|
phan bá thụy dương
Qua Ô CỬA của Trần Hoài Thư,
Nghĩ Về Thơ Chiến Tranh Miền Nam
Trước 4/1975

Herbert Hoover vị
tổng thống thứ 31 của Hoa Kỳ đă nói: “Giới lănh đạo già
tuyên bố chiến tranh nhưng chính giới trẻ là người phải
chiến đấu và chịu chết.” [1]
Chiến tranh đă tạo nên không biết bao nhiêu cảnh ly tán, hủy
diệt không biết bao nhiêu sinh mạng một cách oan uổng và làm
kiệt quệ trầm trọng tài nguyên quốc gia. Nhưng, nếu nh́n từ
một góc độ khác, chiến tranh cũng đă sản xuất, tạo nên nhiều
vĩ nhân lừng danh trong quân sử, những văn thi sĩ lỗi lạc
trong nền văn học sử thế giới.
Tuy nhiên, để có thêm hương vị, khai triển chủ đề rộng hơn
đôi chút, người viết sẽ đề cập, dẫn trích thêm một số ít thơ
về chiến tranh của các văn thi sĩ Việt, Mỹ khác - những
người đă trực tiếp cùng THT tham dự cuộc chiến “ư thức hệ”
trong giai đoạn đầy nhiễu nhương đó. Nếu thấy cần thiết, sau
này người viết sẽ trở lại, bàn về đề tài sâu rộng hơn, với
nhiều thi sĩ tiêu biểu cho cả 2 miền Nam Bắc, cùng những cảm
nhận, khuynh hướng đối kháng… hay quan điểm tương đồng.
Theo lời tác giả,
Ô Cửa là một tổng hợp của 5 thi tập:
Thơ
THT, Qua Sông Mùa Mận Chín, Tháng Bảy Hành Quân Xa, Ngày
Vàng và Người Lính, mà anh đă xuất bản trước đây - sau khi
nhuận sắc, tuyển chọn lại.
Tập thơ dày 380 trang, với 237 bài, in trên giấy đặc biệt,
tranh b́a của Thân Trọng Minh, do Thư Ấn Quán của anh ấn
hành. Bản đẹp, dành tặng thân hữu nên không thấy ghi giá
bán.
Danh từ “thơ chiến tranh” kể từ Homer đă trở nên càng ngày
càng phổ biến một cách rộng răi, nhất là trong và sau khi
chiến cuộc VN kết thúc. Hiện nay các quốc gia đồng minh của
Việt Nam Cộng Hoà và đă từng trực hay gián tiếp tham chiến
trên lănh địa VN, mỗi nước đều có rất nhiều cơ quan, thư
viện… lưu trữ, quảng bá thi ca viết về cuộc chiến VN, được
sáng tác bởi những quân nhân, cựu chiến binh của họ.
Cho đến bao giờ th́ thi ca về thể loại này của các tác giả
miền Nam trước 75 mới được các tổ chức văn hóa, chính trị
hải ngoại hay nội địa dành cho nó một vị trí nghiêm túc,
sáng sủa hơn, để bảo tồn những ấn chứng quan trọng trong
giai đoạn lịch sử đă qua, đă được khép lại ?
1. Trực diện với chiến tranh, tiếp cận với tử thần.
Bây giờ chúng ta hăy bước qua
Ô Cửa, thử đi vào nội dung
cuốn sách, để xem người chiến binh thám báo này đă tŕnh
bày, muốn chuyển gởi những ǵ sâu kín trong tâm thức tới
người đọc, qua những năm dài phục vụ dưới cờ, trong thời tao
loạn, nhiễu nhương, xương máu đó:
Gịng sông phân tranh
hai vùng thù nghịch. Đêm xuống đồi gặp con nước nổi. Súng
đạn đưa khỏi đầu. Từng con một vượt sông. Rồi trước khi trèo
ngọn Kỳ Sơn. Anh lạc trên cánh đồng trăng mênh mông. Không
biết nơi nào là cơi dữ. Trên đôi vai anh nặng nề lịch sử.
(“Đêm Vượt Sông,” tr 5)
Từ giă giảng đường chật hẹp, người sinh viên mang đầy lư
tưởng, hoài băo và mộng mơ ấy đă chấp nhận đi vào nơi thâm
sâu cùng cốc, theo lời kêu gọi của non sông, tổ quốc. Ngoài
trách nhiệm thi hành nghĩa vụ công dân, tôi nghĩ có thể anh
c̣n coi việc đó như một lần đi thám hiểm, khai phá về những
chân trời mới quyến rũ hơn, để thưởng ngoạn thiên nhiên,
giao lưu nhân thế, thử thách định mệnh:
Ở đây đèo ải ngăn sông
lộ. Trăm đứa lên có mấy đứa về. Giày trận bám bùn mưa tối
mặt. Mùa hè gió thổi bụi tê tê. Thanh niên ta bỏ miền trung
thổ. Theo mảng mây trời trên bản xa. Núi dựng. Rừng bạt
rừng. Lá mục. Phơi ngàn năm lạnh cắt xương da. Ta về ngơ
ngác cơn sinh diệt. Ngỡ làm tên ẩn sĩ t́m trầm...(Về
Với Núi, tr 55)
Cũng trong ư niệm chấp nhận khoác chinh y để bảo vệ quê
hương, giữ ǵn lănh thổ, từng lớp, từng lớp lớp thế hệ tuổi
trẻ đă đành bỏ cả tương lai, hoài bảo, rồi mang theo cuộc
t́nh chưa trọn để tham dự vào cuộc chiến đấu gian lao, bất
trắc mà tự thân họ không có quyền lựa chọn, hoặc từ chối:
"
Vào giờ G ta ra mặt trận - nón sắt bần thần theo gót giày sô
- hiu hắt đường mưa tiến về âm phủ - vừa cảnh giác đời, vừa
ủ chiêm bao - khẩu súng cạc bin chúi đầu xuống đất - như
muốn nói ǵ với cánh Rừng Lăng - Xuân Phổ bên kia chập chờn
bóng địch - lập cập hồn ai, bèo vướng chân mày ? - nước lạnh
môi khô lóe lên đóm nhớ - màu mắt bên màu hoa súng ngày xưa
- ta vẫn yêu em, yêu toàn nhân loại - nên gắng khom lưng,
tiến chiếm Xóm Dừa."
[Luân Hoán * Trên Đường Lững Thững Hành Quân, Đạn Thù Có lẽ
Ngập Ngừng Tránh Ta]
để lănh nhiệm vụ trấn thủ biên cương xa xăm, tiền đồn heo
hút, dẫy đầy hiểm nguy, bất trắc. V́ chưng, họ đă lỡ sinh ra
vào một giai đọan lịch sử đen tối, vào thời buổi loạn ly,
máu lửa với đạn bom và nước mắt:
"Giặc cứ pháo xá ǵ cơn băo giạt - nón sắt che cho đỡ lạnh
mái đầu - đêm nến thắp ánh hỏa châu hiu hắt - sinh nhật ai
máu đỏ giữa canh thâu - đường truông núi hai mươi năm chất
ngất - tuổi lang thang vào xương máu bàng hoàng -
Mai về phố với hồn chai lạnh ngắt - mua t́nh vui dồn trống
chuỗi mênh mang - khúc chinh chiến đă từ lâu quên hát - vầng
trăng treo mầu úa hướng mong chờ - mai xuống núi tiếp một
ngày phiêu bạt - t́m lại ḿnh đánh thức một cơn mơ."
[Nguyễn Mạnh Trinh * Kontum Bài Thơ Cũ]
Cũng có người tuy dấn thân, tham dự vào cuộc chinh chiến với
thái độ thản nhiên, xem đó như là chuyện tai trời ách nước,
một tṛ tiêu khiển, nhưng chắc hẳn trong thâm tâm anh cũng
khó thoát khỏi những ray rức, trăn trở hoặc suy tư, đau xót
về thực trạng rợn người phơi bày trước mắt:
"
Bốn bề sương muối bủa quanh - hỏa châu đỏ rực năm canh rợn
người - ta về tham dự cuộc chơi - rựơu cần, súng đạn với lời
kêu thương."
[Huy Lực * Đêm Tiền Đồn Pleime]
Nghĩa vụ ǵn giữ biên cương, lănh thổ, quả là một gánh nặng
luôn đè trên vai những chàng lính trẻ tiền phương. Từng hốc
đá, cánh rừng, từng bờ sông, ngọn suối, từng chân núi, triền
đồi măi măi là nơi hiểm địa, tử địa, dể dàng hủy diệt, cướp
đi mạng sống của ḿnh:
Một chút cay cay mà ḷng
buồn tủi. Buồn th́ về đừng nán lại thằng em. Không sao cả
lên đồi cao xuống vực. Đất mở rồi ở lại cũng buồn thêm...
Cùng đứng lại hai chân nghiêm cúi mặt. Đây hàng quân đọc lại
thiếu tên em. Người lính trẻ chưa đầy hai mươi tuổi. Nhớ th́
về cốc rượu để phần em. (Viết Cho Thằng Em Cùng Trung
Đội, tr 35.)
