|
Trần Kiêm Đoàn
CÂY NÊU TÂM ẢNH

Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện
thân vừa nhân hậu v́ hay cứu khổ giúp đời mang h́nh ảnh đức Phật, vừa là vị thần
linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang h́nh ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng
hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có
đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời
bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
Trong tâm thức Việt:
Bụt là cánh cửa tâm hồn, nơi ḷng tin nhân hậu được gieo.
Phật là con đường dấn thân tiếp nối vào đời, nơi trí tuệ và giải thoát được mở
ra.
Cây nêu ngày Tết Việt Nam là tâm ảnh về Bụt, là bài học đầu thật dễ thương của
tuổi thơ; là sự khôn ngoan mềm dẻo của người dân hiền trừ ma, ếm quỷ hung ác
thường t́m cách dẫn lối đưa đường; là tinh thần khôn ngoan của người dân chân
đất giữ làng giữ nước được sự mách bảo quyết đoán mà hiền từ, đơn thuần mà trí
tuệ của Bụt.
Bởi thế, cứ đến ngày 23 tháng Chạp, khi các ông Táo cả nước cưỡi cá chép lên
chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế, sợ nhà cửa bị bỏ trống, ma quỷ kéo vào xâm hại nên
người ta phải cắm cây nêu mời tổ tiên và thiện trụ “ăn oản giữ nhà”. Nh́n ngọn
nêu tre cao vút phất phơ trong gió, người âm cũng như người dương đều dường như
bắt gặp tín hiệu an ḥa của Bụt với chiếc áo cà sa cổ tích trăi rộng trên đầu
ngọn tre để che bóng cho con người với câu nói của người Mẹ mở rộng ṿng tay che
chở, bao che nhân gian trước móng vuốt ma quỷ đang chực chờ xâu xé: “Bóng áo cà
sa che mặt trời trải rộng tới đâu th́ quỷ sứ phải tránh ra để nhường đất lại cho
người.” Mảnh đất tâm linh đă trải dài xa rộng mênh mông. Phần che nắng, phủ đất
bên ngoài chỉ mới là không gian đo đếm được; mảnh đất bên trong mới chính là
giang sơn vô biên của con người níu ngọn cây nêu, giải trừ quỷ sứ theo ḍng cổ
tích văn hiến Việt Nam.
Niềm tâm cảm dân gian tin rằng, cây nêu là một nhịp cầu nối tâm linh giữa nhân
thế và cơi vô h́nh. Con người thấp cổ bé miệng nên phải nhờ cây tre cao vút.
Trên ngọn tre có treo phong linh để tạo ra âm thanh cảnh báo. Có luôn cả các vật
dụng ra mắt và phẩm vật chân quê như cau, trầu, thuốc, rượu... cùng lễ nghi với
lời khấn nguyện được viết trên mực Tàu giấy đỏ treo dọc theo thân tre. Sự giao
tiếp giữa hai thế giới qua nhịp cầu tre chân phương mà huyền nhiệm: Đó là cây
nêu ngày Tết – Cây Nêu Tâm Ảnh. Khi h́nh tượng đă an trú trong tâm ảnh, mọi
thước đo của nhân gian đều trở nên bất lực; bởi kư ức ấy không thuộc về một đời
người, mà thuộc về chiều sâu lặng lẽ của nhiều thế hệ.
Năm mươi năm qua, người Việt đă có dịp tỏa ra khắp bốn phương trời. Mỗi người có
thể khác nhau về giới hạn địa phương, hoàn cảnh xuất thân, điều kiện kinh tế, xă
hội... nhưng trong cùng thẳm của mỗi tấm ḷng đều lắng đọng tâm ảnh quê hương;
trong đó, cây nêu tâm ảnh vẫn hiển hiện và nhắc nhở những bóng dáng nguồn cội.
Cứ ngỡ rằng khi xa th́ ḷng cũng vắng, như xa mặt cách ḷng; nhưng có trải
nghiệm những năm dài tha hương rồi mới hiểu, ai cũng mang trong ḿnh một quê
hương thiên cổ để trở về.
