|
Quỳnh Chi Mười giấc chiêm bao -Giấc chiêm bao thứ hai-
http://img.blogs.yahoo.co.jp/ybi/1/4c/b9/myab_m/folder/1484240/img_1484240_56918278_0?121404325
Tôi đã nằm mơ thấy mình bái biệt một vị hoà thượng, rồi theo hành lang về phòng. Trong phòng có ánh sáng tù mù từ chiếc đèn có chụp giấy. Tôi khuỵu một chân xuống chống đầu gối trên nệm zabuton, khêu tim đèn khiến cho hoa đèn hình như một đóa đinh hương rơi xuống chiếc đĩa sơn son. Căn phòng bỗng sáng bừng lên. Nét bút vẽ bức tranh trên hai cánh cửa fusuma là của Buson, đây đó có những cành liễu, khi đậm khi nhạt khi gần khi xa, với người ngư phủ co ro đội chiếc nón lá trật ra đằng sau lưng, đang đi trên bờ đê. Trên tường có treo bức liễn vẽ Hải Trung Văn Thù. Mùi thơm tỏa ra từ phía đầu đã cháy thành than của những cây hương đốt dở dang. Ngôi chùa rộng thênh thang nên càng thêm tĩnh lặng không một bóng người. Ngửa nhìn lên trần nhà bỗng thấy bóng đen tròn xoe của chiếc đèn in lên trần nhà thật là linh động. Vẫn quỳ một chân, tôi dùng tay trái nâng chiếc nệm zabuton lên, luồn tay phải xuống dưới nệm, thấy cái ấy vẫn còn nguyên ở đấy đúng như tôi nghĩ. Hễ còn nguyên đấy là yên tâm được rồi. Tôi bèn để lại như cũ, rồi ngồi chễm chệ lên trên miếng nệm. “Nhà ngươi là vũ sĩ”. Hòa thượng đã bảo « Nhà ngươi là vũ sĩ. Là vũ sĩ thì phải ngộ. Mãi vẫn chưa ngộ được thì điệu này nhà người chẳng phải là vũ sĩ, chỉ là đồ bỏ đi ». Lại còn cười ha hả nói “ Ha Ha ! Cáu tiết rồi phải không ? Có tức thì hãy trương bằng cớ chứng tỏ là mình đã ngộ, xem nào !” Hòa thượng nói rồi vênh mặt quay đi. Thật là láo xược ! Cho đến khi chiếc đồng hồ lớn ở phòng bên cạnh điểm chuông báo thời khắc sắp tới, ta sẽ ngộ cho mà xem. Chẳng những là sẽ ngộ, mà ngay trong đêm nay ta sẽ vào phòng của hòa thượng mà lấy đầu ngươi nữa. Nếu không ngộ thì không thể lấy được mạng của hòa thượng. Thế nào ta cũng phải lấy mạng hòa thượng cho bằng được. Ta là vũ sĩ. Nếu không ngộ thì ta phải tự sát. Vũ sĩ bị nhục thì không thể nào sống được. Ta sẽ chết nhẹ nhàng như không. Nghĩ đến đấy, bất giác tôi lại luồn tay xuống dưới nệm zabuton, và rút thanh đoản kiêm trong vỏ ra. Tay nắm chặt chuối kiếm, tôi hất vỏ kiếm vằng đi, lưỡi kiếm lạnh lẽo vung lên thành một vệt sáng trong căn phòng tối. Tôi tưởng chừng như có cái gì thật ghê gớm (như thần phách của mình )đã từ tay tôi bay vụt đi, rồi tụ lại cả nơi mũi kiếm, sát khí đằng đằng. Tôi thấy tiếc cho thanh kiếm sắc bén của mình như thể đã bị co lại tròn trịa như cái trôn kim. Chỉ có một tí ở tận mũi lưỡi kiếm dài năm tấc rưỡi ấy là còn bất đắc dĩ giữ dáng nhòn nhọn. Tôi muốn chém một nhát thật mạnh. Máu trong người muốn đổ dồn cả vào cánh tay phải, chuôi kiếm trong lòng bàn tay dính dấp mồ hôi, Môi tôi run bần bật. Tôi tra đoản kiếm vào vỏ trở lại, đặt xuống bên phải mình, rồi ngồi xếp chân bằng tròn. Triệu Châu Thiền sư viết “Vô”. Thế nào là « Vô »? Tôi nghiến răng rít: "Lão trọc đầu láo xược !". Hai hàm răng nghiến chặt vào nhau khiến hơi thở ấm áp toát ra đằng mũi. Hai bên thái dương xếch ngược lên đau rát. Mắt tôi mở to trừng trừng gấp đôi lúc bình thường. Tôi nhìn thấy bức liễn, thấy chiếc đèn có chụp giấy, thấy chiếu tatami lát sàn nhà. Thấy rõ mồn một cái đầu trọc bóng lưỡng của hòa thượng. Thấy cả cái miệng cá ngão há hốc ra với tiếng cười khẩy. Lão trọc đầu láo xược ! Nhất định ta phải lấy cái thủ cấp trọc lóc bóng lưỡng ấy mới được. Ta sẽ ngộ cho mà xem ! Vô ! Vô ! Tôi tụng mãi chữ "Vô" đến mòn cả lưỡi. Nhưng tuy miệng tụng « Vô » mà lại thấy có mùi hương. Hương thì là cái gì mới được cơ chứ ! Đột nhiên tôi nắm chặt tay lại mà đấm vào đầu mình cho đến thật hả mới thôi. Rồi nghiến răng trèo trẹo. Mồ hôi toát ra dưới nách. Lưng ngay đơ như thanh gỗ. Khớp đầu gối bỗng đau nhói. Tưởng chừng đầu gối có gẫy thì đã có làm sao. Thế mà đau. Khố thật. Mãi vẫn chưa thấy "Vô" đâu cả. Có lúc tưởng chừng « Vô » sắp hiện ra thì ngay lúc đó cơn đau lại kéo đến. Cáu thật. Hoài công toi. Ức quá. Nước mắt rơi lã chã. Tôi chỉ muốn gieo mình trên tảng đá thật lớn cho thịt nát xương tan cho rồi. Tuy vậy tôi vẫn cố ngồi yên. Một cảm giác buồn tê tái chừng như không sao chịu nổi cứ dâng lên và len vào lòng. Nỗi buồn tê tái ấy dâng lên từ trong từng thớ thịt khắp người, chỉ chực chui ra khỏi các lỗ chân lông, thế nhưng đâu đâu cũng bị bít kín, tình trạng thật bi đát như thể không có lối thoát. Đầu óc tôi cứ thế mụ dần đi. Chiếc đèn có chụp giấy hay tranh Buson rồi cũng chẳng còn thấy nữa. Nào chiếu tatami, nào các kệ tủ đóng trên tường, dù có đấy mà cũng như không, như thể không còn nữa. Dù thế, “Vô” vẫn chẳng chịu hiện ra. Tôi có cảm tưởng như mình chỉ biết ngồi trơ ra đấy. Đúng lúc ấy, chiếc đồng hồ ở phòng bên bỗng bắt đầu điểm chuông. Tôi giật mình, vội đưa tay nắm lấy thanh đoản kiếm, thì đồng hồ cũng vừa điểm tiếng chuông thứ hai.
Nguyên tác : Yume Juu Ya của Natsumei Soseki (25/7 - 5/8/1908 ) Người dịch : Quỳnh Chi, Tokyo ( 1993- 30/11/2008 )
|