Nhớ th́ về cốc rượu để phần em. Câu thơ chứa đầy thương yêu,
tŕu mến, thể hiện một thứ t́nh huynh đệ chi binh thắm
thiết. Đó là lời của một người anh dành cho đứa em vắn số,
chứ không phải loại ngôn từ của một cấp chỉ huy nói với kẻ
trực thuộc.
Thứ t́nh huynh đệ chi binh và sự tŕu mến này, bạn đọc cũng
dễ dàng thấy hiện rơ nét trong thơ của Pete Agriostuthes
dành cho người tiền sát viên tên Nam qua bài
“He was a Chiêu
Hồi”, hoặc qua thơ của Kevin Bowen, Steve Mason, Sarge
Lincetum, Wilfred Owen, Walter McDonald... Đặc biệt là của
Yusef Komunyakka, người đă chiếm Pulitzer Prize năm 94 với
tuyển tập Neon Vernacular xuất bản năm 93. Trong đó chứa
đựng phần lớn các bài của tập thơ mang tựa đề Việt ngữ
“Điên
Cái Đầu”, vốn đă phát hành từ năm 88.
Súng đạn vô t́nh nào biết né tránh ai. Khi một người chiến
sĩ không may, vĩnh viễn nằm xuống th́ người đời thường cho
rằng anh ta đă vị quốc vong thân, là người anh hùng, là kẻ
đáng được tuyên dương, tri ân.
Có đúng vậy không hay ta cần thử suy gẫm, chiêm nghiệm lại
câu nói lừng danh, mang hơi hám, tư tưởng phản chiến dưới
đây của "papa" tức văn hào Ernest Hemingway - người đoạt
giải Nobel năm 54 về Văn học, khi ông phát biểu: “Ngày trước
người ta nói rằng: Hy sinh cho quốc gia của ḿnh là một hành
động cao cả và xứng đáng. Nhưng trong cuộc chiến hiện đại
không có ǵ là vẻ vang hay thích nghi khi anh mất đi. Anh sẽ
chết như một con chó cho một lư do chẳng có ǵ là tốt
đẹp.”[2]
Xin mời bạn đọc tiếp những vần thơ nóng bỏng, hồi hộp khác
của chàng thám báo trẻ tuổi THT:
Băng đồng, băng đồng đêm
hành quân. Người đi ngoi ngóp nước mênh mông. Về đây B́nh
Định ma thiêng lănh. Mỗi địa danh rờn rợn oan hồn. Trung đội
những thằng trai tứ chiến. Những thằng bỏ lại tuổi thanh
xuân.
Diều hâu bôi mặt hù ma quỉ. Thuở đất trời bày đặt nhiễu
nhương. Đêm của âm binh về xứ khổ. Poncho phơ phất gió hờn
oan. Trên vai cấp số hai lần đạn. Không một v́ sao để chỉ
đường. (Trung Đội, tr 31)
Hàng loạt những cảnh tượng bi tráng, nghiệt ngă như thế cũng
thể hiện đầy dẫy trong thi ca của các chiến hữu đồng minh,
như Marko Whiteley đă viết tại mật khu Hố Ḅ qua
“Thoughs of
War”... như W.H McDonald viết ở Phú Lợi với “Lonely in the
Reservoir, I Learned About War Last Night”... hoặc Sarge
Lintecum qua “Ambush” và nhất là bài thơ được phổ nhạc của
ông, rất phổ cập, được mọi người ưa chuộng:
"The Vietnam
Blues".[@2bis]
Xin hăy cùng tôi đọc thêm những ḍng diễn tả vừa chân thật,
vừa ngộ nghĩnh, thanh thản của người “lính sữa THT” trong
những ngày đầu nhận lănh trách nhiệm, dẫn dắt đơn vị:
Ta trở về giáp mặt chiến
tranh. Đồi cháy lửa mặt trời nhuộm lửa. Thau rượu đế mừng ta
thằng lính sửa. Dzô ông thầy hữu sự có thằng em. Trung đội
ta về hai mươi mấy thằng con. Đứa gốc người Kinh, đứa Nùng,
đứa Thượng...
Trên đầu ta mũ rừng nhẹ hẫng. Trong túi ta một gói chuồn
chuồn. Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm. Để thấy miền Nam
lính hiền ghê gớm. (Ta Lính Miền Nam, tr 36)
Qua 2 câu cuối của bài thơ:
Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm.
Để thấy miền Nam lính hiền ghê gớm, chúng ta có thể thấy rơ
phong cách của ngựi chiến binh miền Nam khi đối xử với tù
binh, hàng binh. Dù mới cách đó không lâu, đồng đội của ḿnh
đă bị giết, bị thương.
Cũng với tâm trạng, bản chất đó, ta thử đọc xem Tô Thùy Yên
đă tṛ chuyện như thế nào với người tử sĩ bên kia chiến
tuyến trong đoạn thơ dưới đây:
"
Ở cơi âm nào người vốn không tin.- Hỏi nhau chơi thỏa chút
tính bông đùa.- Người cùng ta ai thật sự hy sinh. - Cho tổ
quốc Việt Nam - một tổ quốc...? - Các việc người làm, Người
tưởng chừng ghê gớm lắm - Các việc ta làm, Ta xét chẳng ra
chi."
[Tô Thùy Yên * Chiều Trên Phá Tam Giang]
Hoặc qua những ngôn từ phóng khoáng, thân thiện, chứa chan
hào khí, t́nh giang hồ của một quân nhân khác khi anh giáp
mặt, trực diện đối phương:
"
Kẻ thù ta ơi, các ngài du kích - hăy tránh xa ra đừng chơi
bắn nheo - hăy tránh xa ra ta xin xí điều - lúc này đây ta
không thèm đánh giặc - thèm uống chai bia, thèm châm điếu
thuốc - thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh - kẻ thù ta
ơi, những đứa xâm ḿnh - ăn muối đá và hăng say chiến đấu -
Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu - đi hành quân rượu đế vẫn
mang theo - mang trong đầu những ư nghĩ trong veo - xem
chiến cuộc như tai trời ách nước. -
Ta bắn trúng ngươi v́ ngươi bạc phước - v́ căn phần ngươi
xuôi khiến đó thôi - chiến tranh này cũng chỉ một tṛ chơi -
suy nghĩ làm ǵ lao tâm khổ trí - lũ chúng ta sống một đời
vô vị - nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau - mượn trời đêm
làm nơi đốt hỏa châu - những cột khói giả rồng thiêng uốn
khúc - mượn bom đạn chơi tṛ pháo tết - và máu xương làm
phân bón rừng hoang."
[Nguyễn Bắc Sơn * Chiến Tranh và Tôi]
Chiến tranh ! Ôi chiến tranh ! Người ta đă nhân danh mi để
hủy diệt không biết bao nhiêu nguồn sinh lực sáng lạng của
quê hương, triển vọng của tổ quốc. Người ta đă nhân danh nó
để làm tan ră không biết bao nhiêu cuộc t́nh nồng thắm và
nhiều mái ấm gia đ́nh.
Ḷng không mang hận thù, họ là các chiến sỉ VNCH đi bảo vệ
lănh địa, cương thổ. Họ là những cán binh “quân đội nhân
dân” bị tuyên truyền, xô đẩy, lôi cuốn vào t́nh huống bi
thảm “sinh Bắc tử Nam” để giới chóp bu CS mau chóng thực
hiện ư đồ xăm lăng, chiếm lảnh miền Nam. Bản thân họ nào
được ǵ ngoài những thua thiệt, mất mát:
"
Em hỏi anh bao giờ trở lại - Xin trả lời mai mốt anh về -
Không bằng chiến trận Pleime - Hay Đức Cơ - Đồng Xoài - B́nh
Giả - Anh trở về hàng cây nghiêng ngă - Anh trở về ḥm gỗ
cài hoa - Anh trở về bằng chiếc băng ca - Trên trực thăng
sơn màu tang trắng - Mai trở về chiều hoang trốn nắng -
Poncho buồn liệm kín hồn anh - Mai trở về bờ tóc em xanh -
Vội vă chít khăn sô vĩnh biệt.-
Mai anh về em sầu thê thiết - Kỷ vật đây viên đạn mầu đồng -
Cho em làm kỷ niệm sang sông - Đời con gái một lần dang dở -
Mai anh về trên đôi nạng gỗ - Bại tướng về làm gă cụt chân -
Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân - Bên người yêu tật nguyền
chai đá …"
[Linh Phương * Kỷ Vật Cho Em]
Mất mát, thua thiệt trong một cuộc nội chiến tương tàn mà
bản thân những chiến sĩ miền Nam có lúc phải phân vân, tự
vấn, suy tư:
"
những thằng lính thời nay không mang thù hận - bạn hay thù
chẳng có một lằn ranh - thôi hăy uống. mọi chuyện bỏ lại sau
- nếu có thể ta gầy thêm cuộc nhậu - bày làm chi tṛ chơi
xương máu - để đôi bên nuôi mầm mống hận thù - ta chán lắm
rồi ba chuyện ruồi bu - chỉ có bạn, có ta là người thua
cuộc.-
người yêu của bạn ở ngoài phương bắc - giờ này đang hối hả
tránh bom - hay thẫn thờ dơi mắt vào Nam - để chờ người yêu
ḿnh trở thành liệt sĩ - rồi cũng sẽ quên, như bao điều suy
nghĩ - t́nh yêu như một thứ điểm trang - che đi chút dối
ḷng, nhẹ bớt đi chút nhọc nhằn - uống với bạn hôm nay ta
phải thật say - để không phải c̣n nh́n nhau hận thù ngun
ngút. "
[Phan Xuân Sinh * Uống Rượu Cùng Người Lính Bắc Phương]
Đọc những áng thơ hiền ḥa, nhẹ nhàng kia, tôi tự nhiên như
hồi tưởng, thấy lại bóng dáng của 2 ngựi bạn gốc "cùi" là
Vĩnh Nhi thủ khoa khóa 17, Đà Lạt, Hoàng Thọ Khương khóa 19
của trường chính quy Vơ Bị Lâm Viên và người bạn trẻ yêu thơ
Trần Phước Chí khóa 18 của đồi Tăng Nhơn Phú – Liên trường
Vơ khoa Thủ Đức, hiển hiện về trước mắt. Thơ của TPC, bút
hiệu Trần Đông Hà giao cho tôi và tôi đă giúp anh phổ biến
hầu hết trên báo thời gian ấy.