Tôi xa Huế đă 44 năm. Nhớ cái Tết xa nhà đầu tiên năm 1982 ở trại tạm cư
Chi-Ma-Wan, đảo Hồng Kông. Phút Giao Thừa im ắng, cả đoàn người mới ly hương ra
đứng nh́n biển Đông ch́m trong đêm tối, hướng về vùng trời Quê Mẹ Việt Nam mà
tưởng tượng ngọn nêu mang chút chân trời viễn xứ có chăng giọt nước mắt thương
mẹ, nhớ nhà. Biền biệt từ đó, 43 cái Tết đi qua hơn nửa sau đời ḿnh. Những cái
Tết tiếp theo chỉ c̣n là ư niệm trong kư ức khó phai mờ. Tết không ở quê hương
th́ nơi nào mà chẳng Tết khi cây nêu tâm ảnh đă mang đậm dấu ấn quê hương đầy
đạo vị trong thần trí và tâm tưởng của chính ḿnh.
Quê hương là Đất Tổ nơi ḿnh sinh ra, là cửa ngơ để vào đời; nhưng không phải là
nơi duy nhất để ḿnh dựng được cây nêu đón thiện thần và hồn thiêng sông núi
trong dịp Tết đến, Xuân về.
Trong số 130 quốc gia trên toàn thế giới, có khoảng 6.5 triệu người Việt đang
sinh sống th́ riêng Hoa Kỳ là đất nước “kỳ khôi” hơn cả. Tuy chỉ có 5 chủng tộc
chính thức là đen, vàng, đỏ, trắng, nâu nhưng có tới 300 sắc dân. Hàng năm có từ
8 đến 10 “Năm Mới” thành văn nhưng có tới hàng mấy mươi kiểu “Tết” theo phong vị
đất lề quê thói để chúc mừng nhau Năm Mới.
Từ khoảng thập niên 2010, và trở nên rơ nét sau năm 2020, trong bối cảnh xă hội
phương Tây ngày càng ư thức sâu về tính đa văn hóa, danh xưng “Tết Trung Hoa”
(Chinese New Year) dần được thay bằng “Tết Âm Lịch” (Lunar New Year). Sự chuyển
dịch này không nhằm phủ nhận vai tṛ lịch sử của văn hóa Trung Hoa, mà để nh́n
nhận thực tế rằng Tết Âm lịch là di sản chung của nhiều nền văn hóa Đông Á,
trong đó có Việt Nam, Hàn Quốc và Triều Tiên đă nói lên một không gian kư ức
rộng mở, nơi nhiều quê hương cùng có quyền trở về.
Cứ ngỡ ḿnh lâu ngày, xa quá dần quên, nhưng thật lạ lùng, thế giới ngày xưa
càng ngày càng hiển hiện. Tuổi đời càng cao, kư ức càng mỏng lại; bao nhiêu h́nh
ảnh xuôi ngược bốn phương nhạt dần với bộ nhớ phôi pha cho cây đa bến cũ, cây
nêu ngày Tết thời xa xưa hiện về:
“Ảnh bất tại ngoại, tâm tức kỳ nguyên:”
Ảnh không lơ lửng ở ngoài,
Tâm là nguồn cội quan hoài bóng xưa.
Hơn nửa đời người xa quê hương, quăng đường ấy đủ dài để những h́nh ảnh bên
ngoài dần mờ đi, nhưng cũng đủ sâu để những ǵ thuộc về tâm lại hiện rơ hơn.
Trong hành trang của người Phật tử sống xa quê, có những thứ không thể mang theo
bằng vali, nhưng vẫn theo ḿnh rất bền. Cây nêu là một trong số đó. Mùa Tết ở xứ
người, ngoài một số chùa viện Phật giáo và các trụ sở hội đoàn người Việt c̣n có
nơi dựng nêu như một biểu tượng truyền thống văn hóa, nhà tư nhân không ai dựng
cây nêu trước sân. Nhưng lạ thay, mỗi khi năm cũ sắp khép lại, trong tôi lại
hiện lên rất rơ h́nh ảnh một cây tre thẳng, mảnh, đứng lặng lẽ giữa trời đất.
Cây nêu trong kư ức tuổi nhỏ là dấu hiệu của Tết. Cây nêu trong tâm ảnh của tuổi
già lại là dấu hiệu của sự dừng lại. Tôi không c̣n nghĩ cây nêu là để xua đuổi
điều ǵ bên ngoài.
