâm về kết quả thi cử kém cỏi của miền đất lạc thổ này. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng có nhiều con đường khác đi đến thành công giàu có ngoài con đường cử nghiệp. Huế khoa cử, Huế lễ nghĩa, vậy mà ở đó sự nghèo đói, túng thiếu có thể sờ thấy, có thể đụng mặt mỗi ngày. Vậy mà lại thừa khả năng dấy lên những cuộc bạo loạn đủ loại. Huế cộng sản, Huế Mậu thân, Huế đấu tranh đủ thứ.. Huế chỉ tắt tiếng khi có cộng sản. Tất cả đều đă dấy lên từ đó như một miền đất nhiều bất hạnh. Ở nơi ấy chỉ có hận thù đủ loại và những giọt nước mắt thầm lặng (The silent tears). Trong khi miền đất đồng bằng sông Cửu Long nhiều d́a cá, cá nổi lên như mù u chín rụng chẳng ai thèm bắt. Cho nên giữa một điền chủ và một ông Huyện, người dân hẳn đă biết chọn tương lai của ḿnh về phía nào. Nếu đă hănh diện gọi đất Bắc là đất văn học th́ cùng một lẽ ấy, gọi mảnh đất miền Nam là miền đất hứa. Nó hứa đủ thứ. Hứa cho mảnh đất lành chim đậu, hứa cho cơm no áo ấm đến cả giàu sang thức ăn thức uống ê hề. Nhưng điều quan trọng hơn cả, nó hứa cho một tương lai con người được giải thoát ra khỏi những ràng buộc xă hội phong kiến của mảnh đất cũ với lũy tre, với tục lệ làng xóm và với chèn ép con người. Nó không có nổi một Vũ Trọng Phụng, một Nam Cao chỉ v́ nơi đây nó không có cuộc sống đọa đầy mà ở nơi đó con người không có cơ may làm người. Thêm nữa nó hứa cho một mảnh đất t́nh nồng lấy t́nh bạn, t́nh nghĩa xóm làng làm mạch sống luân lư. Và như nói ở trên xin được nhắc lại một lần nữa: Và ở đâu có nhiều bạn là quê hương ta ở đó. Nó không cần một cuộc cách mạng xă hội, một cuộc tranh đấu giai cấp với bạo lực và chém giết như những tên đồ tể giết người. Nó trọng cái đạo lư giang hồ, trọng nghĩa khí, lấy chữ tín làm đầu. Nó biết khinh miệt bọn ḷng lang dạ sói, khinh miệt bọn xu nịnh, bọn phù thịnh. Đó là sự khác biệt rơ nét giữa Bắc và Nam.. Đó cũng là sự giải phóng con người để không c̣n những Thị Nở và Chí Phèo căn bản dựa trên một xă hội lư gay gắt. độc đoán, phi nhân và tàn bạo.. Nhưng ngược lại nó một biểu tượng cho một xă hội lấy t́nh nghĩa làm gốc.. Nó không chỉ v́ ḿnh mà c̣n v́ người. Hoạn nạn th́ tương cứu đùm bọc, sống chết có nhau, làm ơn mà chẳng kêu cầu ơn nghĩa, trả tiền th́ không ai chịu nhận lại nói rằng ” có chi mà gọi rằng ơn” ( chữ dùng của Sơn Nam). Cuộc chiến vừa qua nó thể hiện đúng mức và trọn nét văn hóa giữa Nam và Bắc. (Xem Lịch sử c̣n đó, Nguyễn Văn Lục, trang 24)
Dưới chính quyền bảo hộ nó đă khởi đầu với những tài năng xuất chúng như Trương Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Kư. Trong ba người ấy chỉ duy nhất có Trương Vĩnh Kư được nhắc tới nhiều mà có vị đă không ngần ngại viết: Ở Trương Vĩnh Kư, ở điểm thứ nhất, là quá cỡ, quá khổ. Có lẽ số phận đă dành cho ông một trí thức quá cỡ so với mặt bằng kiến thức lúc ấy và ngay cả với người đồng đạo đương thời. (Xem Thế kỷ XXI nh́n về Trương Vĩnh Kư, trang 80) Ngày nay, nh́n lại th́ quả là cơ hội may mắn cho miền Nam lẫn cả miền Bắc.. Và chỉ đến khi nó đụng chạm, tiếp xúc với văn học miền Bắc sau 1975, người ta mới nhận chân ra được những giá trị của nó. Rất tiếc, lại một lần nữa, Miền Bắc phạm phải một lỗi lầm lịch sử là đă phủ nhận nó, quét sạch, tiêu hủy toàn bộ cái nền văn học ấy, đầy đọa những nhà văn, nhà báo, nhà văn hóa đă góp phần h́nh thành nền văn học ấy.
Xin đọc tiếp phần Hai
15-11-2010
|