Những sĩ quan can trường thuộc Sư đoàn 7 Phượng Hoàng này,
khi bắt tù binh, họ luôn luôn cho đối phương ăn uống tử tế,
mời mọc thuốc lá, rồi mới chuyển giao về hậu cứ. Họ không
bao giờ cho sĩ quan, cán bộ an ninh đơn vị đánh đập, dù đôi
khi họ cần khai thác tin tức t́nh báo sơ khởi, khẩn cấp tại
mặt trận lúc c̣n vương mùi khói bom, lửa đạn.
Rất tiếc, 3 chiến hữu tốt, hiền ḥa này đều lần lượt ra đi,
trước và sau biến động Tết Mậu Thân 68, trên vùng chiến
trường được uỷ thác, trước mắt tôi, trong những ngày tôi c̣n
dấn thân, lưu lạc tại khu chiến Tiền Giang.
Người viết, lúc đó, chẳng biết làm ǵ hơn ngoài việc viết
bài chiêu niệm trên trang Văn Nghệ Quân Đội hay mục
Viết Cho
Người Nằm Xuống, Trang Của Lính trên các báo, chương tŕnh
phát thanh, để an ủi linh hồn người chết, cùng gia quyến,
người t́nh của họ.
Những thái độ, biểu tượng đầy nhân bản tính trên đối với
người khác giới tuyến của họ, cộng với thái độ, cảm nghĩ của
THT, LH, TTY, LP, NBS, PXS, HL... khiến tôi nhiều lần thấm
thía tự vấn, thầm hỏi ḿnh. Phải chăng những quân nhân này
và c̣n nhiều, c̣n rất nhiều các chiến hữu mà ngày trước được
vinh danh là nữ-hoàng-của-chiến-trường, cùng những chiến
binh trong các quân binh chủng thiện chiến, các đơn vị yểm
trợ khác đă luôn luôn mang theo trái tim loại “grand coeur”
của d’Amacis, trên đường hành quân?
Hay họ là những đệ tử ngoan của cụ Winston Churchill - vị
anh hùng, nhà chính trị khét tiếng của thế kỷ 20, người đă
được trao giải Nobel năm 53, v́ họ luôn tuân thủ lời khuyên
của ân sư: " Tác phong là một việc nhỏ, nhưng nó tạo nên
những khác biệt lớn lao. Biểu lộ một chút lịch sự, tử tế
cũng chẳng tốn kém, mất mát ǵ."[3]
Sau khi Sàig̣n thất thủ, thiên hạ thường thầm th́ truyền
rao: Một trong những yếu tố quan trọng đưa đến việc mất nước
là v́ dân quân miền Nam ta đă quá hiền ḥa và đối xử nhân
đạo với kẻ thù.
Những người cùng chung một tiếng nói bên kia lằn ranh gịng
sông chia cắt - Bến Hải, bên kia vĩ tuyến 17 nọ có phải là
kẻ thù của chúng tôi không? Thật sự, những kẻ phục vụ dưới
cờ chúng ta có cần xem họ là kẻ thù không, sau khi cuộc đụng
độ, chạm súng đă tàn, khói lửa đă nguội, tắt ? Chỉ v́ những
chiến sĩ ngoài Bắc đáng thương đó đă bị giới chóp bu cưỡng
bức làm những con chốt thí nhỏ nhoi, trong ván cờ tham vọng
bành trướng chủ thuyết, chủ nghĩa CS lỗi thời Mác-Lê-Mao.
Mời bạn thử đọc, xem qua những h́nh ảnh đáng trách, dễ làm
nản ḷng lớp người đang dấn thân nơi các tuyến đầu. Những
t́nh trạng, t́nh huống tương phản đă được phản ảnh sâu sắc
dưới góc nh́n của tác giả Ô Cửa. Lời thơ tuy man mác, chứa
đựng nỗi uất hận, phẫn nộ, nhưng đồng thời cũng mang đầy
thương cảm, ngậm ngùi… như một trường khúc bi ca:
Đất nước ta cường quốc
bán buôn. Hậu phương ăn chơi biểu t́nh, đảo chánh. Lúc đồng
đội ta chết lên chết xuống. Một đám ở nhà nhảy nhót thâu
đêm. Lănh chúa ta ăn trước ngồi trên. Hùng hổ lắm nhưng mạt
hèn cũng lắm. Khóa của ta trên mấy trăm thằng t́nh nguyện.
Đi Nhảy Dù, Thủy Bộ, Thám Báo "ác ôn". Đứng đợi cả ngày để
bắt lá thăm. Toàn thứ dữ mà vui như chợ Tết.
Có đứa mang bằng kỹ sư
về nước. Chọn Cọp Ba Đầu Rằn làm lính tiền phong. Ta lính
miền Nam hề vận nước ngửa nghiêng. Ta cũng lênh đênh cùng
cơn mạt kiếp. Ta trèo lên cây hỏi rừng có biết. Có người
lính nào bi tráng hơn lính miền Nam? (Ta Lính Miền
Nam, tr 36)
Giữa lúc vận nước lâm nguy, đầy hiểm hoạ như thế th́ dường
như có một số giới lănh đạo chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng tư.
Một số người hậu tuyến chỉ lo hưởng thụ, phó mặc việc giải
trừ, giải tỏa áp lực dồn dập của Bắc phương trong tay những
quân nhân thiếu, yếu kém quyền lực, tiền bạc, lúc nào cũng
đứng trước đầu sóng ngọn gió.
Trong lúc THT đang trực diện với sự sống chết để bảo vệ lănh
địa th́ đồng minh của anh ta đă đóng vai tṛ ǵ trong việc
trợ giúp quân lực miền Nam ngăn chống sự xâm nhập, lấn
chiếm, cùng mưu đồ thôn tính miền Nam của giới lănh tụ Hà
Nội - với sự trợ giúp không ngừng của các nước CS đàn anh
Nga, Tàu?
Xin thử nh́n qua bối cảnh, hoạt động hằng ngày của những
người lính chiến Mỹ qua những ḍng thơ mang đầy mùi tử khí,
tanh hôi của Marko Whiteley thuộc Tiểu Đoàn 1/TQLC trong
"Thoughts of War" :
“Cuộc chiến đấu thật khốc liệt khi lâm vào trận phục kích.
Sự sôi nổi rồi cũng tan biến đi trong những ánh mắt sáng
ngời. Lúc này chẳng phải riêng ǵ đối phương mà cả anh cũng
mất mạng.
Màn đêm đă sắp buông, đó là lúc thuận lợi cho địch quân. Họ
biết rằng địa thế không thể nh́n rơ ràng về đêm. Qua màn đen
của đêm sâu thăm thẳm. Kẻ bị thương th́ rên rỉ, người c̣n
lại th́ tiếp tục đánh nhau. Tâm trí khởi sự báo trước một
nỗi kinh hoàng”. [4]
[Marko Whiteley * Though of War]
Những t́nh cảnh đó có khác xa bao nhiêu trong "Đêm Đột Kích
ở Nho Lâm" (trang 42), "Đêm Đột Kích" (trang 157), hay
"Những Ngày Quân Về Những Ngày Quân Đi" (trang 168) của THT.
Hay thử nh́n sang tâm trạng phân vân của người "Đánh Núi"
trong hoàn cảnh, t́nh huống tiến thối lưỡng nan:
Tiến lên lại sợ phục.
Rút về sợ lột lon. Hét hoài cổ họng khan. Chỉ ḿnh ta lănh
đủ. Đi lên dao mở lối. Gai xước rách thịt da. Đau quá tức
chửi cha. Những thằng già ngoài Bắc. (Đánh Núi,
tr 147)
Qua bao lần đụng trận, đánh nhau ác liệt như thế, có mấy ai
tránh khỏi viên đạn vô t́nh thoát đi từ ṇng súng của người
bên kia? Cho nên THT - cây sậy mỏng manh trước những cơn băo
tố chiến trường, cũng đă hơn một lần bị đổ máu, bị dập vùi,
lưu dấu các vết tích đạn thù trên thân thể c̣m cỏi, gầy yếu:
Viên đạn đồng đă cắt
thịt tôi. Tôi đau quá mà em không xót. Khi tôi biết ḿnh vừa
thoát chết. Tôi cuống cuồng sợ hăi thành điên.