Sống đủ lâu, đi đủ xa, người ta hiểu rằng những thứ cần xua đuổi nhất không nằm
ngoài cổng, mà nằm rất sâu trong chính ḿnh: ḷng tham, nỗi giận và thói quen
bảo thủ là sự bám chấp một đời dễ đâu buông xả. Nhưng cây nêu, khi đi vào Phật
giáo và đi sâu vào tâm thức, trở thành một lời nhắc cần buông bỏ sự cố chấp,
thay đổi thói quen và làm dịu nhiễu động của năm cũ.
Bởi vậy, cây nêu dân gian đă gần gũi và mọc lên ở cửa thiền không chỉ tại Việt
Nam mà khắp nơi có “mái chùa che chở hồn dân tộc” của chùa Việt, xứ người. Cây
nêu Tết trong sân chùa qua tầm nh́n đại chúng là một pháp khí văn hóa thiền môn.
Trong chốn chùa chiền Huế, cây nêu không hiện diện để khuấy động niềm tin, mà để
gợi mở sự lắng nghe. Tiếng phong linh theo gió không nhằm đánh thức thực dụng,
cũng chẳng mượn phô trương huyễn hoặc. Nó đứng đó, an nhiên tùy duyên với sương
gió, vươn cao trong tĩnh lặng, như một cột mốc của tâm theo phong cách người Huế
sống đạo: không cực đoan, không ồn ào, không cần chứng tỏ. Cây nêu dạy tôi một
bài học rất Huế rằng, đứng vững bằng chính xương sống và thần thái của bản thân
và phẩm chất cần thiết của ḿnh: cao không để mà ngự trị, thanh không phải lụy
vào h́nh tướng, dễ tiếp cận không phải tuân phục dễ dàng, nhận lời phó thác mà
không cần làm trung tâm.
Sống xa quê hơn nửa đời, tôi không c̣n t́m cách tái hiện Tết Việt cho đủ h́nh
thức. Thay vào đó, tôi dựng cây nêu trong tâm. Mỗi độ Xuân về, tôi tự hỏi: trong
năm qua, ḿnh đă để bao nhiêu thứ không cần thiết treo lủng lẳng trong ḷng? Bao
nhiêu lời nói thừa? Bao nhiêu lo lắng quá mức? Bao nhiêu chấp trước không chịu
buông? Trả lời được những câu hỏi ấy, với tôi, đă là một nghi lễ nghinh Xuân.
Cây nêu tâm ảnh không cần treo nhiều đồ phụ dụng.
Chỉ cần một tiếng chuông rất khẽ đủ để nhắc ḿnh dừng lại: Dừng một chút trước
khi nói để tập thói cẩn trọng. Dừng một chút trước khi phán xét để tránh nỗi oan
khiên. Dừng một chút trước khi chạy để ngăn bớt tốc độ đời sống cuốn đi quá
nhanh.
Là một Phật tử, tôi hiểu rằng, đạo không nằm ở việc ḿnh đang ở đâu, mà ở cách
ḿnh đang sống. Cây nêu không cần phải được dựng lên trước mắt người khác. Nó
chỉ cần được dựng đúng chỗ trong ḷng ḿnh. Khi cây nêu đă đứng vững trong tâm,
th́ dù ở đâu, Xuân cũng là Mùa Xuân Di Lặc.
Hơn nửa đời xa quê, tôi không c̣n nôn nao t́m lại h́nh ảnh cũ. Tôi chỉ mong giữ
được tinh thần cũ: biết dựng lên một cột mốc lặng lẽ mỗi độ Năm Mới, để tự nhắc
ḿnh sống chậm hơn, nhẹ hơn và bớt làm khổ ḿnh cũng như làm khổ người khác.
Và như thế, dù không c̣n sân nhà để dựng nêu, tôi vẫn biết:
Xuân đă về – khi ḷng biết dừng.
Tay buông tâm xả nhẹ vô ngần.
Cây nêu tâm ảnh không sân trước,
Vẫn chiếu trong ngời một ánh xuân.
Sacramento, cuối đông 2026
Trần Kiêm Đoàn
art2all.net
|