Lần bị thương đầu tôi
vẫn anh hùng rơm. Lần bị thứ hai tôi nằm thin thít. Tôi đang
ở pḥng trần gian hậu chiến. Đêm cứ trôi hoài từng giọt hồi
sinh. Tôi ước đến điên cuồng một giọt lệ em. (Trong
Pḥng Cấp Cứu, tr 311)
Tuy có áy náy, lo sợ, nhưng sau 3 lần bị thương với những
ngày phép dưỡng bệnh, dưỡng thương ngắn ngủi sau khi xuất
viện, người lính thám báo THT vẫn thản nhiên trở về với
cương vị của một người chiến binh hiên ngang, tiếp tục hiến
thân phục vụ dưới cờ, cho đến ngày nước mất, quân tan một
cách oan uổng, tức tưởi, nghẹn ngào!
2. Ghi nhận về chiến tranh qua những ngày dưỡng quân, những
giờ chuyển quân.
Cuộc sống của người lính trận luôn gắn liền với những lần di
chuyển bất ngờ, bất định. Có khi chuyển quân ra trận mạc.
Cũng có lúc được điều động tới các địa điểm gần chiến trường
để làm nút chặn, làm lực lượng trừ bị, sẵn sàng tiếp ứng cho
những đơn vị cơ động đang giao tranh.
V́ để bảo toàn tối đa bí mật quân sự, cho nên đôi lúc nhiều
cấp chỉ huy đơn vị nhỏ chỉ nhận được lệnh hay sơ đồ hành
quân [operation-overlay] vào phút chót, trước giờ xuất phát,
di quân. Những vần thơ sau đây đă thể hiện phần nào vai tṛ
và thân phận nghiệt ngă của các chiến sĩ tiền phương đó:
Những lần chuyển quân dù
chẳng biết về đâu. Nhưng chúng tôi biết những ǵ chờ đợi
sẵn. Như thể khi viên đạn đồng trong ḷng cơ bẩm. Xẹt ra
khỏi ṇng rồi kiến cắn tê mê. Chỉ khi nào anh cảm nhận đau
tê. Có nghĩa là anh biết ḿnh vẫn c̣n sống sót.
Anh hănh diện là đă đi
về phía trước. Là máu hồng anh đă đổ xuống tặng em. Và khi
anh trở về ôm lấy vết thương. Anh mới biết đời vô cùng độ
lượng. (Người Lính Trở Về Với Chiến Trường, tr 7)
Ta hăy xem thêm thi sĩ họ Trần đă ghi nhận lại những mất mát
nào qua “Chia Tặng Chung Nhau” (trang 128), hay trong những
h́nh ảnh nhuốm đầy máu lửa, tiêu biểu của chiến trường mà
anh vẽ lại dưới đây: bom đạn, tiếng súng chan hoà trong
những tiếng rên, tiếng kêu đau thương, tuyệt vọng:
Xin trả lại bên trời
vầng trăng đỏ máu. Và tiếng dội ầm ầm của đám trực thăng. Và
cả một biển rừng lửa bốc xung quanh. Và sườn lũng cháy đen
thành than củi. Người lính cũ mắt nh́n trong bóng tối. Nghe
văng vẳng bên ḿnh lời rên rỉ: Cứu em. (Xin Trả Lại,
tr 11)
để từ đó anh bồi hồi, ngậm ngùi trước những hoang phế, điêu
linh, rồi nghi vấn, suy tư về thân phận ḿnh và kiếp người:
Mặt trận đổ theo b́a Đệ
Đức. Nghe cận kề lửa hưóng Tam Quan. Bồng Sơn mây ám toàn
tin dữ. Chiều chưa buông quận đóng năm giờ. Giặc chiếm cận
sơn người chạy loạn. C̣n bên cầu trơ trọi cây đa.
Cây đa có mặt khi nào
nhỉ. Có phải nơi này là quê hương. Có phải mỗi con người
trôi dạt. Cất trong tim bóng mát thiên đường. Cây đa vươn
giữa trời bi lụy. Những thổ thần hoang lạnh lư nhang. Lửa
cháy Trường Lưu đ̣ đă chặn. Chị ra sông ơi ới đoạn trường.
(Cây Đa Bên Cầu, tr 20)
Địch tan, chiếm lại đất đai, người lính trận chưa kịp vui
mừng th́ anh lại phải đương đầu, đối diện trước những bức
tranh, cảnh tượng đẫm ướt lệ máu, loang đầy dấu vết hoang
tàn, đổ nát, trước “những điều trông thấy mà đau đớn ḷng”:
Ta đă về dành lại quê hương. Dành lại
quận đường hoang tàn đổ nát. Dành lại ngôi trường lời ca
tiếng hát. Ta đă về nh́n bầy chim cút côi. Nhưng ta lại
không dành được em gái ta yêu. Chúng ủ rũ như ḷng ta ủ rũ.
Lũ bé qú bên xác người cô trẻ. Đặt chùm hoa mếu máo gọi cô
về...
Em bé quê ơi cho ta một nhánh bông.
Một nhánh bông qú vàng như màu áo. Ta đặt tên em. Trống
trường ảo năo. Như những hồi mặc niệm em tôi. Ta đă về và đă
trễ em ơi. (Đêm Tiếp Cứu Chợ Huyện, tr.28)
"Ta đă về và đă trễ em ơi". Câu thơ như một tiếng kêu thống
thiết, chứa chan, ẩn tiềm huyết lệ và thể hiện trọn vẹn t́nh
thương yêu đồng đội, t́nh quân dân cá nước.
Một h́nh ảnh thê lương khác đă được Anh Thuần: Phan Bá Thuần
Hậu - người phóng viên chiến trường gan ĺ của Cục Tâm Lư
Chiến và Đài Phát Thanh Quân Đội SG, đă phác họa lại bối
cảnh loạn ly, khi anh đang bám trụ trên "quốc lộ máu" năm
1972 để ghi nhận, tường thuật về tin tức chiến sự nóng bỏng:
"
Em về đâu, hỡi người em lạc lơng - Chiều đă buông và mây đă
giăng mờ - Trong lửa đạn máu tanh thời chiến loạn - C̣n mong
ǵ t́m được chốn an cư."
[Anh Thuần * Chiều Chiến Loạn]
Sống ở, thác về. Người lính chiến miền xa nào mà chẳng ư
thức được số phận bất trắc, mỏng manh của ḿnh. Bởi v́,
người xưa đă từng trải, chiêm nghiệm rồi ngôn truyền:
“cổ
lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, th́ sự mất c̣n đối với họ cũng
chỉ như lẽ tan-tụ tất yếu của mây nổi, của bọt hoa sóng
biển…
Trong ḷng những kẻ trấn thủ lưu đồn kia - lúc nghĩ ngơi, có
chăng là nỗi nhớ nhung về những con đường t́nh đă qua và
hoài niệm về sự mất mát không bồi đắp được của bạn bè, chiến
hữu:
"
Nằm đây thương những con đường - kể em nghe chuyện chiến
trường được chưa - ḷng anh thơ dại bóng cờ - ngủ yên đâu
dám định giờ xuất quân - đă lâu vơ nghiệp quen dần - thấy
người đi cũng ân cần muốn đi - hỏi người: ai chết đêm khuya
- bảo: không, ngựa lạc đường về cơi xưa.
"
[Hoàng Lộc * Đêm Đóng Quân Ở Định Quán]
Cùng những ngỡ ngàng của thi nhân Trần Tuấn Kiệt, người đă
chiếm giải nhất về thơ của Tổng Thống năm 71, qua các cảnh
tượng ảm đạm của những ngày biến loạn xảy ra ngay tại các
vùng ven đô Saigon, đầu Xuân Mậu Thân 68:
"
Ra nh́n khói lửa đạn bay - khói lên từng cụm đạn cày mênh
mông - qua đêm ngủ giấc say nồng - tỉnh ra bốn phía chập
chùng núi non - trời xa mây bạc vô cùng - sao ta nằm ngủ
giữa vùng máu xương."
[Trần Tuấn Kiệt * Tết Mậu Thân Nhậu Với Bùi Giáng]
THT tuy là người chiến sĩ dạn dày phong sương, nhưng lời thơ
của anh lại rất nhẹ nhàng thi vị, phảng phất tâm t́nh của
một nghệ sĩ yêu người, yêu đời và yêu quê hương sâu sắc, đậm
đà:
Tôi về đây. Tôi đă trở
về đây. Đồi xưa tôi gọi đồi không hay. Ai đi bỏ lại hoàng
hôn lạnh. Đỏ ối đồi xưa ôm lấy mây... Có ai như thể người
binh Thượng. Ngồi khom trên bờ đá thổi kèn. Hôm qua có những
hồn ma lẻ. Lạc t́m về buôn bản cao nguyên.
Có ai dưới lớp mồ hoang
dă. Nằm xuỗi chân mắt mở trợn trừng. Chiều nay sao mọc về
phương Bắc. Sao ruột ḷng vứt bỏ phương Nam.
Cỏ tranh lớp lớp che
đường dốc. Pḥng tuyến buồn hiu nhuộm nắng chiều. Trận đánh
cũng đi vào quên lăng. Sao c̣n rờn rợn những hồn xiêu. (Đồi
Xưa, tr 43)
Cảnh tượng nào sau chiến trận mà không thấy buồn nôn, thê
thảm. Không có chiến trường nào mà không có người phải hy
sinh, mang thân tàn phế? Xin mời đọc những ḍng lục bát dưới
đây của một thương binh, đúng hơn là một thương phế binh sớm
từ biệt cuộc chiến trong xót xa, ngậm ngùi:
"
nằm im mà thấy bềnh bồng - nghe như mây đảo ṿng ṿng trong
tim - tỉnh ra sửng sốt giật ḿnh - một đoạn chân đă tuyệt
t́nh bỏ đi - núi Vàng, cơi đặt mộ bia - cho bàn chân trái
nằm kia, mơ hồ... "
[Luân Hoán - Nén hương cho bàn chân trái.]
Ngay cả những chiến sĩ đồng minh sang yểm trợ, phụ giúp
chúng ta - để chống sự xâm lược, dành dân chiếm đất của Việt
Cộng vào lănh thổ VNCH - cũng không tránh khỏi rơi vào tuyệt
lộ bi thương nói trên. Xin hăy đọc thử bài thơ “As The Sun
Sets In The Dark Sky” của Guy L. Jones, thuộc tiểu đoàn 43
Truyền Tin Hoa kỳ để xem người lính chiến đồng minh này đă
nghe thấy, cảm nhận ǵ trong cảnh "hồn tử sĩ gió ù ù thổi,"
trong cảnh tịch mịch dưới màn đen, trời mờ Pleiku:
“ Khi ánh thái dương ch́m khuất trong bầu trời u ám, tôi
nghe âm thanh của những người lính chiến đang đi đều bước và
kêu gọi nhau từ một khoảng xa. Tôi nghe họ bảo rằng đừng nhỏ
lệ v́ họ, bởi những nỗi đau đớn của họ giờ đă tan biến cả
rồi và hiện giờ họ đang đi về với Thượng đế trong cảnh an
b́nh vĩnh cửu.
Khi ánh mặt trời lan dần về phía chân trời, h́nh ảnh của
những người di hành đó đă vượt khỏi tầm mắt của tôi, nhưng
không phải là những lời trối trăn mà họ đă nói, v́ những di
ngôn của từng mỗi người đó tôi vẫn ghi giữ măi trong tim,
trong tiềm thức.
Tôi đă th́ thầm đáp lại cho cho họ biết là tôi sẽ thông
truyền những lời trối trăn ấy tới mọi người, cho bất cứ
những ai muốn nghe di ngôn của họ do tôi tường thuật lại.
Công việc này tôi xin hứa với tất cả các chiến hữu, tôi sẽ
làm măi măi khi mà tôi vẫn c̣n sinh tồn. Xin chào vĩnh biệt
các chiến hữu, xin chào” [5]
[Guy L. Jones * As The Sun Sets In The Dark Sky]
Nhà toán học, nhà tư tưởng siêu quần Blaise Pascal đă từng
ví von, nhận định rằng: “Con người là một cây sậy, loại mềm
yếu nhất trong vạn vật, nhưng là loại lau sậy biết tư duy.”
[6].
Thân phận người chiến sĩ ngoài tuyến đầu dĩ nhiên mong manh,
nhưng anh ta là người biết suy tưởng, có t́nh cảm, th́ dù ở
trong cảnh trạng khói Iửa đạn bay đi nữa, mấy ai tránh khỏi
nỗi niềm kỳ vọng, mơ ước. Mơ ước, kỳ vọng về một viễn ảnh
sớm chấm dứt chiến tranh. Mơ ước, kỳ vọng có ngày đất nước
sớm thanh b́nh:
"
giọt máu trên ngọn cỏ mềm - của ai không biết nằm im như tờ
- đằng xa sau lớp bụi mờ - mới nh́n tôi tưởng con cờ thí
thân - toán tôi vừa tới b́a rừng - đă nghe đạn nổ muốn bưng
cái đầu - rạp ḿnh xuống đất nâu nâu - mặt tôi chạm nắm cỏ
khâu xanh ŕ.-
"
ừ th́ chú cũng như tôi - cũng khiêng sông núi trên đôi vai
ḿnh - mong cho đất nước thanh b́nh - chớ ai mong cảnh chiến
tranh bao giờ - ừ th́ anh cũng như em - cũng đem tổ quốc
treo trên ngọn cờ - buồn buồn bày đặt làm thơ - vui vui th́
lấy súng phơ một tràng…"
[Phan Ni Tấn * Rừng Tâm Sự 5 Năm Lính]
Dẫu rằng vấn nạn ấy chỉ là loại mộng con hay “nhược đại
mộng” của người lính chiến xa nhà, trong đêm buồn tênh gối
súng, nằm ngắm trăng sao, mây nổi, rồi mơ ước, vẽ vời cảnh
tái ngộ, đoàn viên:
"
Trước thượng đế hai đứa đồng cúi lạy - Xin Hoa-Thương-Yêu nở
khắp mọi nhà - Ruộng đất không c̣n làm băi tha ma - Sắt thép
loài người đem xây tổ ấm - Dưới sương gió mây ngàn bên xóm
vắng - Riêng chúng ḿnh t́nh tự ngắm trăng non - Sớm sớm,
chiều chiều em sẽ dạy con - Bài hát đầu tiên ngợi ca
T́nh-Ái. "
[PBTD * Nói Với Người Mang Tên Một Loài Hoa Mùa Xuân]
Đời sống của những người lính trận, v́ thường xuyên phải đối
diện với thần chết, nên mỗi lần được nghỉ phép, dưỡng quân
là cơ hội bằng vàng cho họ t́m gặp bằng hữu, anh em, hầu có
thể cùng nhau ngả nghiêng, ngất ngây bên ly rượu, lon bia,
hầu tạm quên những giây phút ác liệt, nghẹt thở ngoài chốn
tiền phương:
Nửa đêm như thể ngày xưa
ấy. Mấy thằng trải chiếu dưới đêm trăng. Trăng sáng phơi
trên hàng kẽm lạnh. Rồi chảy vào bát rượu bâng khuâng. Nửa
đêm mấy đứa chưa buồn ngủ. Buồn ngủ làm sao, ta chiêm bao.
Lính trận dưỡng quân nhờ
tí tửu. Để mai nằm xuống hồn bay cao. Nửa đêm doanh trại đèn
leo lét. Người lính canh ngồi như tượng đêm. Ma quỉ muốn
chơi xin hoăn chiến. Để ta cùng đụng với anh em. (Nửa
Đêm Uống Rượu Với Bạn Bè, tr 149)
Cũng không ít anh em quân nhân quan niệm rằng : Đánh trận
xong rồi th́ ta đánh chén. Hoặc trong lúc rănh rỗi, dưỡng
quân, th́ ta đánh chén trước, rồi chờ ngày đánh trận sau.
Lính và rượu. Rượu và lính cơ hồ như đôi t́nh nhân, luôn
luôn gắn bó mật thiết. Cho dù kẻ ấy là lính sữa “ṭ te” mới
ra “ḷ” hay là người đă dạn dày chiến trận, đầy khí phách,
coi thường sinh tử. Lời thơ trích dẫn dưới đây - của Hà Thúc
Snh, tuy bộc lộ rơ nét ngang tàng, khoáng đạt ấy, nhưng
dường như phần nào cũng tiềm tàng, phảng phất ư niệm, tư
tưởng hiện sinh.
Bởi v́, ai ai cũng biết, từ hạ bán thập niên 50 trở đi các
tác phẩm du nhập mang sắc thái hiện sinh, lăng mạn như
“
Bonjour Tristesse”, “Dans Un Mois, Dans Un An”, “Un Certaine
Sourire”… của nữ văn sĩ Francoise Sagan đă ảnh hưởng khá sâu
đậm như thế nào với xă hội, đặc biệt là với giới sinh viên,
trí thức trẻ miền Nam:
"
Hăy cụng ly chết bỏ - tôm cua cá lươn ṣ - lương ta c̣n
nguyên vẹn - c̣n cả cái Seiko - Cửu long giang ra biển - sẽ
chẳng trở về đây - chiến tranh hề gặp gỡ - có chắc lần thứ
hai - lại mỗi thằng mỗi ngă - thằng Cà Mâu Năm Căn - thằng
B́nh Dương, B́nh Giă - thằng địa ngục thiên đàng - nhưng ta
không sợ chết - (hơi ngán què đôi chân). C̣n mày sao lại
khóc - cứ cười lên đi con - ta anh hùng tứ xứ - há thua
những bông hồng - nơi rừng U Minh Hạ - c̣n dám nở dưới bom -
cứ cười như họng súng - bắn cuộc đời vỡ toang..."
[Hà Thúc Sinh * Hành Quân Qua Bến Phà Mỹ Thuận Gặp Bạn Đánh
Chén, Say Mèm]
Dĩ nhiên bên cạnh đó c̣n có sự tác động mạnh mẽ hơn của các
triết gia hàng đầu như S. Kierkegaard, JP Sartre, F.
Nietzche, A. Camus…
Có thể cũng với tâm trạng, khái niệm yêu cuồng sống vội, bất
kể ngày mai ấy, cùng với sự cảm nhận về kiếp nhân sinh, về
thân phận, về nỗi bấp bênh của ḿnh trước lằn tên mũi đạn,
nên tác giả Ô Cửa nghĩ rằng có thể ngày mai anh, biết đâu,
sẽ chẳng c̣n cơ hội sinh tồn. V́ vậy hôm nay có rượu th́
uống chết bỏ, hăy cứ hăng hái tiếp nối cuộc vui “đưa cay”
với bạn bè, ngay cả với linh hồn người bên kia địa đầu chiến
tuyến:
Xin cô
hàng thêm một két bia. Hôm nay lănh lương tôi dành đăi hết.
Cô hàng ơi một mai tôi chết. Ai tiêu dùm tôi ba tháng
lương...
Cô hàng ơi cho một ly
không. Tôi rót mời một người lính Bắc. Hắn nằm băm thây dưới
hầm bí mật. Trên người c̣n sót lại bài thơ. (Một Ngày
Không Hành Quân, tr. 45)
4 câu thơ chót là 4 câu thơ đă thể hiện đầy đủ tính chất
nhân bản. Phải chăng đây là một tuyên ngôn? Tuyên ngôn về
t́nh người - t́nh người không biên giới, t́nh chung giống
ṇi, huyết thống VN ?
Làm lính trận miền cao là sống với rừng núi khô cằn, bụi
mốc. Có mấy ai khi được nghỉ ngơi về với phố thị tránh khỏi
sự rung động, khi nh́n những tà áo tha thướt, phất phơ bay
bay trong gió của giai nhân, của em gái hậu phương:
Thành phố nọ trở về vui một bữa. Quán
cà phê và bạn hữu tao mày. Phố xanh hồng sáu chục cũng c̣n
say. Huống bọn trẻ ở trên rừng vắng gái. Gác chân lên bàn
đôi giày vạt đế. Cốc xây chừng ngầy ngậy giọt bơ thơm. Ánh
mặt trời đọng lại trong ly con. Gió sông thổi tà áo màu tha
thướt.
Vỉa phố trời cho rộng vài ba thước.
Đường phố không dài nên đi xuống đi lên. Muốn theo gót nàng
nhưng không dám làm quen. Thôi chỉ biết ngồi ĺ ṃn cả ghế.
Để cố uống một lần mai từ giă. Những mái trường, những cửa
tiệm, đám đông. Đàn bướm màu làm đẹp cả hoàng hôn. Để ǵn
giữ làm của thời tuổi trẻ. (Về Với Phố, tr 162)
3. Thân phận, kiếp sống gian lao và nỗi u hoài của người
chiến binh sau ngày miền Nam bị nhuộm đỏ.
Sau khi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và cố vấn Ngô Đ́nh Nhu, bào
đệ của ông bị thảm sát do nhóm tướng lănh chóp bu đảo chánh
ngày 1/11/63, th́ t́nh h́nh chính trị và an ninh miền Nam
dần dần rơi vào trạng thái càng ngày càng tồi tệ, bất an.
Phải chăng cái chết của cụ Ngô là tín hiệu, là hồi chuông
báo tử trước cho Tổng Thống Kennedy và sự cáo chung của chế
độ VNCH?
Chỉ hơn một năm sau khi người Mỹ rút khỏi miền Nam, cắt đứt
viện trợ, th́ quân lực Cộng hoà càng lúc càng bị trói tay,
thúc thủ, do thiếu quân cụ, nhiên liệu, đạn dược... Thêm vào
đó là lệnh buông súng “lạ lùng, khó hiểu” của tướng "big
Minh" đă dễ dàng đưa toàn quốc vào tay lực lượng xăm lược
Cộng sản Bắc phương. Trong khi vào thời gian ấy, ít nhất,
lực lượng quân lực miền Tây/Quân đoàn 4 vẫn c̣n nguyên vẹn
hoàn toàn, trong tư thế sẳn sàng phản công diệt địch.
Trước và sau ngày tao loạn, nhiễu nhương, dâu biển đó, người
người truyền tụng khắp nơi rằng không biết bao nhiêu quân
nhân các cấp miền Nam đă tuẫn tiết v́ chẳng chịu đầu hàng,
sống nhục. Điển h́nh là vị tướng tài ba Nguyễn Khoa Nam, tư
lệnh quân khu 4. Điển h́nh là trung tá Nguyễn văn Long,
người đă tự sát trước trú sở Quốc hội góc đường Tự Do và Lê
Lợi - trung tâm nhộn nhịp nhất thành đô SG.
Tôi c̣n được nghe, được biết, về những sự hào sảng, kiêu
hùng của nhiều Sĩ quan, Hạ Sĩ Quan và Binh Lính trẻ khác
trên khắp 4 vùng Chiến thuật. Họ cũng hành xử oanh liệt
tương tự, để giữ tṛn khí tiết với Tổ quốc, Danh dự và Trách
nhiệm, sau khi cùng chia nhau một điếu thuốc, bi đông rượu
hay ly cà phê vĩnh quyết. Người viết xin ngả nón kính chào
các vị niên trưởng. Người viết xin cúi ḿnh kính chào các
chiến hữu bị thua thiệt, vô danh kia…
Đa số, những người khác th́ v́ vướng bận thê nhi, cha mẹ...
về với gia đ́nh đă bị đưa vào các trại tập trung lao động,
tẩy năo, mà kẻ chiếm lĩnh gọi là "trại cải tạo", kể cả những
viên chức dân sự. Bối cảnh đau thương, bi đát của ngày tàn
chiến cuộc ấy đă được một thi sĩ - ngành Chiến Tranh Chính
Trị thâm niên, xúc cảm ghi lại một cách sâu sắc:
"
Tháng 4 - vợ ngóng chồng đầu ngơ. - Nón sắt giày sô vất bỏ
dọc đường. - Mưa sớm khai mùa tuôn xối xả. - Đất trời xúc
động nỗi tai ương. - Thương binh lê lết ra y viện. - Tà
quyệt nào tha phận tật nguyền.- Đơn vị ră hàng tàn chinh
chiến. - Hỏi người nhân đạo với nhân danh. - Có người lính
trẻ không buông súng. - Ngẩng mặt hiên ngang trước kẻ thù. -
Thà ngă dưới cờ tṛn danh dự. - Dày trang sử Việt sáng thiên
thu. "
[Diên Nghị * Tháng Tư]
Cũng như những quân cán chính khác, một người bạn trẻ thân
t́nh của tôi, một cựu sĩ quan ngành quân báo đă lâm vào thế
bị cưỡng bức tập trung. Anh, cũng như nhiều người khác tin
tưởng rằng khi chiến tranh đă kết thúc th́ việc xách khăn
gói đi tŕnh diện học tập trong ṿng 10 ngày, một tháng theo
lệnh của ủy ban quân quản CS là một điều tất yếu, chấp nhận
được, rồi sau đó mọi người trong nước sẽ cùng nhau nối ṿng
tay lớn xây dựng, hàn gắn lại quê hương, hàn gắn lại vết
thương chiến tranh... Nhưng tất cả những kỳ vọng ấy đă được
trả bằng những sự đói rét, khổ nhục trường kỳ và những đ̣n
thù khắc nghiệt:
"
Heo hút đồi cao bụi phủ mờ - những thân c̣m cơi dáng chơ vơ
- bốn ṿng gai sắc như dao nhọn - đâm suốt hồn ai nhát hững
hờ- đă mấy Mùa Xuân trong đớn đau - cao su vàng lá úa u sầu
- bọn ta chung kiếp tù tăm tối - ngày tháng chừng trôi qua
rất lâu... "
[Vũ Uyên Giang * Bài Gửi Dương Hùng Cường]
Nếu không có sự tin tưởng ngây thơ này th́ với lực lượng
quân dân cán chính can trường, bất khuất bị lường gạt thê
thảm kia sẽ ứng phó ra sao? Giới cầm quyền mới có dễ dàng,
yên ổn thu gọn cuộc “chiến thắng thần tốc” mà họ đă luôn tự
hào, rêu rao?
Việc CS dồn người, đem họ giam giữ vào các trại tập trung xa
xôi, rừng thiêng nước độc, rồi ngấm ngầm để các nơi, các cơ
cấu phụ thuộc tổ chức đưa người vượt biên lấy vàng, tịch thu
nhà, cơ sở kinh doanh. Hoặc giả cho phép các cựu tù miền Nam
sang Mỹ định cư để được nhận tiền trao đổi. Chẳng phải đó là
nhằm vào mục đích giải trừ, tránh đi hậu hoạn về những sự
đối kháng, nổi dậy nguy hiểm hay sao? Hơn ai hết, nhóm đầu
sỏ gian hùng phương Bắc có thể tiên liệu, biết chắc chắn là
mối họa này không thể không xảy ra, nếu các tướng lănh, sĩ
quan can trường, dày dạn này c̣n tồn tại trong nước ?
Rồi con số người bị hành hạ, chết chóc trong các trại cải
tạo mỗi ngày một gia tăng. Con số người dân t́m đường vượt
thoát chế độ độc tài khát máu càng ngày càng nhiều, dù họ
đều biết rằng ḿnh có thể sẽ vùi thây trong ḷng biển cả
hoặc ở một xó rừng, góc núi xác xơ nào đó.
C̣n những kẻ sau thời gian bị nhục h́nh trong các trại tập
trung trở về, người bị đày lên vùng kinh tế mới, làm kẻ vô
gia cư, kẻ th́ lâm vào cảnh "anh hùng lỡ vận lên nguồn đốt
than", t́m trầm t́m quế, "chém tre đẵn gỗ trên ngàn"... dọc
theo dăy Trường Sơn. Cũng không ít người tiếp tục những gánh
nặng oan khiên khác bằng nghề đẩy xe thồ, bốc vác, đạp xe
xích lô... Phải chăng họ tự an ủi ḿnh bằng ư nghĩ "Không có
nghề nào tồi tệ, xấu xa, chỉ có con người tồi tệ, xấu xa
thôi" [7].
Một số những h́nh ảnh được tŕnh dẫn dưới đây là một trong
các minh chứng về chánh sách đọa đày, ngược đăi đối với
những người cựu tù sống sót đă được họ “tha, thả”, cho về từ
những ḷ ô nhục mà ngôn ngữ kẻ chiến thắng gọi là “trại cải
tạo”:
"
Cơng con dắt vợ leo đồi - phá rừng làm rẫy cất cḥi tịnh tâm
- vợ con tắm vũng trâu nằm - lưng gùi tay rựa quanh năm cuốc
cày - đầu trần chân đất hôm nay - mai sau rồi cũng bóng mây
lưng đèo."
[Trần Văn Sơn * Tù Về, Lên Rừng Làm Rẫy]
Tại các trại tù tập trung lao động khổ sai ấy cũng có nhiều
người bất khuất, không chịu được sự ngược đăi đă liều ḿnh
vượt ngục, bỏ trốn. Có nhiều vị bị bắt lại, bị giết. Cũng có
nhiều người bị vùi thây nơi vùng già Việt Bắc, những chỗ
rừng sâu nước độc, hoang dă, đầy sương lam, chướng khí trên
đường t́m về với gia đ́nh, thân nhân.
Cũng có một số ít người vượt thoát sau bao đói khổ, truân
chuyên, được âm thầm, lén lút hội ngộ với gia đ́nh. Nguyên
Hoàng Bảo Việt – là một trong số những người may mắn hiếm
hoi đó. Anh là một trong những văn thi sĩ
đầu tiên chiếm giải Văn Chương Toàn Quốc trong thập niên 60.
Hiện nay anh là nhân vật quan trọng trông coi Ủy Ban Bảo Vệ
Nhân Quyền và trung tâm Văn Bút Âu Châu, trụ sở đặt tại Thụy sĩ.
Nhờ bài “Kẻ Sống Sót” của anh, chúng ta có thể h́nh dung
được thảm cảnh khốn khổ, oan khiên của những người “ngă
ngựa” phải cắn răng chịu đựng triền miên trong địa ngục trần
gian. Trong một nơi mà kẻ ngă ngựa thường xuyên đối diện với
nhọc nhằn, đói lạnh dai dẳng, thiếu ánh sáng:
"
Đêm đă xuống - Trên đường trốn về Nam - T́m sao để định
hướng - Con chim Việt c̣n nhớ cành - Sau lưng tôi - Bạn bè ở
lại - Giữa trại tù tập trung - Nào ai biết.-
Dù màn sắt hay màn tre - Ngục h́nh của Cộng sản - Ngàn lần
hơn Lao Bảo - Trăm lần hơn Côn Nôn - Luật rừng thời trung cổ
- Khổ sai và tẩy năo - Chung thân - Chết đói và tuyệt vọng -
Muôn năm - Xích xiềng và liềm búa - Khua vang - Khua vang…"
[Hoàng Bảo Việt * Kẻ Sống Sót]
Tác giả Ô Cửa th́ may mắn hơn đồng đội chút ít. Anh được cho
về sớm hơn để rồi bùi ngùi nh́n cảnh đổi thay, vợ con nheo
nhóc. Người lính thám báo, người giáo sư yêu đời năm xưa đă
mạnh dạn t́m phương tiện sinh nhai bằng một nghề mà người có
học, kẻ sĩ trên khắp hoàn vũ nằm mơ, hoang tưởng mấy cũng
không thể h́nh dung được: bán cà rem.
Nhưng có lẽ nhờ tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động của thi nhân
cùng với một nhân sinh quan cởi mở, nên có lúc THT cũng t́m
thấy được phần nào nét trào phúng, ư nhị nhỏ nhoi, hài ḥa
trong công việc dăi dầu mưa nắng đó. Dẫu sao, anh cũng c̣n
cảm thấy ḿnh được phần nào tự do, đỡ khổ hơn những năm bị
lưu đày:
Ta trở về ôm những nhánh
tang thương. Cúi đầu bước đi giữa ḷng phố cũ. Con phố của
ta ruột rà trăm ngơ. Sao bây giờ mỗi khúc mỗi đau. Ta đă trở
về bốn năm phù du. Hồn hóa đá người thành dă thú. Ta dỗ dành
ta tai trời ách nước. Thôi đă hết rồi món nợ tiền khiên...
Sau cuộc chiến tranh làm
tên sống sót. Sau cuộc tội tù đi bán cà rem. Ta bán cà rem
hề, ta bán cà rem. Lắc chiếc chuông đồng khua vang làng
xă...
Chiếc áo trận xanh xạm
màu khói lửa. Chiếc mũ rơm đan vương miện tội tù. Ta qua
những miền thiên cổ âm u. Ta đập vào thùng nghêu ngao ca
hát. Ta bán cà rem hề, kem đường kem chảy. Thêm kem oan cừu
chất ngất miền Nam (Ta Bán Cà Rem Hề, tr. 24)
Lời thơ tuy êm ái, lăng đăng như sương khói đầu cành, nhưng
sao tôi thấy như ẩn tiềm, phảng phất đâu đây nhiều nỗi niềm
cay đắng, tái tê. Những ḍng thơ điển h́nh chuyên chở, tiềm
tàng các sắc thái ư nhị này người đọc có thể phát hiện dễ
dàng trong toàn tuyển tập Ô Cửa của anh. Chẳng hạn như: “Sợi
Tóc Nhớ Nhung” (tr. 108), “Tôi Đă Về Em Ạ Đêm Nay” (tr.
165), “Xa lạ” (tr. 201), “Hoàng Hôn Trên Bản Địa” (tr.
313)...
Trận đánh nào rồi cũng đi vào quên lăng. Thời gian nhọc
nhằn, tủi nhục nào rồi cũng ch́m lắng, nhạt nḥa dần với
thời gian. Kết cuộc, có c̣n chăng là những nỗi niềm u uẩn,
cay đắng khôn nguôi, những vết sẹo măi măi hằn in trên thân
thể gầy ṃn của người lính tiền sát bị thất trận, buông
súng, giă từ vũ khí trong nghẹn ngào, oan ức:
Những mảnh đời như những
cơn giông. Đă xé toạc cả tiếng đời tục lụy. Đă dữ dội như
trăm ngàn tạc đạn. Đă rũ mềm lê lết cất không lên...
Bụi th́ mù, mây th́ phủ
tai ương. Con ngựa đứt dây, hí hoài trên núi. Bàn tay cắt
vào mảnh chai tươm máu. Hồ trường này đây, đập cốc. Về đâu?
Ta th́ ngậm cả tang hồ rách nát... (Cuồng Ngâm Của
Tên Thất Trận, tr 124)
và có c̣n chăng trong ḷng, trong kư ức sâu kín của THT là
niềm kiêu hănh, sự tưởng niệm buồn bă, thấm thía:
May mà tôi vẫn c̣n một
hoài niệm xanh. Dù chỉ là nỗi niềm tự hào buồn bă. Trên ngực
lép vẫn c̣n chiến thương ngày cũ. Như đáp đền ân lượng của
quê hương. (Niềm Kiêu Hănh Buồn Bă, tr 233)
Anh bạn đồng minh James M. Hopkins thuộc Sư Đoàn 1 BB -
người đă từng dẫm chân trên các nẻo đường hành quân vùng
B́nh Dương, Tây Ninh, khu “tam giác sắt”... cũng có chung
một tâm trạng như “Đêm Mất Ngủ
” của THT (trang 252). Nhưng
trái với sự mong đợi. Khi anh và các chiến hữu về nước không
may đă bị các lực lượng phản chiến, sinh viên hung hăng thời
đó coi như tên tội đồ dân tộc, thậm chí là kẻ sát nhân.
Mặc khác, do “mặc cảm tội lỗi ?” hay v́ tâm trạng chua chát,
tái tê trước phản ứng phũ phàng của dư luận Mỹ, mà bài thơ
mang tựa “SONG”, diễn tả về tâm trạng của người lính hồi
hương này, đă mang nặng màu sắc chán chường, bi quan… để rồi
anh ta phải tự giấu kín tâm tư, không thổ lộ được nỗi niềm u
uất:
“ Người lính chiến không quên được. Có lẽ - trong nhiều năm
- anh ta sẽ trăn trở trong mỏi mệt. Chờ đợi giấc ngủ, chẳng
bao giờ đến. Không ai có thể thoát khỏi được. Những ǵ anh
ta đă chứng kiến, và những sự việc anh ấy đă dự phần, đều bị
chôn vùi trong những giấc mơ, trong thầm lặng và câm nín…”
[James M. Hopkins * Song] [8]
Sao người ta lại nh́n tác động, hiệu quả của chiến trận dưới
con mắt đạo đức một chiều, để chỉ thấy mặt trái, đàng sau
của một tấm huy chương? Điều đó có oan ức cho những người v́
nhiệm vụ phải thi hành trong lúc đối diện địch quân?
Hơn nữa trong lúc giao tranh, chiến đấu, th́ việc giết giặc
- ít nhất, cũng để bảo toàn được mạng sống của ḿnh, của
đồng đội ḿnh, mà cũng bị xem là một hành vi tội lỗi, phi
đạo đức được sao? Như vậy, th́ sự công b́nh cần thiết đối
với tha nhân ở đâu?
Những ray rứt về những ngày ngang dọc, gian truân xa xưa,
như cứ đeo đẳng, bám sát tâm trí người lính trận THT. Cho dù
đến nay, anh đă trở thành công dân của một quốc gia khác, mà
quê hương yêu dấu cũ th́ đă ngàn trùng xa cách. Nỗi hoài nhớ
này được dàn trải qua 2 bài lục bát ngắn gọn, có thể xem là
những đoản thi nhị thập bát tú dưới đây:
Bên kia lạnh nến hai
hàng. Phố kia và những con đường lặng im. Nhà kia đóng cửa
im ĺm. Sao ta không đóng nỗi niềm muội mê. (“Hỏi
ḷng,” tr 256)
Và:
Tôi lạc rồi em biết
không. Tôi đang quờ quạng giữa vùng mù sương. Cũng v́ cái
ngạnh cái ương. Ngỡ ḿnh là lính tiền phương thuở nào. (Lạc
Đường, tr 257)
Bởi tập thơ quá dày, bài viết khá dài, không thể giới thiệu
thêm, nhưng người viết nhận thấy ḿnh sẽ thiếu sót lớn, nếu
không đề cập đến bài thơ dưới đây, bài thơ mang tựa của
tuyển tập, mang linh hồn của cả 5 ấn phẩm mà tác giả đă
chọn, gom góp lại thành kiệt tác: Ô Cửa:
Ngôi trường cũ có bao
nhiêu ô cửa. Để tôi về đếm những đám mây bay. Tôi sẽ gọi một
bầy chim sẻ nhỏ. Những con chim từng xa vắng lạc bầy. Tôi sẽ
đứng như một người thiên cổ. Lớp học buồn như từ cơi cô đơn.
Thầy ngồi đó đôi vai gầy tóc bạc. Chút ngậm ngùi cơn nắng
đọng hoàng hôn...
Tôi sẽ nhớ một người tôi
yêu dấu. Người nào đâu về lại buổi hôm qua. Dấu chân nhỏ như
vết hài vạn cổ. Đôi mắt nào theo măi cuộc đời tôi...
Và người ấy qua ḍng
sông sương muối. Tôi lên rừng theo ḍng thác binh đao. Và
người ấy theo sông về với biển. Tôi về Đông, về Bắc, biết về
đâu? Trăng thiếu phụ tôi mang vào song cửa. Cho một lần, cho
vô tận ư thiên thu. [Ô Cửa Tr. 14]
Tôi đoan chắc những hoài niệm triền miên, những ray rứt về
các mất mát trên, với niềm kiêu hănh buồn bă nọ, sẽ măi măi
vương vấn trong tâm hồn, kư ức của người lính trận tiền
phương đa cảm, đa t́nh này.
Tuy phần lớn trong số 237 bài là thơ chiến tranh - trực hay
gián tiếp, nhưng Ô Cửa cũng có nhiều bài thơ trữ t́nh rất
nồng nàn, rất đáng cho người đọc ngâm nga, thưởng ngoạn. Thí
dụ như: “Nha Trang” (tr. 30), “Con đường Trăng” (tr. 52),
“Thơ của Văn” (tr. 62), “Dư niệm” (tr. 196), “Từ buổi ta về”
(tr. 268), “Hẹn ḷng” (tr.350)…
4. Lời kết.
Ai cũng biết con số người Việt Nam làm thơ chiến tranh không
phải là ít. Nhưng theo tôi, THT là người đă sáng tác nhiều
nhất. Trong những tác phẩm mà tôi có trong tay, do anh gởi
tặng, tôi thấy hầu như bài nào, cuốn sách nào, anh cũng vẽ
cho người đọc thấy những h́nh ảnh linh hoạt, bi hùng của
những người lính chiến như anh, cùng sự thống khổ của đồng
bào mà anh và những chiến hữu khác thuộc quân lực miền Nam
có nhiệm vụ bảo vệ, che chở bằng tất cả nhiệt t́nh, nhiệt
huyết, ngay cả bằng sinh mệnh của họ.
Ô Cửa là một tuyển tập thi ca có tầm vóc lớn. THT lại biết
tự chọn cho ḿnh một hướng đi, một bản sắc riêng về thi
loại, đề tài: chuyên biệt về Chiến Tranh. Thơ anh được cấu
tạo bằng những thi ngữ, ngôn từ qui ước chân phương. Nhưng
bằng những cảm xúc nồng ấm, cùng lối kết từ điêu luyện. THT
lại c̣n biết tạo dựng nhiều “deep images” - mà Robert Bly và
nhóm thi hữu lừng danh của ông như James Wright, Louis
Simpson, William Stafford…đă triệt để khai thác, tận dụng.
Cũng chính các deep images này đă khiến
Ô Cửa dễ dàng lôi
cuốn người đọc vào những t́nh tự tan hợp, những biến động
đau thương, tràn ngập máu lửa, khói súng, trong thời chiến
tranh tương tàn, loạn lạc đă qua, mà anh là một nhân chứng
sống.
Chất liệu ṇng cốt trong thơ anh là t́nh nghĩa, t́nh người.
T́nh nghĩa dành cho đồng đội, sự luyến ái, tŕu mến dành cho
người thân yêu, cho những người dân lành ở khắp các làng
mạc, thị trấn lẻ, mà gót giày “saut” của anh đă từng lưu
dấu.
Thơ chiến tranh là một thi loại đặc thù, khó gây được sự
rung cảm sâu xa trong tâm hồn người đọc. Nhưng nhờ sự biết
phối hợp, hài ḥa các thi ảnh, thi ngữ vào tác phẩm đúng mức
nên thơ của anh trở nên dịu vợi hơn và dễ thẩm thấu vào nội
tâm người thưởng ngoạn. Ô Cửa xứng đáng là một tập thơ có
giá trị, trữ t́nh, nhân bản cao, hiếm hoi trong nền văn học
hiện đại.
¤ PHAN BÁ THỤY DƯƠNG
• trích thơ của các tác giả VN:
Anh Thuần, Diên Nghị, Hà Thúc Sinh, Linh Phương, Hoàng Lộc,
Huy Lực, Luân Hoán, Hoàng Bảo Việt, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn
Mạnh Trinh, PBTD, Phan Ni Tấn, Phan Xuân Sinh, Tô Thùy Yên,
Trần Tuấn Kiệt, Trần Văn Sơn, Vũ Uyên Giang.
• Ghi chú: PBTD tạm dịch từ nguyên bản:
[1] Herbert Hoover: The old men declare war. But it is the
youth who must fight and die.
[2] Ernest Hemingway: They wrote in the old days that is
sweet and fitting to die for one’s country. But in the
modern war, there is nothing sweet nor fitting in your
dying. You will die like a dog for no good reason.
[@2Bis] : PBTD đă dịch bài Viet Nam Blues này ra thơ lục bát
và đă đăng trên số báo Xuân Viễn Đông hơn 10 năm trước, đồng
thời cũng được upload trên trang Văn Hữu VTN và một số diễn
đàn VHNT.
[3] Winston Churchill: Attitude is a little thing that makes
a big differences. It costs nothing to be polite.
[4] Marko Whiteley: Right onto the ambush the fighting is
fierce. The wildness is gone the glint in the eyes. For now
it is you not just them to die. Through the blackness of the
deeping night. The wounded scream the rest to fight. The
mind starts to scream a terrible warning.
[5] Guy L. Jones: As the sun sets in the darken sky. I hear
the voices of those who march off to the distant and calling
one to another. I hear them say do not weep for us for our
pain is over with now and we go to our God in peace. As the
sun passes over the horizon, the image of these marching men
pass from the light of my eyes but not the words they said,
which I hold onto and the memory of each and very one of
them. I whisper back to them I’ll pass on your words to all
who hear them from me. This I promise to all of you as long
as I live. Farewell my friends, farewell.
[6] Blaise Pascal: L’homme est un roseau, le plus faible de
la nature, mais un roseau pensant.
[7] Winona Ryder: Il n’y a pas de sot métier, il n’y a que
de sotte gens.
[8] James M. Hopkins:
The combat soldier, do not forget who (for perhaps years)
will toss sweat, waiting for sleep, that won’t come. No one
escapes. What his eyes have seen, and the things he has
been, are buried in dreams, mute and dumb..
art2all.net
|